Đặt vấn đề Những năm gần đây ngành chăn nuôi nước ta có những bước phát triển vượt bậc về số lượng cũng như chất lượng đã góp phần tạo việc làm, nâng cao đời sống nhân dân, tuy nhiên cũng đặt ra nhiều vấn đề cần giải quyết như: kỹ thuật chăm sóc nuôi dưỡng gà thả vườn, giống, thức ăn và đặc biệt là dịch bệnh… Do tốc độ phát triển chăn nuôi ngày càng tăng, số lượng gia cầm ngày càng nhiều, mật độ chăn nuôi ngày càng lớn nên môi trường ngày càng ô nhiễm, làm cho nhiều dịch bệnh mới xuất hiện. Trong đó, bệnh Histomonosis là một bệnh ký sinh trùng truyền nhiễm nguy hiểm ở gà và gà Tây do loài đơn bào Histomonas meleagridis gây ra đã và đang trở nên mối lo ngại thường trực cho người chăn nuôi. Bệnh có những bệnh tích đặc trưng: viêm hoại tử mủ ở manh tràng và gan, thể trạng xấu, da vùng đầu, tích thâm đen có thể gây chết đến 80% số gà mắc bệnh nếu không được điều trị kịp thời, ngoài ra còn tạo kén ở manh tràng và có tính lây lan nhanh. Vì vậy, việc hiểu biết bệnh do Histomonas gây ra để có biện pháp phòng chống bệnh có hiệu quả là rất cấp thiết.
Huyện Phú Bình - tỉnh Thái Nguyên là một trong những địa phương có số lượng gà nuôi thả vườn khá lớn trong tỉnh, nhằm cung cấp lượng thực phẩm lớn cho người dân trong địa bàn và góp phần cải thiện kinh tế cho người chăn nuôi. Tuy nhiên, các hộ chăn nuôi vẫn còn gặp phải một số khó khăn trong quá trình phòng trừ dịch bệnh cho gà. Xuất phát từ thực tế đó chúng em tiến hành thực hiện đề tài: “Áp dụng quy trình phòng và trị bệnh đầu đen do Histomonas meleagridis trên gà thả vườn nuôi tại huyện Phú Bình - tỉnhThái Nguyên’’. Mục đích của nghiên cứu - Áp dụng quy trình phòng và trị bệnh đầu đen do Histomonas meleagridis gây ra.
- Xác định tỷ lệ gà mắc bệnh và chết do bệnh đầu đen Histomonas meleagridis. - Xác định được triệu chứng, bệnh tích của gà mắc bệnh. - Đề xuất biện pháp phòng, trị bệnh đầu đen cho gà. Ý nghĩa của đề tài 1.
Ý nghĩa khoa học - Cung cấp thông tin cần thiết về bệnh do Histomonas gây ra ở gà nuôi thả vườn tại Phú Bình - Thái Nguyên. - Kết quả của đề tài là những cơ sở khoa học về tỷ lệ mắc, tỷ lệ chết và đặc điểm, lâm sàng, bệnh tích bệnh do Histomonas gây ra. Ý nghĩa thực tiễn - Kết quả nghiên cứu sẽ giúp các nhà quản lý và chăn nuôi hiểu thêm về nguyên nhân gây bệnh, đặc điểm dịch tễ, lâm sàng, bệnh lý của bệnh trong quá trình phát bệnh, mức độ thiệt hại kinh tế do bệnh gây ra. Từ đó, áp dụng quy trình phòng, trị bệnh cho gà, góp phần nâng cao năng suất chăn nuôi, thúc đẩy chăn nuôi gà phát triển, ổn định kinh tế nông hộ (nông trại, trang trại).
c 3 PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2. Điều kiện của cơ sở 2. Điều kiện tự nhiên 2. Vị trí địa lý Phú Bình là một huyện trung du nằm ở phía Nam tỉnh Thái Nguyên.
Trung tâm của Phú Bình là thị trấn Hương Sơn cách trung tâm thành phố Thái Nguyên 23km về phía Nam. Tổng diện tích đất tự nhiên của Phú Bình là 249,36 km2.Vị trí địa lý của huyện: - Phía Bắc giáp huyện Đồng Hỷ - Phía Tây giáp thành phố Thái Nguyên - Phía Tây Nam giáp huyện Phổ Yên - Phía Đông giáp huyện Yên Thế, Tân Yên của tỉnh Bắc Giang - Phía Nam giáp huyện Hiệp Hòa của tỉnh Bắc Giang. Huyện có 21 đơn vị hành chính bao gồm 20 xã và 1 thị trấn. Trong đó có 7 xã miền núi (Tân Thành, Tân Đức, Tân Hòa, Tân Kim, Tân Khánh, Đồng Liên, Bàn Đạt), 13 xã trung du (Thượng Đình, Điềm Thụy, Nhã Lộng, Nga My, Hà Châu, Úc Kỳ, Bảo Lý, Đào Xá, Xuân Phương, Kha Sơn, Lương Phú, Thanh Ninh, Dương Thành) và một thị trấn Hương Sơn.
Phú Bình nằm dọc 2 bên đường quốc lộ 37 với chiều dài 23km chạy qua trung tâm huyện, nối liền các tỉnh phía Bắc (Tuyên Quang, Bắc Kạn, Cao Bằng, Lạng Sơn) với các tỉnh phía Nam của huyện (Bắc Giang, Bắc Ninh). Khí hậu, thủy văn Theo sự phân bố về địa lý, Phú Bình có địa hình thấp dần theo hướng Đông Bắc - Tây Nam, nằm ở bắc chí tuyến trong vành đai Bắc bán cầu nên c 4 khí hậu của Phú Bình mang tính chất của khí hậu nhiệt đới gió mùa. Khí hậu chia làm 2 mùa rõ rệt, mùa nóng và mùa lạnh: Mùa nóng kéo dài từ tháng 5 đến tháng 10 hằng năm, thường mưa nhiều. Mùa lạnh kéo dài từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau, mùa lạnh mưa ít.
Nhiệt độ trung bình hàng năm từ 22 - 24oC, lượng mưa trung bình từ 2000 - 2400mm. Tháng mưa nhiều nhất là tháng 7 và ít nhất là tháng 11. Độ ẩm trung bình trong năm từ 82 - 84%. Nguồn nước của Phú Bình chủ yếu là do Sông Cầu và Hồ Núi Cốc cung cấp.
Huyện có 2 dòng sông và 3 dòng suối chảy qua. Sông Cầu chảy từ đập thác Huống (xã Đồng Liên) chảy qua 9 xã đổ về Chã (Phổ Yên) với chiều dài 29km. Sông Đào với chiều dài 33km bắt đầu từ đập thác Huống chảy qua địa phận 9 xã đổ ra sông Thương của Bắc Giang. Ba dòng suối chính đều bắt nguồn từ phía Đông Bắc của huyện chảy về hướng Tây đổ ra Sông Cầu.
Sông Cầu chạy dọc từ Bắc xuống Nam và 2 hệ thống Thủy nông kênh mương Hồ Núi Cốc, kênh mương Sông Cầu với 48 hồ và đập lớn nhỏ cùng với 34 Trạm bơm điện được xây dựng hợp lý trong toàn huyện có khả năng cung cấp nước tưới cho khoảng 80% diện tích đất Nông nghiệp, khả năng tự chảy là 55% diện tích ruộng. Hệ thống kênh mương đang được bê tông hóa để đảm bảo nước tưới cho sản xuất Nông nghiệp. Tính đến hết năm 2014 toàn huyện kiên cố hóa được 185,3 km kênh mương theo chính sách đối ứng của tỉnh (Nhà nước và nhân dân cùng làm). Tuy nguồn nước của huyện phong phú, nhiều suối và các kênh mương nhưng chưa phân bố đều, làm cho công tác thủy lợi gặp nhiều khó khăn, đặc biệt còn nhiều xã miền núi còn phụ thuộc vào lượng mưa tự nhiên, đẫn đến sản xuất Nông nghiệp gặp nhiều bất lợi.
Do vậy, lượng nước sạch cung cấp cho chăn nuôi cũng còn hạn chế và cũng là một trong nhiều yếu tố tạo điều kiện phát sinh và lây lan mầm bệnh. Giao thông, thủy lợi Phú Bình có mạng lưới giao thông tương đối phong phú. Quốc lộ 37 qua suốt chiều dài của huyện gần như chia đôi huyện thành 2 phần. Hệ thống giao thông đến các xã đã và đang được bê tông hóa và rải nhựa từng phần.
Các xã đều có giao thông liên xã thuận lợi cho việc trao đổi Thông tin văn hóa, Khoa học kĩ thuật và Nông sản nền kinh tế của huyện cũng tương đối phát triển. Về đường thủy, với chiều dài Sông Cầu là 29km và Sông Đào là 33km là một trong những thuận lợi cho giao thông đường thủy phát triển. Những năm gần đây công tác giao thông của huyện luôn được quan tâm chỉ đạo, thường xuyên đôn đốc các địa phương huy động nguồn lao động công ích để sửa chữa các tuyến đường cấp xã. Huyện cấp kinh phí sửa chữa các tuyến đường cấp huyện được phân cấp quản lý đồng thời tranh thủ sự giúp đỡ của các bộ ngành từ Trung ương đến Tỉnh đã thực hiện đầu tư xây dựng nhiều tuyến đường giao thông như: Đường Kha Sơn - Lương Phú; đường Cầu Mây - Tân Khánh.
Đặc biệt là công trình Cầu Mây qua Sông Cầu và nhiều dự án đường giao thông đang được chuẩn bị đầu tư. Dân cư Phú Bình là một huyện trung du với 21 đơn vị hành chính gồm 20 xã và 1 thị trấn. Tổng dân số của huyện là 147. Vài năm gần đây, tốc độ tăng dân số có giảm dần song do đất chật người đông mật độ dân số vẫn ở mức cao, khoảng 590 người/km2.539 lao động ở khu vực nông thôn, tỷ lệ sử dụng lao động tăng lên 95%.
Đây là nguồn nhân lực dồi dào để tăng cường phát triển kinh tế xã hội của huyện song đây cũng là một sức ép lớn về mặt tạo công ăn việc làm cũng như đào tạo kỹ năng cho người lao động nhất là lao động Nông thôn tiếp cận, hội nhập với khu vực và thế giới. c 6 Với hơn 90% dân số làm Nông nghiệp nên đời sống văn hóa kinh tế còn chậm phát triển. Các phương tiện thông tin đại chúng như tài liệu, sách báo, Khoa học kỹ thuật đến với người dân còn hạn chế nên việc thực hiện các mục tiêu kinh tế xã hội còn rất khó khăn. Theo Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội huyện Phú Bình đến năm 2020 với mục tiêu tổng quát là: Xây dựng huyện Phú Bình thành một huyện phát triển toàn diện cả về kinh tế, văn hóa và xã hội; Phát triển kinh tế mở, tạo đột phá về phát triển giao thông để thu hút đầu tư cho phát triển công nghiệp, nông nghiệp và dịch vụ; Phát triển kinh tế nhanh, vững chắc và sớm hình thành cơ cấu kinh tế công nghiệp - dịch vụ, nông nghiệp có cơ sở hạ tầng đồng bộ và phát triển; Văn hóa, giáo dục đào tạo và y tế tiên tiến; Phát huy và duy trì những bản sắc văn hóa, tinh thần của địa phương và xây dựng đời sống văn hóa tinh thần lành mạnh; Chất lượng cuộc sống của nhân dân không ngừng được cải thiện và nâng cao; Đảm bảo quốc phòng và an ninh.
Điều kiện vật chất, cơ sở hạ tầng nơi thực tập 2. Cơ sở vật chất Huyện Phú Bình là một huyện phát triển có đầy đủ các cơ sở vật chất để phát triển ngành chăn nuôi. Các trang trại chăn nuôi gia súc, gia cầm được các hộ gia đình đầu tư xây dựng rất chắc chắn và có quy mô. Được trang bị đầy đủ các thiết bị và hệ thống thức ăn, nước sạch để phục vụ cho đàn gia súc, gia cầm.
Vì huyện Phú Bình có ngành chăn nuôi gia cầm phát triển mạnh nên người dân ở huyện đầu tư rất nhiều vốn vào con gà thả vườn chăm sóc và nuôi dưỡng rất tốt. Từ đó cho ra những đàn gà khỏe mạnh, rất đẹp và chất lượng thương phẩm tốt. Ngoài ra, Trạm Chăn nuôi và Thú y huyện Phú Bình có kho lạnh bảo quản vaccine để chất lượng vaccine được đảm bảo phòng được bệnh cho đàn gia súc, gia cầm của người chăn nuôi.