Đặt vấn đề Chăn nuôi gà là nghề sản xuất truyền thống lâu đời và chiếm vị trí quan trọng thứ hai sau chăn nuôi lợn trong ngành chăn nuôi của Việt Nam, hằng năm cung cấp khoảng 350 - 450 nghìn tấn thịt và hơn 2,5 - 3,5 tỷ quả trứng. Tuy nhiên, chăn nuôi gà ở nuớc ta vẫn còn trong tình trạng sản xuất nhỏ, phân tán, năng suất thấp, dịch bệnh nhiều, sản phẩm hàng hoá còn nhỏ. Bình quân sản lượng thịt xẻ, trứng chỉ đạt 4,5 - 5,4 kg/nguời/năm và 35 trứng/ nguời/ năm. Trong vài thập kỷ qua, mặc dù công tác chọn giống đã cải thiện một cách đáng kể thành tích sản xuất chăn nuôi gà như tăng trưởng nhanh, hiệu quả sử dụng thức ăn cao, khả năng sản xuất thịt tốt, tỷ lệ thịt ngực cao hơn nhưng sự tăng nhanh về năng suất sản xuất đã đi cùng với việc tăng dịch bệnh, dẫn đến gà bị mắc nhiều bệnh về rối loạn chuyển hóa và mắc nhiều bệnh truyền nhiễm, tỷ lệ chết cao.
Trong đó có thể kể đến bệnh Gumboro do một lọai virus thuộc họ Birnaviridae, serotype 1, chúng có khả năng phá huỷ túi Fabracius, do đó làm giảm khả năng miễn dịch của gà. Nhiều báo cáo khoa học đã cho biết gà ở giai đọan từ 1 - 12 tuần tuổi, nhất là ở giai đọan 3 - 6 tuần tuổi đều có khả năng mắc bệnh. Gà nhỏ hơn 3 tuần tuổi mắc bệnh không biểu hiện triệu chứng nhưng sẽ làm gà suy giảm miễn dịch. Tỷ lệ mắc bệnh là 100%, tỷ lệ chết từ 10 – 50% hoặc cao hơn nếu kết hợp với các bệnh khác.
Do tính chất gây bệnh đặc trưng của virus là lây lan rất nhanh và không thể kiểm soát bằng hóa chất hay bất kỳ phương thuốc nào mà chỉ có thể khắc phục bằng biện pháp phòng trừ. Vì vậy thiệt hại do bệnh Gumboro gây ra là 2 rất đáng kể đối với chăn nuôi gà của các nước lớn trên thế giới nói chung và của Việt Nam nói riêng. Cùng với sự phát triền vượt bậc của công nghệ sinh học, các kỹ thuật phân tử trong chẩn đoán bệnh ngày nay có thể giúp ta chẩn đoán nhanh, sớm một cách chính xác nhiều bệnh do virus. Khởi phát từ các vấn đề nêu trên, được sự nhất trí của Ban giám hiệu nhà trường, Ban chủ nhiệm khoa Chăn nuôi Thú y - Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên, em đã thực hiện đề tài “Nghiên cứu thử nghiệm KIT chẩn đoán bệnh Gumboro trên đàn gà nuôi tại Thái Nguyên” 1.
Mục tiêu của đề tài Nghiên cứu thành công KIT chẩn đoán nhanh bệnh Gumboro và đánh giá kết quả thông qua thử nghiệm với quy mô trong phòng thí nghiệm. Ý nghĩa của đề tài 1. Ý nghĩa khoa học Kết quả của đề tài cung cấp những thông tin khoa học về điều kiện sản xuất KIT và các thông số kỹ thuật ứng dụng để sản xuất KIT chẩn đoán bệnh Gumboro. Ý nghĩa trong thực tiễn Tạo được KIT chẩn đoán nhanh bệnh Gumboro ứng dụng trong thực tế góp phần chẩn đoán sớm và điều trị kịp thời, giảm thiệt hại tới mức tối đa cho người chăn nuôi.
3 Phần 2 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 2. Cơ sở khoa học 2. Tổng quan về bệnh Gumboro Bệnh Gumboro là một bệnh truyền nhiễm cấp tính ở gà, nhưng chủ yếu là gà từ 3 - 6 tuần tuổi và gà tây (Hitchner, S. Bệnh do một loại virus tác động vào túi fabricius gây suy giảm miễn dịch ở gà, khiến cho gà dễ bị mắc các chứng như viêm da hoại tử, hội chứng thiếu máu - viêm gan thể bao hàm, bệnh do E.
coli và khả năng sản sinh đáp ứng miễn dịch kém sau khi sử dụng các loại vắc xin. Phân loại Theo Dobos, P (1979) [13], virus Gumboro thuộc họ Birnaviridae. Họ này gồm có 3 giống: giống Apubirnavirus gây bệnh hoại tử tuyến tụy cho cá, loài giáp xác; trong đó có IBDV gây bệnh cho gà; giống Entomobirnairus, trong đó có virus Drosophia X gây bệnh cho côn trùng (Mac Donald, R. Các virus thuộc họ này đều đặc trưng bởi cấu tạo nhân gồm 2 đoạn ARN sợi đôi vì vậy tên gọi của họ virus là Birnavirus (Bottcher, B.
Trước đây, do hình thái và cấu trúc của virus chưa được nghiên cứu đầy đủ nên IBDV đã từng được xếp vào họ Picornaviridae hoặc Reoviridae. Đặc điểm hình thái, cấu trúc của virus Gumboro Virus Gumboro hay còn gọi là virus gây viêm túi truyền nhiễm (Infectious bursal disease virus - IBDV). Virus Gumboro là một lọai virus dạng trần, không có vỏ bọc bên ngoài, kích thước khoảng 50 – 60 nm có hình khối đa diện, nhiều góc cạnh trông giống như tổ ong xếp đều đặn cạnh nhau, gồm 2 chuỗi RNA quấn chéo nhau, vỏ capsid bao bọc bên ngoài vỏ này chứa thành phần kháng nguyên của virus không có vỏ bọc bên ngoài nên nó đề kháng với việc sát trùng (Delmas, B và cs, 2004) [12]. Gelderblom, 1985) [34] cấu trúc virus đơn giản nhưng hoàn thiện vì thế nó có khả năng chống chịu lại sự tác động bất lợi của môi trường.
Mặt khác do kích thước nhỏ bé và cấu trúc linh hoạt (hệ gen rất đơn giản), virus thích ứng xâm nhập và truyền lây trong quần thể vật chủ một cách nhanh chóng và dễ dàng thoát khỏi miễn dịch tự nhiên của cơ thể.1: Hình thái của virus Gumboro Virus Gumboro có cấu tạo đối xứng, quanh nhân là vỏ capsid (vỏ protein). Lớp vỏ capsid này được hợp thành bởi 32 capsome (đơn vị hình thái). Capsid của virus là lớp vỏ protein đơn lớp. Virus không có vỏ bọc ngoài cùng mà thông thường lớp vỏ đó là lipoproterin nên nhạy cảm với formalin không nhạy cảm với ether và chloroform.
Mỗi capsome được tạo bởi 5 loại protein cấu trúc khác nhau: VP1, VP2, VP3, VP4 và VP5 (Viral Protein-VP). Về mặt di truyền học cách sắp xếp các nucleotid trong acid ribonucleic của virus Gumboro cuộn lại tạo thành sợi đôi và phân đoạn. Đây chính là tính đặc trưng của virus RNA, người ta xếp nó vào họ Birnaviridae là mới nhất trong hệ thống phân loại virus trong động vật và người Lukert, P.2: Cấu trúc phân tử virus Gumboro 5 Dobos, P. và cs (1979) [14] virus Gumboro có hệ gen chứa hai sợi RNA, đó là hai phân đoạn phân biệt gọi là phân đoạn A và B.
Phân đoạn A có độ dài 3261 nucleotid chứa hai khung đọc mở thành phần (overlapping open reading frame – ORF). ORF nhỏ sẽ mã hóa cho protein không cấu trúc VP5 không cần thiết cho quá trình sao chép virus invitro nhưng lại quan trọng đối với khả năng gây bệnh của virus (Hudson, P. ORF lớn mã hóa cho một polyprotein 110 kDa, tự xúc tác hình thành ba loại polypeptide: pVP2 (48 kDa), VP3 (32kDa), và VP4 (28 kDa) (Mundt, E. VP4, một loại enzyme protease phân cắt serine-lysine VP2 sẽ được tách thêm những RNA dư thừa tại những Carbon cuối cùng để trở thành VP2 (40kDa) VP2 và VP3 là những protein cấu trúc.
Trong đó, VP2 chứa những vị trí kháng nguyên quan trọng và hệ thống miễn dịch (Kibenge, F. Polypeptide này thực hiện dưới dạng virus nghỉ ở ngoài tế bào chủ (virion), mang bản chất của một protein tự do và của một protein liên kết genome (còn đươc gọi là VPg). VPg được cố định vào đuôi 5’ của sợi dương của hai mạch trong genome. VP1 có hoạt tính sinh học chịu trách nhiệm là enzyme RNA-polymerase (xúc tác quá trình tổng hợp RNA) của virus.3: Hệ gen của virus Gumboro 6 Theo Pan, J.
Loại này khi kết hợp với kháng thể đặc hiệu tạo nên phản ứng kết tủa, vì thế có thể làm phản ứng kết tủa khuyếch tán trong thạch (AGP) dùng để phát hiện cả kháng nguyên và kháng thể. + Loại thứ hai có tính kháng nguyên kích thích cơ thể sản sinh kháng thể trung hòa (Neutralizating antibody) được gọi là kháng nguyên đặc hiệu typ, ký hiệu Ts (Type-Secific) (thực chất của kháng nguyên này là vỏ VP2). Loại kháng nguyên này khi kết hợp với kháng thể đặc hiệu sẽ tạo nên phản ứng trung hòa virus VN. Phản ứng này vừa được dùng để định tính vừa được dùng để định lượng kháng thể đặc hiệu trong chẩn đoán và kiểm tra miễn dịch của bệnh Gumboro.
Hai loại protein Gs và Ts đan chéo vào nhau tạo nên các lớp vỏ protein bọc lấy nhân virus, trong đó Ts có xu hướng nổi lên trên bề mặt hơn, các lớp protein nối nhau, các gai, móc, các receptor thụ thể nằm ngoài cùng của bề mặt virus hay các epitop liên tục hơn. Còn Gs protein thường nằm sâu hơn xen kẽ vào các protein cấu trúc khác, gắn chặt với lớp protein liên kết với acid nucleic của nhân virus, các epitop gián đoạn. Ts protein là một phức hợp protein kết hợp trong đó có protein quyết định tính gây bệnh của virus. Ts kháng nguyên có vai trò lớn trong miễn dịch học và và quyết định tính đặc hiệu theo typ huyết thanh học, có thể giám định, phân biệt virus thuộc các họ, nhóm và typ khác nhau, thậm chí trong cùng một phân typ huyết thanh.
Gs kháng nguyên trong quá trình tạo nguyên liệu thực hiện quá trình nhân lên và gây bệnh, chúng được sản xuất rất nhiều và giải phóng ra khỏi tế bào. Gs protein quyết định tính đặc hiệu trong cùng một huyết thanh học. Trong quá trình nhân lên của virus, cả hai kháng nguyên Gs và Ts đều được sản xuất như nhau, khi có đáp ứng miễn dịch kháng thể do chúng kích 7 thích sản sinh ra cũng có quan hệ tỷ lệ thuận với nhau. Kháng thể kết tủa có sớm hơn kháng thể trung hòa.
Tính chất nuôi cấy Theo Benton, W. Virus gây chết phôi sau 3 – 5 ngày. Bệnh tích đặc trưng: màng nhung niệu xung huyết, sưng dầy lền, phôi còi cọc, xuất huyết dưới da, gan xuất huyết và hoại tử, lách nhạt màu và có các điểm hoại tử., và cs (1967) [24] cho biết nuôi cấy trên môi trường tế bào phôi gà, gà tây, vịt, thận thỏ, thận khỉ nhưng virus không thích ứng ngay trong lần nuôi cấy đầu tiên và phải qua vài lần cấy chuyển mù (blind passage) các chủng phân lập từ gà: 2 – 3 lần; các chủng phân lập từ gà tây: 3 – 10 lần. Nếu cấy chuyển tiếp đời nhiều lần trên môi trường tế bào tổ chức thì độc lực của virus giảm dần, có thể sử dụng làm vắc xin (McFerran và cs, 1980) [30].
Nuôi cấy trên động vật sống: gà 3 – 6 tuẩn tuổi, bằng cách nhỏ mắt, nhỏ mũi hoặc nhỏ vào hậu môn. Sau 2 – 3 ngày gà có các triệu chứng, bệnh tích như ngoài tự nhiên. Sức đề kháng Theo Lukert, P. Saif (1997) [26] cho biết virus Gumboro có sức đề kháng cao với điều kiện tự nhiên và các yếu tố lý hóa học.