Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Cơ sở khoa học của đề tài Bệnh đầu đen (Histomonosis) là một bệnh ký sinh trùng nguy hiểm ở gà và gà tây do một loại đơn bào có tên khoa học là Histomonas meleagridis (H. meleagridis) gây ra. meleagridis ký sinh chủ yếu trong manh tràng và nhu mô gan, gây viêm xuất huyết, hoại tử, tăng sinh ở manh tràng và gan, làm cho thể trạng của gà suy yếu, da vùng đầu và mào tích thâm đen nên từ bệnh có tên là bệnh đầu đen (Black head).
Cũng vì các biến đổi đặc trưng tập trung song hành ở gan và manh tràng, lây lan nhanh và gây chết gia cầm với tỷ lệ cao, nên bệnh còn có tên là bệnh viêm hoại tử ruột - gan truyền nhiễm (Infectious Enteroheatitis). Ở Việt Nam, do gà bệnh có các biến đổi đặc trưng, tạo kén ở manh tràng nên người chăn nuôi thường gọi là bệnh kén ruột. Đặc điểm của đơn bào H. meleagridis ký sinh ở gia cầm 1.
Vị trí của đơn bào H. meleagridis trong hệ thống phân loại động vật nguyên sinh Căn cứ vào kết quả phân tích trình tự gen, Cepicka và cs. (2010) [18] đã cho biết vị trí phân loại của H. meleagridis như sau: Bảng phân loại Giới: Protozoen Ngành: Parabasalia Lớp: Tritrichomonadea Bộ: Tritrichomonadida Họ: Dientamoebidae Giống: Histomonas Loài: Histomonas meleagridis n 4 1.
Hình thái học loài Histomonas meleagridis Histomonas meleagridis là một loài đơn bào đa hình thái; hình thái của chúng biến đổi tùy thuộc vào các giai đoạn phát triển và chủ yếu chúng tồn tại ở hai dạng chính là dạng hình cầu, hình trứng hay dạng gần tròn; bên trong có nhân dạng gần giống như những bọc nước; có từ 1 - 4 roi, kích thước biến đổi từ 5 - 20 µm, (Phạm Sĩ Lăng và Tô Long Thành, 2006 [6]). Cụ thể hình dạng của Histomonas meleagridis biến đổi theo các giai đoạn sau: Giai đoạn 1: Khi Histomonas meleagridis tồn tại ở dạng tiềm tàng, ít hoạt động, trong trứng của giun kim (Heterakis gallinarum) Histomonas meleagridis có hình cầu hoặc hình trứng. Giai đoạn 2: Khi Histomonas meleagridis xâm nhập vào cơ thể gà và chuyển sang giai đoạn xâm lấn tới các khu vực ngoại vi thì chúng bắt đầu chuyển dần từ dạng hình cầu sang dạng hình gần tròn, có kích thước 8 – 17 µm. Các đơn bào Histomonas meleagridis bắt đầu mọc thêm các roi hút ở đầu khi đó cơ thể của H.meliagridis chia làm hai phần: phần roi dài 6 – 11 µm và phần nhân tế bào gồm một nhân có đường kính 1,7 - 2,2 µm.
Nhờ có roi hút và nguồn dinh dưỡng dồi dào là máu gà nên số lượng Histomonas meleagridis được nhân lên nhanh chóng. Giai đoạn 3: Ở giai đoạn cuối, gà mắc bệnh mất nhiều máu nên số lượng hồng cầu giảm nghiêm trọng dẫn tới dinh dưỡng của đơn bào H. meliagridis bị thiếu, chúng phải tìm các vị trí ký sinh mới như khu vực phần đầu. Tại đây, chúng gây chết các tế bào xung quanh hoặc chúng sẽ tìm đến vật chủ ký sinh mới phù hợp có sẵn trong cơ thể gà là giun kim (Heterakis gallirum), đồng thời một số Histomonas meleagridis bị đào thải ra ngoài theo phân gà.
Vì vậy, để thích nghi với những điều kiện mới này bắt buộc các đơn bào Histomonas meleagridis phải chuyển sang hình thái mới, đó là chuyển từ dạng hoạt động sang dạng tồn tại tiềm ẩn và cụ thể là từ dạng hình gần tròn có roi sang dạng hình cầu hoặc hình trứng. Histomonas meleagridis có thể nuôi cấy nhân tạo trong các môi trường yếm khí. n 5 Nghiên cứu về cấu tạo của đơn bào Histomonas meleagridis, các nhà khoa học cho biết, theo thứ tự từ ngoài vào trong, cấu tạo của một đơn bào Histomonas meleagridis gồm 3 phần là màng, tế bào chất và nhân. Màng đơn bào Histomonas meleagridis là một màng đơn.
Tế bào chất của Histomonas meleagridis chứa ß - glycogen, ribosome và ARN, một số không bào và hạt nhân. Nhân hình trứng hoặc hình chữ U, màng nhân là một màng kép. Trong vùng lân cận của nhân có bộ máy Golgi. Histomonas meleagridis là sinh vật kỵ khí vì thiếu ty thể.
Lưới nội chất của đơn bào này đã bị thoái hóa. Phương thức truyền lây của Histomonas meleagridis Histomonas meleagridis sinh sản bằng hình thức phân đôi (trực phân), lây truyền bằng 2 con đường: lây truyền trực tiếp và lây truyền gián tiếp. * Lây truyền trực tiếp - Qua đường miệng Lund E. (1956) [45] đã gây bệnh bằng đường miệng đơn bào H.000/gà cho 109 gà ở 6 – 9 tuần tuổi.
Kết quả, 43/109 gà có bệnh tích của histomonosis ở manh tràng, 2/109 gà có bệnh tích ở gan và chỉ có 1/109 gà chết. (2004) [37], có thể gây nhiễm Histomonosis cho gà và gà tây qua đường miệng đơn bào H. meleagridis trong môi trường nuôi cấy, trong phân, manh tràng và gan của gà bệnh nhưng tỷ lệ nhiễm không cao. Nguyên nhân, do đơn bào H.
meleagridis không thích nghi với môi trường axit ở đường tiêu hóa trên của gia cầm. - Qua lỗ huyệt Mc Dougald L. (2005) [49] đã gây nhiễm cho gà 2 tuần tuổi bằng cách đưa vào lỗ huyệt mỗi gà đơn bào Histomonas meleagridis nuôi cấy với liều 200. Kết quả thấy, tất cả số gà gây nhiễm đều chết ở ngày 10 – 18 sau gây nhiễm.
Mổ khám gà chết thấy gan và manh tràng xuất hiện những tổn thương điển hình của Histomonosis. (2006) [34], bệnh đầu đen xảy ra dễ dàng khi lỗ huyệt của gà khỏe tiếp xúc với mầm bệnh. Ngay sau khi tiếp xúc, đơn bào H. meleagridis sẽ di chuyển ngược theo nhu động ruột vào ký sinh ở manh tràng.
Với đường truyền lây này, Histomonosis sẽ lây lan nhanh chóng từ gà khỏe sang gà bệnh. Như vậy, gà có thể nhiễm bệnh đầu đen khi tiếp xúc với mầm bệnh qua đường miệng và qua lỗ huyệt. Do ảnh hưởng của độ pH trong dạ dày gà là axit nên tỷ lệ nhiễm bệnh không cao khi gây nhiễm qua đường miệng. Bệnh đầu đen có thể xảy ra bất cứ khi nào lỗ huyệt của gà khỏe tiếp xúc với phân tươi mang mầm bệnh.
Ngay sau khi tiếp xúc với phân tươi của gà bệnh, Histomonas meleagridis sẽ di chuyển ngược theo nhu động ruột vào ký sinh ở manh tràng và gan. * Bệnh truyền gián tiếp qua giun kim + Giun kim và bệnh do giun kim gây ra ở gà - Đặc điểm hình thái, cấu tạo của giun kim (Heterakis spp.) Nguyễn Thị Kim Lan và cs. (1999) [3] cho biết: Bệnh do Heterakis spp. thường do hai loài H.
beramporia ký sinh ở manh tràng, có khi ở ruột non của gà, gà tây. Giun màu vàng nhạt, đầu có 3 môi (1 môi ở lưng và 2 môi ở bụng), túi miệng hình ống. Phần sau thực quản phình to thành hình cầu giống hình củ hành, chiều dài 0,27 - 0,33 mm, rộng 0,15 - 0,24 mm. - Heterakis gallinae: Giun đực: dài 5,841 - 11,145 mm, chỗ rộng nhất 0,271 - 0,398 mm.
Đuôi nhọn hình chiếc kim. Phía trước cách hậu môn 0,148 - 0,156 mm có một giác hút hơi tròn, đường kính 0,07 - 0,082 mm. Có gai chồi xếp thành từng đôi ở hai bên giác hút. Có 2 gai giao hợp, gai phải dài gấp 3 lần gai trái; phía cuối gai phải rất nhọn, dài khoảng 2 mm; gai trái to, dài 0,65 - 0,7 mm.
Lỗ bài tiết ở gần đầu về mặt bụng, cách đầu khoảng 0,254 mm. Giun cái: dài 7,982 - 11,439 mm, chỗ rộng nhất 0,27 - 0,453 mm, chiều dài thực quản bằng 1/9 cơ thể. Chỗ phình to của thực quản hình củ hành dài 0,273 - 0,332 mm, rộng 0,187 - 0,234 mm. Hậu môn ở gần đuôi, cách đuôi 0,9 - 1,24 mm.
n 7 Âm đạo uốn khúc cong, bắt đầu từ âm hộ rồi vòng về phía sau, sau đó chuyển về phía trước, cuối cùng lại vòng về phía sau. Lỗ bài tiết cách đầu 0,47 mm. Trứng hình bầu dục, có 2 lớp vỏ, một đầu trong suốt, tế bào trứng có hạt lấm tấm, màu xám, dài 0,05 - 0,07 mm, rộng 0,03 - 0,039 mm. - Heterakis beramporia: Rất giống H.
gallinae nhưng phân biệt ở gai giao hợp ngắn hơn, một gai dài 350μ, gai còn lại dài 300μ. Theo Nguyễn Thị Lê và cs. (1996) [7]: Con đực: dài 5,5 - 5,7 mm, chiều rộng 0,20 - 0,21 mm. Phần trước thực quản dài 0,04 mm, rộng 0,022 mm.
Phần sau thực quản dài 0,616 - 0,625 mm, rộng 0,11 - 0,12 mm. Lỗ bài tiết cách mút đầu 0,335 mm, vòng thần kinh cách mút đầu 0,285 mm. Đuôi nhọn, có các cánh bên. Lỗ huyệt cách mút đuôi 0,36 mm.
Giác sinh dục có cấu tạo cutin hình đĩa, nằm cách lỗ huyệt 0,055 mm. Có 13 đôi núm sinh dục, trong đó: 3 đôi trước huyệt, 6 đôi ngang huyệt và 4 đôi sau huyệt. Có 2 gai sinh dục dài 0,340 - 0,364 và 0,0227 - 0,2500 mm. Con cái: chiều dài cơ thể 7,6 - 7,64 mm, rộng 0,250 - 0,286 mm.
Chiều dài thực quản 0,74 - 0,77 mm, rộng 0,050 - 0,055 mm. Đuôi dài 0,14 mm. Lỗ sinh dục hơi lồi ra so với phần thân cách mút đầu 4 mm. Âm đạo ngay cạnh lỗ sinh dục tạo thành nút hướng về phía sau cơ thể.
Trứng có kích thước 0,062 x 0,034 - 0,039 mm. + Vòng đời của Heterakis gallinarum Nguyễn Xuân Bình và cs. (2002) [1] cho biết: Trứng H. gallinarum bài xuất cùng với phân ra ngoài, trứng phát triển đến giai đoạn cảm nhiễm ở môi trường bên ngoài trong thời gian 6 - 17 ngày, hoặc hơn nữa, tuỳ thuộc vào nhiệt độ và độ ẩm.
Sự phát triển của trứng H. gallinarum đến giai đoạn cảm nhiễm ở nhiệt độ 30 - 37oC trong vòng 6 - 7 ngày, ở nhiệt độ 20 - 27oC trong 10 - 15 ngày và 10 - 15oC là 72 ngày. Ấu trùng lột xác trong trứng một lần, sau đó trứng chứa ấu phát triển thành trứng có sức gây bệnh. Mùa đông trứng không phát triển nhưng vẫn duy trì khả năng sống.
Đến mùa xuân, thời tiết ấm áp, những trứng sống được qua mùa đông lại phát triển thành trứng cảm nhiễm và có thể là nguồn gây bệnh. Gà, gà tây mắc bệnh n 8 là do ăn phải trứng H. gallinarum có sức gây bệnh. Sau 1 - 2 giờ xâm nhập vào đường tiêu hoá, ấu trùng chui ra khỏi trứng xuống manh tràng.
Ở manh tràng, ấu trùng chui vào thành ruột, sau 5 - 7 ngày chúng lại trở lại xoang ruột. Thời gian phát triển của chúng đến giai đoạn trưởng thành trong cơ thể là 25 - 34 ngày, thời gian sống của giun không quá 1 năm. Phan Lục và cs. (2006) [8] cho biết, thời gian trứng phát triển đến giai đoạn gây nhiễm có thể kéo dài khoảng 1 tuần (mùa hè), mùa đông nhiệt độ thấp nên mất khoảng 2 - 4 tuần.