Đặt vấn đề Chó là 1 trong những loài vật nuôi đầu tiên được con người thuần hóa cách đây 15 nghìn năm vào cuối Kỷ băng hà. Loài vật này được dùng để giữ nhà hoặc làm thú chơi. Hiện nay chó được nuôi khắp nơi trên thế giới, hầu như nơi nào con người sinh sống đều có loài chó sống bên cạnh. Chó là loại đặc biệt thông minh, có nhiều đặc tính tốt khiến con người yêu quý và coi trọng vì lòng trung thành của chúng.
Loài chó thường được nuôi để giữ nhà,chăn dắt gia súc, tuy nhiên những năm gần đây chó còn được nuôi để làm cảnh và làm kinh tế. Khác với trước kia chủ yếu là chó cỏ,thì gần đây do kinh tế ngày càng phát triển có nhiều loài chó nhập ngoại quý hiếm làm phong phú thêm về số lượng và chủng loại chó ở nước ta. Chó được nuôi khá phổ biến ở cả vùng quê và thành phố. Khi chó được nuôi nhiều thì vấn đề dịch bệnh xảy ra ở chó cũng ngày càng nhiều hơn.
Bên cạnh những bệnh truyền nhiễm nguy hiểm thường gặp ở chó như bệnh dại, bệnh Carê, bệnh do Parvovirus …bệnh do ký sinh trùng cũng gây nhiều thiệt hại cho chó, trong đó có bệnh do giun tròn Spirocerca lupi (S. lupi) gây ra. Giun tròn ký sinh lấy chất dinh dưỡng hoặc hút máu làm chó gầy yếu, rối loạn tiêu hóa, giảm sức đề kháng, từ đó các vi khuẩn đường ruột có cơ hội trỗi dậy, gây hội chứng tiêu chảy nặng hơn và làm chết chó nếu không được điều trị kịp thời (Vương Đức Chất và Lê Thị Tài (2009) [1]) Khi mắc bệnh do giun thực quản S. lupi gây ra, chó có triệu chứng rất khác nhau, phụ thuộc vào nơi cư trú của khối u.
Đôi khi chó mắc bệnh có triệu chứng giả dại do độc tố của giun S. lupi thấm vào máu, chó chảy nhiều nước dãi, nôn mửa, rối loạn phản xạ nuốt thức ăn, ho mạnh. Nếu khối u to có mủ có thể vỡ, mủ và giun vào xoang ngực hoặc xoang bụng dẫn đến viêm màng phổi Luan van 2 hoặc viêm màng bụng cấp. Khối u trong động mạch làm vỡ động mạch và làm con vật chết ngay (Phạm Sỹ Lăng và Phan Địch Lân, (2001) [14]) Bệnh giun thực quản ở chó xảy ra do chó bị nhiễm giun tròn Spirocerca lupi (S.
Chó bệnh có các biểu hiện nôn mửa, không ăn, gầy, khó nuốt, ợ hơi. Nếu giun ký sinh ở động mạch chủ, chó có biểu hiện khó thở, ngạt hơi, hôn mê và xuất huyết nội tạng. Nếu giun ký sinh ở phổi thì chó ho, khó thở, nôn mửa, đôi khi có triệu chứng thần kinh. Cho đến nay, đã có một số tác giả đề cập đến đặc điểm dịch tễ bệnh giun thực quản ở chó như Dương Đức Hiếu và cs.
(2014) [5], Nguyễn Thị Lê và cs. Việc nghiên cứu về tình hình nhiễm giun thực quản đường tiêu hóa, đặc biệt là đặc điểm dịch tễ bệnh do giun thực quản S. lupi gây ra ở chó ở các nơi khác đã có nhưng nghiên cứu tại thị xã Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên hiện vẫn chưa được thực hiện. Ở thị xã Phổ Yên thì đa số hộ gia đình vẫn chỉ nuôi chó theo phương thức thả rông, hoặc là vừa thả vừa nhốt, việc nuôi nhốt và vệ sinh sạch sẽ nơi ở có rất ít hộ dân thực hiện, cho nên nguy cơ nhiễm bệnh rất cao, việc phòng chống dịch bệnh do giun thực quản S.
lupi ở chó còn ít, do đó nên chưa chưa có quy trình phòng trị hiệu quả. Xuất phát từ những luận giải trên, chúng tôi thực hiện đề tài: “Nghiên cứu một số đặc điểm dịch tễ bệnh giun thực quản ở chó tại thị xã Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên và sử dụng thuốc điều trị ” 1. Mục tiêu nghiên cứu Đánh giá tình hình nhiễm bệnh giun thực quản do Spirocerca lupi gây ra ở chó tại thị xã Phổ Yên và hiệu quả sử dụng thuốc điều trị. Ý nghĩa của đề tài 1.
Ý nghĩa khoa học Đề tài cung cấp những thông tin khoa học về một số đặc điểm dịch tễ bệnh giun thực quản do Spirocerca lupi gây ra trên chó tại thị xã Phổ Yên; từ Luan van 3 đó có cơ sở khoa học xây dựng biện pháp phòng chống bệnh giun thực quản cho chó có hiệu quả cao. Ý nghĩa trong thực tiễn Kết quả của đề tài là cơ sở khuyến cáo người chăn nuôi áp dụng các biện pháp phòng trị bệnh giun thực quản, nhằm hạn chế tỷ lệ nhiễm và thiệt hại do giun Spirocerca lupi gây ra ở chó tại thị xã Phổ Yên. Luan van 4 Phần 2 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 2. Cơ sở khoa học 2.1 Nguyên nhân gây bệnh Bệnh giun thực quản ở chó do loài giun tròn S.
lupi gây nên. lupi có màu đỏ, sống trong thực quản và dạ dày chó, tạo thành các khối u và gây bệnh cho vật chủ. lupi được chó bài tiết ra ngoài cùng với phân. Bọ hung nuốt phải trứng, trứng nở thành ấu trùng, ấu trùng lột xác thành ấu trùng có sức gây bệnh.
Khi chó ăn phải bọ hung mang ấu trùng có sức gây bệnh thì chó bị mắc bệnh giun thực quản. Đặc điểm sinh học của giun tròn Spirocerca lupi ký sinh ở chó 2. Vị trí của Spirocerca lupi ký sinh trong hệ thống phân loại động vật học Trong khu hệ giun trong đường tiêu hoá của chó, theo Phạm Sỹ Lăng và cs. (1993) [11]vị trí của loài giun tròn Spirocerca lupi trong hệ thống phân loại động vật như sau: Ngành Nematoda Potts, 1932 Lớp Chromadorca Inglis, 1983 Phân lớp Chromadoria Pearse, 1942 Bộ Rhabditida chitwood, 1933 Phân bộ Spirurina Railliet and Henry, 1915 Liên họ Spiruroidea Railliet et Henry, 1915 Họ Spirocercidae Chitwood and Wehr, 1932 Giống Spirocerca Railliet et Henry, 1911 Loài Spirocerca lupi Rudolphi, 1809 2.
Đặc điểm hình thái, cấu tạo của giun thực quản Spirocerca lupi Các tác giả Phạm Văn Khuê và Phan Lục (1996) [7], Brodey R. (1977) [26], Phạm Sỹ Lăng và cs. (2009) [12], cho biết: Spirocerca lupi (S. lupi) có màu đỏ, miệng nhỏ hình 6 cạnh.
Thực quản kép, phần trước được Luan van 5 cấu tạo bằng tổ chức cơ, phần này dài. Phần sau được cấu tạo bằng tổ chức tuyến, phần này ngắn hơn. + Giun đực dài 30 - 54 mm, chiều ngang rộng nhất 0,76 - 0,92 mm. Phần thực quản cơ dài 0,52 - 0,66 mm, chỗ rộng nhất 0,12 - 0,16 mm, phần tuyến dài 4,24 - 8,61 mm, chỗ rộng nhất 0,26 - 0,41 mm.
Đuôi dài 0,36 - 0,47 mm. Mút đuôi có cánh bên, có 4 đôi núm trước huyệt và 2 đôi núm sau huyệt, có hình que; ngoài ra còn 1 núm đơn ở trước lỗ huyệt và 5 núm nhỏ khác ở gần mút đuôi. Giun đực có hai gai giao hợp không bằng nhau: gai phải ngắn và mập hơn, dài 0,61 - 0,76 mm, gốc gai hơi phình rộng, mút gai tù. Gai trái mảnh, dài 2,45 - 4,91 mm, gốc gai hơi phình rộng, mút gai nhọn; Gai điều chỉnh hình móc, cong, dài 0,12 - 0,13 mm, chỗ rộng nhất 0,08 - 0,9 mm.
+ Giun cái dài 54 - 80 mm, chiều ngang rộng nhất 0,96 - 1,16 mm. Phần thực quản cơ dài 0,60 - 0,67 mm, chiều ngang rộng nhất 0,11 - 0,14 mm, phần thực quản tuyến dài 6,63 - 6,78 mm, chiều ngang rộng nhất 0,38 - 0,43 mm. Đuôi ngắn, dài 0,17 - 0,2 mm. Giun cái có lỗ sinh dục cái nằm phía trước thân, gần cuối thực quản.
Hai đầu cơ thể giun hơi thót lại, toàn thân có màu đỏ máu. Trứng rất nhỏ, vỏ mỏng, hình bầu dục, hai cạnh bên gần như song song với nhau, kích thước 0,035 - 0,039 x 0,014 - 0,023 mm, bên trong có chứa ấu trùng. Giun tròn Spirocerca lupi Rudolphi, 1809 1. Miệng; Luan van 6 Hình 2.
Giun Spirocerca lupi Hình 2. Trứng Giun Spirocerca lupi 2. Chu kỳ sinh học của giun thực quản Spirocerca lupi Loài giun thực S. lupi ký sinh ở đường tiêu hóa của chó, phát triển gián tiếp.
Chó là vật chủ cuối cùng của giun, giúp giun hoàn thành vòng đời và ký sinh ở giai đoạn thành thục. Theo Vương Đức Chất và Lê Thị Tài (2009) [1], Brown G. (2014) [27], vòng đời của giun thực quản Spirocerca lupi diễn ra như sau: Ký chủ cuối cùng của loài S. lupi là chó nhà, chó sói, cáo; ký chủ trung gian là côn trùng cánh cứng ăn phân súc vật, thuộc các giống Scarabeus, Geotrupes và Copris; một số loài chim, chuột và bò sát đóng vai trò là ký chủ dự trữ.
Giun trưởng thành ký sinh ở dạ dày, thực quản, thành động mạch chủ, tổ chức lâm ba, xoang ngực và phổi của ký chủ cuối cùng. Giun trưởng thành ký sinh trong các u, kén ở dạ dày và thực quản, đẻ trứng, bên trong trứng có ấu trùng, trứng theo các lỗ dò ở kén vào xoang thực quản hoặc dạ dày, theo phân ra môi trường bên ngoài, được các ký chủ trung gian là bọ hung ăn phân như Scarabaeus sacer, Capris lunaris. Ở đường tiêu hóa của các ký chủ trung gian, ấu trùng thoát ra khỏi trứng, vào xoang đại thể. Ở đó, chúng lột xác hai lần và trở thành ấu trùng có sức gây bệnh.
Luan van 7 Ngoài ra, nếu ký chủ dự trữ như chim, chuột, ếch, nhái… nuốt phải bọ hung thì ấu trùng này chui vào thành thực quản, dạ dày của các loài này và đóng kén ở đó. Khi chó, cáo ăn phải các phủ tạng của ký chủ dự trữ chứa ấu trùng có sức gây bệnh thì sẽ bị nhiễm S. lupi như khi ăn phải bọ hung mang ấu trùng. Nếu chó, cáo ăn phải bọ cánh cứng hoặc các ký chủ dự trữ có ấu trùng, vào dạ dày, ấu trùng xuyên qua thành dạ dày, di hành trong hệ tuần hoàn, đến động mạch chủ, ở đó khoảng 3 tháng.
Sau quá trình lột xác lần cuối, các ấu trùng này di chuyển đến được dưới niêm mạc thực quản đến được lớp dưới niêm mạc thực quản, chúng ký sinh tại đây, tạo nên các khối u thực quản hoặc dạ dày rồi theo phân ra ngoài. Bọ cánh cứng là vật chủ trung gian chính của giun tròn S. Thời gian hoàn thành vòng đời của giun S. lupi là 5 - 6 tháng.
Chu kỳ sinh học của giun thực quản Spirocerca lupi Luan van 8 2. Đặc điểm dịch tễ học của bệnh giun thực quản chó do Spirocerca lupi gây ra Nghiên cứu dịch tễ học để có cơ sở khoa học phòng trị bệnh ký sinh trùng có hiệu quả. Sự phát triển của ký sinh trùng phụ thuộc vào nhiều yếu tố khác nhau. Đặc điểm dịch tễ bệnh do giun thực quản S.
lupi gây ra ở chó đã được nhiều tác giả quan tâm. Các tác giả tập trung nghiên cứu chủ yếu vào những vấn đề liên quan đến sự phát sinh và phát triển của bệnh.