Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Trong cơ cấu kinh tế nông nghiệp Việt Nam, ngành chăn nuôi trâu, bò đang có sự chuyển dịch mạnh mẽ từ mục đích cung cấp sức kéo truyền thống sang sản xuất hàng hóa giá trị cao, chủ yếu là thịt và sữa. Nhờ khả năng tận dụng và chuyển hóa hiệu quả nguồn thức ăn thực vật thô xanh, phế phụ phẩm nông nghiệp thành thực phẩm giàu dinh dưỡng, đàn trâu bò đã trở thành nguồn sinh kế quan trọng tại nhiều địa phương. Tuy nhiên, sự phát triển của đàn gia súc nhai lại hiện đối mặt với nhiều rào cản dịch bệnh. Bên cạnh các bệnh truyền nhiễm nguy hiểm, bệnh ký sinh trùng đường tiêu hóa là nguyên nhân thường xuyên gây suy giảm nghiêm trọng năng suất và hiệu quả kinh tế.

Bệnh cầu trùng (Coccidiosis) ở bê, nghé là một trong những bệnh ký sinh trùng phổ biến, gây tổn thương đặc hiệu ở niêm mạc ruột non và ruột già. Bệnh có biểu hiện lâm sàng phong phú từ thể ẩn, mãn tính đến cấp tính, làm con vật rối loạn tiêu hóa, tiêu chảy kéo dài, phân lẫn chất nhầy và máu, dẫn tới mất nước, thiếu máu, suy nhược và có thể gây chết. Tại huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên—một địa bàn miền núi có nền kinh tế phụ thuộc lớn vào sản xuất nông nghiệp, đàn trâu bò phát triển nhanh về số lượng nhưng tập quán chăn thả tự do, điều kiện chuồng trại ẩm thấp và công tác vệ sinh thú y hạn chế đã tạo điều kiện thuận lợi cho mầm bệnh phát sinh, lây lan. Đàn gia súc non tại đây thường xuyên bị sụt cân, tiêu chảy và đổ ngã do cầu trùng, trong khi các công trình nghiên cứu dịch tễ học ký sinh trùng ở khu vực miền núi còn hạn chế, chưa có quy trình phòng trị đồng bộ phù hợp với điều kiện sinh thái địa phương.

Xuất phát từ thực tiễn trên, đề tài được triển khai nhằm thực hiện ba mục tiêu cụ thể:

  1. Nghiên cứu thành phần loài cầu trùng ký sinh ở bê, nghé.
  2. Nghiên cứu một số đặc điểm dịch tễ bệnh cầu trùng bê, nghé tại một số xã của huyện Đồng Hỷ - tỉnh Thái Nguyên.
  3. Nghiên cứu biện pháp phòng trị bệnh cầu trùng bê, nghé đạt hiệu quả cao.

Mục đích cuối cùng của khóa luận là xác định chính xác tình hình nhiễm bệnh, cung cấp cơ sở khoa học để xây dựng và đề xuất quy trình phòng chống bệnh cầu trùng phù hợp với điều kiện chăn nuôi nông hộ tại huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên.

Về phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu: Bê, nghé dưới 1 năm tuổi nuôi tại các nông hộ; noãn nang (Oocyst) cầu trùng mới bài xuất theo phân và noãn nang có sức gây bệnh; bệnh cầu trùng ở bê, nghé.
  • Không gian nghiên cứu: Mẫu phân và mẫu môi trường được thu thập tại 3 xã/thị trấn đại diện thuộc huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên (Thị trấn Sông Cầu, xã Hóa Trung và xã Hóa Thượng). Công tác xét nghiệm và theo dõi thực nghiệm được thực hiện tại Phòng thí nghiệm bộ môn Bệnh động vật, Khoa Chăn nuôi Thú y, Trường Đại học Nông Lâm - Đại học Thái Nguyên.
  • Thời gian nghiên cứu: Từ tháng 06 đến tháng 10 năm 2013.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khóa luận thiết lập hệ thống cơ sở lý thuyết dựa trên phân loại học ký sinh trùng và chu kỳ sinh học của giống Eimeria. Theo hệ thống phân loại động vật học được tác giả viện dẫn, cầu trùng ký sinh ở bê, nghé thuộc giới Protista, ngành Myzozoa, phân ngành Apicomplexa, lớp Conoidasida, phân lớp Coccidiasina, bộ Eucoccidiorida, phân bộ Eimeriorin, họ Eimeriidae và giống Eimeria. Chu kỳ sống của cầu trùng mang tính chuyên biệt ký chủ và vị trí ký sinh nghiêm ngặt, bao gồm 3 giai đoạn: sinh sản vô tính (Schizogony) và sinh sản hữu tính (Gametogony) diễn ra nội sinh trong tế bào biểu mô niêm mạc ruột gia súc; sinh sản bào tử (Sporogony) diễn ra ngoại sinh ngoài môi trường tự nhiên khi Oocyst gặp điều kiện nhiệt độ, độ ẩm và oxy thích hợp.

Phương pháp nghiên cứu thực nghiệm và dịch tễ học thú y được triển khai bao gồm:

  • Phương pháp thu thập mẫu: Thu thập mẫu phân tươi mới bài xuất từ bê, nghé theo 4 nhóm tuổi (sơ sinh - 2 tháng, >2 - 4 tháng, >4 - 8 tháng, >8 - 12 tháng). Thu thập mẫu cặn nền chuồng (lấy ở 4 góc và giữa chuồng) và mẫu đất bề mặt xung quanh chuồng nuôi (khoảng cách 5 mét quanh chuồng, định mức 15 - 20g/mẫu cho mỗi 10 - 15m²).
  • Phương pháp xét nghiệm phát hiện Oocyst: Sử dụng phương pháp phù nổi Fulleborn bằng dung dịch muối ăn (NaCl) bão hòa để phát hiện Oocyst trong phân. Dùng phương pháp Darling (kết hợp nước lã và dung dịch muối bão hòa qua ly tâm) để thu nhận Oocyst từ phân nhiễm nặng và kiểm tra mẫu cặn chuồng, đất môi trường.
  • Phương pháp xác định loài: Nuôi Oocyst trong dung dịch Kali dichromat ($K_2Cr_2O_7$) 2,5% có lắc đảo thường xuyên để theo dõi thời gian hình thành bào tử gây bệnh. Đo kích thước Oocyst bằng trắc vi thị kính dưới kính hiển vi quang học độ phóng đại 400 lần. Định danh loài theo khóa phân loại của Levine N. (1985) và tài liệu đối chiếu của Ajayi J. (2004) dựa trên hình thái, kích thước, cấu tạo noãn nang và thời gian sinh bào tử.
  • Phương pháp xác định cường độ nhiễm: Đếm số lượng Oocyst/gam phân bằng buồng đếm McMaster, tính toán theo công thức: (Tổng số Oocyst đếm được × 60) / Số lượng buồng. Cường độ nhiễm được phân cấp theo 4 mức: nhẹ (≤ 500 Oocyst/g phân), trung bình (> 500 - 1.000 Oocyst/g phân), nặng (> 1.000 - 5.000 Oocyst/g phân) và rất nặng (> 5.000 Oocyst/g phân).
  • Phương pháp lâm sàng: Theo dõi biểu hiện thể trạng, đo thân nhiệt bằng nhiệt kế thú y 43°C, ghi nhận màu sắc niêm mạc, tính chất phân ở các gia súc chỉ nhiễm đơn thuần cầu trùng.
  • Phương pháp thử nghiệm phòng trị: Thử nghiệm 3 công thức ủ phân nhiệt sinh học yếm khí để theo dõi nhiệt độ đống ủ và khả năng tiêu diệt Oocyst. Thử nghiệm đánh giá hiệu lực điều trị của thuốc chứa hoạt chất chống cầu trùng (NOVACOC-5% với liều 25 mg/kg thể trọng, kiểm tra sau 5, 10, 15 ngày; xác định khối lượng gia súc theo cân hoặc công thức đo kích thước của Tô Du, 2004: $KL = 88{,}4 \times (\text{vòng ngực})^2 \times \text{dài thân chéo}$).
  • Nguồn dữ liệu và xử lý số liệu: Dữ liệu thực nghiệm thu thập từ 310 cá thể bê, nghé và 100 mẫu môi trường tại 3 xã. Số liệu được phân tích thống kê sinh học theo Nguyễn Văn Thiện (2008), xử lý trên phần mềm Microsoft Excel 2003 và Minitab 14.

Nội dung chính theo từng chương

Phần 1: Mở đầu

Tác giả nêu bật tầm quan trọng của ngành chăn nuôi đại gia súc nhai lại, thực trạng bệnh ký sinh trùng gây tổn thương đường ruột và suy kiệt bê, nghé tại vùng miền núi huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên. Xác định rõ tính cấp thiết của việc tìm hiểu đặc điểm dịch tễ và thành phần loài để làm căn cứ khoa học cho các biện pháp can thiệp thú y.

Phần 2: Tổng quan tài liệu

Chương này tổng hợp có hệ thống cơ sở lý luận về bệnh cầu trùng gia súc:

  • Vị trí phân loại học, hình thái, cấu tạo noãn nang Oocyst (vỏ 2 lớp quinone protein và lipoprotein chống chịu hóa chất).
  • Ba giai đoạn trong vòng đời ký sinh của giống Eimeria, cơ chế xâm nhập và phá hủy niêm mạc ruột.
  • Đặc điểm dịch tễ học, phương thức lây truyền qua đường tiêu hóa (thức ăn, nước uống, chất độn chuồng), vai trò của các yếu tố ngoại cảnh (nhiệt độ, ẩm độ mùa vụ) và lứa tuổi vật chủ.
  • Cơ chế sinh bệnh học, triệu chứng lâm sàng ở thể cấp tính, á cấp tính, mãn tính và các bệnh tích đặc trưng ở ruột non, manh tràng, trực tràng.
  • Lịch sử nghiên cứu bệnh cầu trùng bê, nghé trên thế giới (Joyner, Kolapxki, Ajayi, Lee) và các nghiên cứu trong nước (Phạm Sỹ Lăng, Lê Văn Năm, Phan Lục, Lâm Thị Thu Hương, Nguyễn Đức Tân).

Phần 3: Đối tượng, vật liệu, nội dung và phương pháp nghiên cứu

Trình bày chi tiết tiêu chuẩn chọn mẫu gia súc non dưới 1 năm tuổi; mô tả các hóa chất, dụng cụ phòng thí nghiệm; quy trình thao tác xét nghiệm ký sinh trùng học Fulleborn, Darling, buồng đếm McMaster; quy trình nuôi cấy Oocyst trong dung dịch Kali dichromat 2,5%; các chỉ tiêu lâm sàng, 3 công thức bố trí ủ phân nhiệt sinh học và phương pháp đánh giá hiệu lực, độ an toàn của thuốc điều trị.

Phần 4: Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Nội dung chương 4 trình bày toàn bộ số liệu khảo sát thực địa và thực nghiệm:

  • Định danh 3 loài cầu trùng ký sinh ở bê, nghé tại địa bàn nghiên cứu: Eimeria alabamensis, Eimeria bovis, Eimeria zuernii.
  • Tỷ lệ và cường độ nhiễm cầu trùng tổng quát trên 310 bê, nghé tại 3 xã: tỷ lệ nhiễm chung đạt 41,29%. Trong đó xã Hóa Trung cao nhất (45,94%), Hóa Thượng (41,27%), Thị trấn Sông Cầu (38,18%).
  • Tỷ lệ và cường độ nhiễm theo lứa tuổi: Bê, nghé 4 - 8 tháng tuổi có tỷ lệ nhiễm cao nhất (44,83%), nhưng lứa tuổi >2 - 4 tháng tuổi chịu cường độ nhiễm nặng và rất nặng cao nhất (chiếm 28,13% số ca nhiễm). Bê, nghé dưới 2 tháng tuổi có tỷ lệ nhiễm thấp nhất (22,50%).
  • Biến động nhiễm theo tháng theo dõi (tháng 6 đến tháng 10): Tỷ lệ nhiễm cao nhất vào các tháng nóng ẩm mùa hè (tháng 6: 50,00%; tháng 7: 51,72%), sau đó giảm dần khi thời tiết chuyển sang thu hanh khô (tháng 9: 33,33%; tháng 10: 28,07%).
  • Mức độ ô nhiễm Oocyst ngoài môi trường: Nền chuồng có tỷ lệ mẫu dương tính là 32,00%, đất xung quanh chuồng là 18,00%.
  • Vai trò của cầu trùng trong hội chứng tiêu chảy: Trong 128 gia súc nhiễm cầu trùng, có 38 con biểu hiện tiêu chảy (29,69%). Đáng chú ý, ở nhóm bê nghé bị tiêu chảy, tỷ lệ nhiễm cầu trùng ở mức nặng và rất nặng (> 1.000 Oocyst/g phân) lên tới 52,63%, trong khi ở nhóm phân bình thường chỉ có 1,11%.
  • Kết quả thử nghiệm công thức ủ phân nhiệt sinh học: Công thức ủ I (phân chuồng + lá xanh + tro bếp) làm nhiệt độ đống ủ đạt cực đại 39,2°C sau 25 ngày, tỷ lệ Oocyst không chết còn 20,83%. Các công thức có bổ sung vôi bột (công thức II và III) được tác giả theo dõi để so sánh tốc độ sinh nhiệt tiêu diệt noãn nang.
  • Thử nghiệm điều trị: Đánh giá hiệu lực của thuốc NOVACOC-5% (liều 25 mg/kg thể trọng) và FIVE-ANTICOCID trên đàn bê nghé mắc bệnh.

Kết quả và đóng góp

Khóa luận đã thu thập và xử lý các số liệu thực nghiệm nguyên gốc trên địa bàn huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên, đạt được các kết quả cụ thể sau:

1. Thành phần loài cầu trùng

Nghiên cứu đã xác định được 3 loài cầu trùng thuộc giống Eimeria ký sinh ở đàn bê, nghé tại 3 xã thuộc huyện Đồng Hỷ:

  • Eimeria alabamensis (Christiensen, 1941): Kích thước dài 16,84 ± 1,15 µm, rộng 12,60 ± 0,63 µm; Oocyst hình trứng, 1 - 2 lớp vỏ, màu vàng nhạt; thời gian sinh bào tử 4 - 5 ngày.
  • Eimeria bovis (Christiensen, 1941): Kích thước dài 26,12 ± 0,74 µm, rộng 19,52 ± 0,67 µm; Oocyst hình trứng hoặc không đối xứng, màu nâu hoặc hơi vàng, có lỗ noãn ở đầu hẹp, không có hạt cực; thời gian sinh bào tử 2 - 3 ngày.
  • Eimeria zuernii (Rivolta, 1878; Martin, 1909): Kích thước dài 17,66 ± 0,70 µm, rộng 15,38 ± 0,86 µm; Oocyst hình cầu hoặc hình trứng, 2 lớp vỏ, màu nâu nhạt hoặc không màu; thời gian sinh bào tử 2 - 3 ngày.

2. Số liệu dịch tễ học mô tả

Dữ liệu khảo sát trên 310 mẫu phân và 100 mẫu môi trường phản ánh chi tiết hiện trạng nhiễm cầu trùng:

Bảng tổng hợp tỷ lệ và cường độ nhiễm cầu trùng tại 3 xã nghiên cứu:

Địa điểm (Xã/Thị trấn) Số kiểm tra (con) Số nhiễm (con) Tỷ lệ nhiễm (%) Cường độ ≤ 500 Oocyst/g (%) Cường độ > 500 - 1.000 Oocyst/g (%) Cường độ > 1.000 - 5.000 Oocyst/g (%) Cường độ > 5.000 Oocyst/g (%)
TT Sông Cầu 110 42 38,18 52,38 38,09 9,52 0,00
Xã Hóa Trung 74 34 45,94 41,18 32,35 17,65 8,82
Xã Hóa Thượng 126 52 41,27 46,15 38,46 11,54 3,85
Tính chung 310 128 41,29 46,87 36,72 12,50 3,91

Bảng diễn biến tỷ lệ và cường độ nhiễm theo nhóm tuổi:

Lứa tuổi (tháng) Số kiểm tra (con) Số nhiễm (con) Tỷ lệ nhiễm (%) Cường độ ≤ 500 Oocyst/g (%) Cường độ > 500 - 1.000 Oocyst/g (%) Cường độ > 1.000 - 5.000 Oocyst/g (%) Cường độ > 5.000 Oocyst/g (%)
≤ 2 40 9 22,50 44,44 33,33 22,22 0,00
> 2 - 4 72 32 44,44 28,12 43,75 18,75 9,38
> 4 - 8 116 52 44,83 55,77 30,77 9,61 3,85
> 8 - 12 82 35 42,68 51,43 40,00 8,57 0,00
Tính chung 310 128 41,29 46,87 36,72 12,50 3,91

Bảng biến động nhiễm cầu trùng theo tháng theo dõi năm 2013:

Tháng Số kiểm tra (con) Số nhiễm (con) Tỷ lệ nhiễm (%) Cường độ ≤ 500 Oocyst/g (%) Cường độ > 500 - 1.000 Oocyst/g (%) Cường độ > 1.000 - 5.000 Oocyst/g (%) Cường độ > 5.000 Oocyst/g (%)
6 72 36 50,00 41,66 36,11 16,67 5,55
7 58 30 51,72 40,00 36,67 16,67 6,67
8 63 26 41,26 53,85 30,77 11,54 4,00
9 60 19 33,33 52,63 42,11 5,26 0,00
10 57 17 28,07 52,94 41,18 5,88 0,00

Bảng so sánh vai trò của cầu trùng giữa bê, nghé bình thường và tiêu chảy:

Trạng thái phân Số kiểm tra (con) Số nhiễm (con) Tỷ lệ nhiễm (%) Cường độ ≤ 500 Oocyst/g (%) Cường độ > 500 - 1.000 Oocyst/g (%) Cường độ > 1.000 - 5.000 Oocyst/g (%) Cường độ > 5.000 Oocyst/g (%)
Phân bình thường 223 90 40,36 57,78 41,11 1,11 0,00
Phân tiêu chảy 87 38 43,68 21,05 26,32 39,47 13,16

3. Đóng góp và giải pháp tác giả đề xuất

  • Đóng góp khoa học: Bổ sung dữ liệu thực nghiệm về thành phần loài và dịch tễ học bệnh cầu trùng bê, nghé ở một huyện miền núi tỉnh Thái Nguyên, xác nhận sự lưu hành của 3 loài cầu trùng phổ biến (E. alabamensis, E. bovis, E. zuernii), trong đó có 2 loài trùng khớp với công bố trước đây của Nguyễn Đức Tân và cộng sự (2005) tại khu vực Nam Trung Bộ - Tây Nguyên. Khẳng định vai trò nguyên nhân quan trọng của cầu trùng trong hội chứng tiêu chảy gia súc non (chiếm 52,63% trường hợp nhiễm nặng và rất nặng).
  • Đề xuất giải pháp kỹ thuật:
    • Tăng cường công tác vệ sinh thú y, định kỳ thu gom phân và chất độn chuồng, không để ứ đọng tạo ổ mầm bệnh lưu cữu.
    • Áp dụng phương pháp ủ phân nhiệt sinh học yếm khí có phối trộn phụ gia (tro bếp, lá xanh, vôi bột) để tạo nhiệt độ cao tiêu diệt noãn nang Oocyst trước khi bón cho cây trồng.
    • Tập trung quản lý và phòng bệnh nghiêm ngặt cho đàn bê, nghé trong lứa tuổi từ 2 đến 8 tháng tuổi, đặc biệt chú ý cao điểm các tháng nóng ẩm mùa hè (tháng 6 - tháng 7).
    • Sử dụng thuốc đặc trị cầu trùng kịp thời khi phát hiện gia súc non có dấu hiệu tiêu chảy hoặc nhiễm Oocyst ở cường độ cao.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Khóa luận tự nhận diện các giới hạn khách quan:

  • Trình độ và thời gian thực hiện khóa luận tốt nghiệp có hạn, bước đầu làm quen với phương pháp nghiên cứu khoa học chuyên sâu nên còn những hạn chế nhất định về phương pháp và phân tích thực nghiệm.
  • Thời gian nghiên cứu thực địa chỉ kéo dài 5 tháng (từ tháng 6 đến tháng 10 năm 2013), chưa bao quát đủ chu kỳ 4 mùa trọn vẹn trong năm (đặc biệt là mùa Đông và mùa Xuân) để đánh giá đầy đủ tính chu kỳ dịch tễ học theo năm.
  • Phạm vi không gian nghiên cứu dừng lại ở quy mô khảo sát tại 3 xã/thị trấn của một huyện miền núi, cỡ mẫu điều tra dịch tễ (310 gia súc) chưa phản ánh toàn diện cho toàn bộ địa bàn tỉnh Thái Nguyên và vùng Đông Bắc.
  • Thử nghiệm các công thức ủ phân nhiệt sinh học và thử nghiệm thuốc điều trị mới dừng ở bước đầu, cần có thêm nghiên cứu sâu hơn về cơ chế sinh hóa và động học tiêu diệt noãn nang ở các mức nhiệt độ khác nhau.

Giá trị tham khảo

Bản khóa luận mang lại giá trị tham khảo thiết thực cho:

  • Sinh viên, học viên chuyên ngành Thú y, Chăn nuôi Thú y: Tham khảo quy trình chẩn đoán ký sinh trùng chuẩn hóa (phương pháp phù nổi Fulleborn, phương pháp Darling, kỹ thuật đếm buồng đếm McMaster và quy trình nuôi cấy xác định thời gian sinh bào tử của Oocyst trong dung dịch Bichromat kali).
  • Cán bộ thú y cơ sở và người chăn nuôi gia súc nhai lại: Cung cấp hiểu biết dịch tễ về nhóm tuổi mẫn cảm nhất (>2 - 8 tháng tuổi), mùa vụ bùng phát (tháng 6 - 7), nhận diện mối liên quan giữa cường độ nhiễm Oocyst với hội chứng tiêu chảy, từ đó có biện pháp cách ly, giữ khô nền chuồng và ủ phân diệt mầm bệnh.
  • Các nhà nghiên cứu ký sinh trùng thú y: Cung cấp nguồn số liệu cơ sở (baseline data) có giá trị lịch sử và dịch tễ học về sự phân bố của 3 loài Eimeria tại vùng trung du miền núi phía Bắc năm 2013.

Câu hỏi thường gặp

1. Khóa luận đã định danh được những loài cầu trùng nào ký sinh trên bê, nghé tại huyện Đồng Hỷ?
Nghiên cứu đã định danh được 3 loài cầu trùng thuộc giống Eimeria, bao gồm: Eimeria alabamensis (Christiensen, 1941), Eimeria bovis (Christiensen, 1941) và Eimeria zuernii (Rivolta, 1878; Martin, 1909).

2. Tỷ lệ nhiễm cầu trùng trung bình trên đàn bê, nghé tại 3 xã khảo sát là bao nhiêu và địa bàn nào có tỷ lệ nhiễm cao nhất?
Tỷ lệ nhiễm trung bình chung trên toàn bộ 310 bê, nghé được kiểm tra là 41,29% (128 con dương tính). Trong đó, xã Hóa Trung có tỷ lệ nhiễm cao nhất đạt 45,94% (34/74 con), tiếp theo là xã Hóa Thượng đạt 41,27% (52/126 con) và thấp nhất là Thị trấn Sông Cầu đạt 38,18% (42/110 con).

3. Lứa tuổi nào của bê, nghé có tỷ lệ và cường độ nhiễm cầu trùng nặng nhất?
Về tỷ lệ nhiễm, nhóm bê nghé từ >4 - 8 tháng tuổi có tỷ lệ nhiễm cao nhất (44,83%), bám sát sau là nhóm >2 - 4 tháng tuổi (44,44%). Tuy nhiên, về cường độ nhiễm, nhóm bê nghé từ >2 - 4 tháng tuổi bị nặng nhất với tỷ lệ ca nhiễm ở mức nặng và rất nặng (> 1.000 Oocyst/g phân) chiếm tới 28,13%. Nhóm dưới 2 tháng tuổi có tỷ lệ nhiễm thấp nhất (22,50%).

4. Dịch tễ bệnh cầu trùng tại địa phương biến động như thế nào qua các tháng theo dõi?
Tỷ lệ nhiễm cầu trùng tập trung cao nhất vào các tháng nóng ẩm mùa hè: tháng 6 đạt 50,00% và tháng 7 đạt 51,72%. Khi thời tiết chuyển sang mùa thu hanh khô, tỷ lệ nhiễm giảm dần rõ rệt qua các tháng: tháng 8 đạt 41,26%, tháng 9 giảm xuống 33,33% và tháng 10 chỉ còn 28,07%.

5. Mức độ ô nhiễm Oocyst cầu trùng ở môi trường chuồng nuôi và xung quanh chuồng được ghi nhận ra sao?
Qua xét nghiệm 50 mẫu cặn nền chuồng và 50 mẫu đất bề mặt xung quanh chuồng (trong phạm vi 5 mét), kết quả cho thấy nền chuồng có tỷ lệ ô nhiễm Oocyst là 32,00% (16/50 mẫu dương tính) và đất bề mặt xung quanh chuồng có tỷ lệ ô nhiễm là 18,00% (9/50 mẫu dương tính). Xã Hóa Trung là nơi có tỷ lệ ô nhiễm môi trường chuồng trại cao nhất (35,00% ở nền chuồng và 20,00% ở đất xung quanh).

Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của sinh viên Nguyễn Hữu Đạt đã cung cấp bức tranh dịch tễ học thực nghiệm toàn diện về bệnh cầu trùng ở bê, nghé tại huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên với tỷ lệ nhiễm chung là 41,29% do 3 loài Eimeria alabamensis, Eimeria bovis và Eimeria zuernii gây ra. Công trình làm sáng tỏ sự tương quan chặt chẽ giữa cường độ nhiễm Oocyst với mức độ nghiêm trọng của hội chứng tiêu chảy gia súc non, đồng thời chỉ ra các yếu tố nguy cơ then chốt gồm lứa tuổi 2 - 8 tháng, điều kiện nóng ẩm các tháng hè và sự ô nhiễm Oocyst tại nền chuồng. Các dữ liệu thực nghiệm và giải pháp ủ phân nhiệt sinh học, dùng thuốc đặc trị được đề xuất trong công trình là tài liệu tham khảo có giá trị học thuật và thực tiễn đối với công tác thú y lâm sàng và phòng trừ ký sinh trùng đường tiêu hóa trên đàn đại gia súc.