Đặt vấn đề Trong những năm gần đây, ngành chăn nuôi ở Việt Nam đã và đang phát triển mạnh, góp phần quan trọng vào sự phát triển kinh tế - xã hội ở các địa phương. Trong đó chăn nuôi gia đã cung cấp một lượng lớn thực phẩm (thịt, trứng) cho người tiêu dùng. Là một huyện miền núi của tỉnh Thái Nguyên, Phú Bình rất thích hợp phát triển mô hình chăn nuôi gà thả vườn với quy mô lớn tại các vườn cây ăn quả, đồi cây lâm nghiệp, đem lại hiệu quả kinh tế cao. Tuy nhiên, ngành chăn nuôi Phú Bình gặp không ít khó khăn, đặc biệt là vấn đề dịch bệnh địa hình, thời tiết, khí hậu và nóng ẩm tạo điều kiện cho các bệnh kí sinh trùng nói chung và bệnh giun kim ở gà nói riêng phát triển, kéo theo sự phát triển của bệnh do đơn bào Histomonas gây ra.
Bệnh đầu đen là một bệnh ký sinh trùng nguy hiểm ở gà và gà tây do đơn bào Histomonas meleagridis gây ra. Bệnh gây ra những biểu hiện bất thường ở da vùng đầu, ban đầu có màu xanh tím, sau đó nhanh chóng trở nên thâm đen, vì vậy bệnh còn có tên là bệnh đầu đen. Bệnh có những bệnh tích đặc trưng như: viêm hoại tử tạo mủ ở ruột thừa và gan, da vùng đầu và mào tích thâm đen, gà bệnh chết rải rác và thường chết về ban đêm, mức độ chết không ồ ạt nhưng hiện tượng chết kéo dài, gây cho người chăn nuôi cảm giác bệnh không nguy hiểm lắm. Thực chất cuối cùng gà chết có thể đến 85 - 95 %.
Xuất phát từ yêu cầu thực tế phòng chống dịch bệnh, nâng cao hiệu quả chăn nuôi và phát triển kinh tế của hộ nông dân, chúng tôi thực hiện đề tài: “Nghiên cứu đặc điểm dịch tễ bệnh đầu đen do Histomonas meleagridis gây ra trên gà nuôi tại huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên và sử dụng thuốc điều trị” 1. Mục tiêu của đề tài Nghiên cứu tình hình nhiễm đơn bào H. meleagridis ở gà nuôi tại 4 xã: Tân Kim, Tân Khánh, Tân Hòa, Xuân Phương, tỉnh Thái Nguyên. n 2 Nghiên cứu đặc điểm dịch tễ bệnh đầu đen ở gà và dùng thuốc điều trị bệnh.
Mục đích nghiên cứu Làm sáng tỏ đặc điểm dịch tễ bệnh đầu đen ở gà và thử nghiệm phác đồ điều trị bệnh đạt hiệu quả cao. Ý nghĩa khoa học của đề tài 1. Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu khoa học Kết quả đề tài là những thông tin khoa học về đặc điểm dịch tễ bệnh đầu đen ở gà và xác định được phác đồ điều trị bệnh đạt hiệu quả cao nhất. Ý nghĩa trong thực tiễn Kết quả của đề tài là cơ sở khoa học để người chăn nuôi hiểu rõ về căn bệnh, khuyến cáo người chăn nuôi áp dụng biện pháp phòng, trị bệnh đầu đen cho gà nhằm hạn chế tỷ lệ nhiễm và thiệt hại do bệnh đầu đen gây ra, góp phần nâng cao năng suất chăn nuôi, thúc đẩy chăn nuôi gà phát triển.
n 3 Phần 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2. Cơ sở khoa học Bệnh đầu đen (Histomonosis) là một bệnh ký sinh trùng nguy hiểm ở gà và gà tây. Bệnh do một loại đơn bào có tên khoa học là Histomonas meleagridis gây ra. meleagridis ký sinh chủ yếu trong lòng manh tràng và nhu mô gan, gây hoại tử, xuất huyết niêm mạc manh tràng, rối loạn chức năng gan và gây chết gia cầm với tỷ lệ cao, ảnh hưởng tới thu nhập của người chăn nuôi.
Đặc điểm của đơn bào H. Vị trí của đơn bào H. meleagridis trong hệ thống phân loại động vật nguyên sinh Trong mô tả đầu tiên của Smith T. meleagridis được biết đến là amip.
Căn cứ vào kết quả phân tích trình tự gen, Cepicka và cs. (2010) [13], đã cho biết vị trí phân loại của H. meleagridis như sau: Giới: Protozoen Ngành: Parabasalia Lớp: Tritrichomonadea Bộ: Tritrichomonadida Họ: Dientamoebidae Giống: Histomonas Loài: Histomonas meleagridis 2. Hình thái học loài H.
meleagridis Khi nghiên cứu về bệnh đầu đen, Smith T. (1895) [40] đã mổ khám 50 gà tây mắc bệnh đầu đen. Tác giả thấy rằng: ở gà mắc bệnh thì gan và manh tràng là 2 cơ quan bị tổn thương nặng nề nhất. Lấy chất chứa trong manh tràng gà bệnh soi tươi, tác giả đã tìm thấy tác nhân gây bệnh là một sinh vật đơn bào (Amoeba meleagridis) có hình tròn hoặc ovan, đường kính 8 - 14 µm.
Trong mô gan được cố định và n 4 nhuộm màu, đơn bào có dạng hình ovan, đường kính dao động từ 6 - 10 µm, ở giữa có nhiều cấu trúc nhỏ tập trung lại thành thể nhân. Sau đó tác nhân gây bệnh được đổi tên thành H. Tyzzer và Fabyan (1922) [43] đã báo cáo: khi quan sát dưới kính hiển vi, tác giả thấy H. meleagridis tồn tại lưỡng hình (dạng amip và có roi).
Trong mô (giai đoạn xâm lấn) nó có dạng amip, trong lòng manh tràng H. meleagridis ở dạng có roi. meleagridis ở dạng amip thường có đường kính 8 - 15 µm, trong khi ở hình dạng có roi đường kính có thể lên tới 30 µm. Tyzzer (1934) [46] đã nghiên cứu sự chuyển động của H.
meleagridis ở 42oC và mô tả, roi của đơn bào này nhịp nhàng rung động giúp nó có thể xoay ngược chiều kim đồng hồ. Lê Văn Năm (2010) [8] khi đề cập đến bệnh đầu đen ở Việt Nam đã báo cáo rằng, H. meleagridis là một loại đơn bào đa hình thái: hình trùng roi (4 roi), hình amip và hình lưới hợp bào, tùy thuộc vào giai đoạn phát triển để có hình dạng tương ứng phù hợp,… H. meleagridis với hình amip có kích thước 8 - 30 µm, với hình roi có kích thước từ 20 - 30 µm, bé nhất khi H.
meleagridis ở thể lưới: 5 - 10 µm, nhưng ở thể hợp bào (bao gồm nhiều H. meleagridis thể hình lưới) thì chúng có kích thước cực đại đến 60 - 80 µm. Trong các dạng hình thái thì hình roi là phổ biến nhất và dễ nhận biết nhất bởi chúng có 2 nhân (1 nhân to và 1 nhân nhỏ), từ nhân to mọc ra 4 roi, H. meleagridis vận động theo hai phương thức: xoắn hoặc theo kiểu làn sóng (impuls).
Các nhà khoa học cho biết, theo thứ tự từ ngoài vào trong, đơn bào H. meleagridis cấu tạo gồm 3 phần: màng, nguyên sinh chất và nhân. meleagridis là một màng đơn. Nguyên sinh chất của H.
meleagridis chứa ß-glycogen, Ribosome và ARN (Lee và cs. 1969), một số không bào và hạt nhân (Schuster, 1968). Nhân hình trứng hoặc hình chữ U, bao gồm một Nucleotid. Màng nhân là một màng kép (Schuster, 1968; Lee và cs.
Trong vùng lân cận của nhân có bộ máy Golgi (Schuster, 1968). meleagridis là sinh vật kỵ khí vì thiếu ty thể. Lưới nội chất đã bị thoái hóa 2. Phương thức truyền lây của Histomonas meleagridis H.
meleagridis sinh sản bằng hình thức phân đôi (trực phân), lây truyền bằng 2 con đường: truyền bệnh trực tiếp và truyền bệnh gián tiếp. a) Truyền bệnh trực tiếp Trong báo cáo ban đầu của Smith T. (1895) [40], sự lây truyền trực tiếp bệnh đầu đen đã được chứng minh qua thí nghiệm cho gà khỏe nuốt H. Theo đuổi quan điểm của Smith T., Moore (1986) cũng thí nghiệm cho gà tây khỏe ăn phân và các cơ quan bị tổn thương của gà bệnh, sau đó theo dõi và nhận thấy gà tây khỏe cũng bị nhiễm bệnh.Tuy nhiên, các tác giả đều kết luận, có thể gây nhiễm bệnh đầu đen ở gà và gà tây qua đường ăn, uống nhưng tỷ lệ nhiễm không cao.
Năm 1922, Tyzzer và Fabyan [43], đã lấy gan của gà bị bệnh nặng nghiền nhỏ cho gà và vịt 4, 6, 16, ngày tuổi ăn. Sau đó, Tyzzer và Collier (1925) [44] tiếp tục gây nhiễm bệnh đầu đen trên một số gà 5 ngày tuổi bằng cách cho ăn gan nhiễm bệnh. Sau hàng loạt thí nghiệm, Tyzzer (1926) [45], đã kết luận H. meleagridis có thể được truyền đến một mức độ nào đó trong tự nhiên bằng cách ăn, uống các cơ quan của gà bệnh có chứa mầm bệnh.
(2003) [34] đã làm thí nghiệm gây nhiễm bệnh cho gà 2 tuần tuổi. Tác giả tiến hành đưa vào lỗ huyệt mỗi gà đơn bào H. meleagridis nuôi cấy với liều 200. meleagridis trên con.
Kết quả, tất cả gà gây nhiễm đã chết ở ngày 10 - 18, tiến hành mổ khám gà chết thấy gan và manh tràng xuất hiện tổn thương điển hình của Histomonosis. (2004) [23] tiến hành gây nhiễm cho gà tây bằng hai đường, ăn uống và qua lỗ huyệt, kết quả như sau: gà gây nhiễm qua đường miệng và tử vong thấp hơn so với gà gây nhiễm qua lỗ huyệt. Cụ thể, gây nhiễm qua đường miệng tỷ lệ mắc bệnh là 20 %, tỷ lệ chết 2 %, trong khi gây nhiễm qua lỗ huyệt tỷ lệ mắc bệnh 65 %, tỷ lệ chết 45 %. n 6 Gần đây, Armstrong P.
(2011) [11] tiếp tục nghiên cứu sự truyền bệnh trực tiếp cho gà tây mà không cần sự có mặt của các vật chủ trung gian và điều tra khả năng lây nhiễm khi tiếp xúc. Ông đã tiến hành 3 lô thí nghiệm như sau: Lô 1: tiến hành nuôi nhốt chung với gia cầm đã mắc bệnh đầu đen. Lô 2 và 3: gây nhiễm trực tiếp bằng 2 đường, thông qua đường miệng (lô 2) và bơm trực tiếp vào lỗ huyệt (lô 3) (bằng cách tiêm hỗn hợp phân và manh tràng của gà bệnh có H. Theo dõi thí nghiệm: sau 14 ngày gây nhiễm, tác giả tiến hành mổ khám và thấy 31 gà trong số 44 gà ở lô 2 được bơm trực tiếp vào lỗ huyệt có bệnh tích điển hình ở cả gan và manh tràng, trong khi đó gà ở lô 3 không thấy có tổn thương khi gây nhiễm qua đường miệng.
Ở lô 1, khi cho nuôi nhốt chung với đàn gà mắc bệnh đầu đen trước đó, mổ khám thấy có 11 gà mắc bệnh và có bệnh tích điển hình ở gan và manh tràng trong số 36 gà thí nghiệm (chiếm 30,5 %). M (2013) [21], cho biết trong 10 năm qua, phương pháp gây nhiễm thông qua lỗ huyệt được tiến hành một cách phổ biến nhất và độ tin cậy cao. Các kết quả trên cho thấy: có thể gây nhiễm bệnh đầu đen cho gà khỏe bằng 2 đường, qua đường miệng và qua lỗ huyệt. Do ảnh hưởng của axit đường tiêu hóa nên tỷ lệ nhiễm bệnh không cao khi gây nhiễm qua đường miệng.
Bệnh đầu đen có thể xảy ra bất cứ khi nào lỗ huyệt của gà khỏe tiếp xúc với phân tươi bị nhiễm mầm bệnh. Ngay sau khi lỗ huyệt gà khỏe tiếp xúc với phân tươi của gà bệnh, H. meleagridis sẽ di chuyển ngược theo nhu động ruột vào ký sinh ở manh tràng.