Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Cơ sở khoa học của đề tài 1. Giun lươn ký sinh ở lợn 1. Thành phần loài giun lươn ở lợn Bệnh giun lươn do những giun tròn thuộc họ Strongyloididae (bộ phụ Rhabditata) gây nên.
Theo Nguyễn Thị Lê và cs (1996) [24], Phan Thế Việt và cs (1977) [41], giun lươn ở lợn có vị trí trong hệ thống phân loại động vật như sau: Ngành Nemathelminthes Schneider, 1873 Lớp Nematoda Rudolphi, 1808 Phân lớp Rhabditia Pearse, 1942 Bộ Rhabditida Chitwood, 1933 Phân bộ Rhabditina Chitwood, 1933 Họ Strongyloididae Chitwood et MeInstosch, 1934 Giống Strongyloides Grassi, 1879 Loài Strongyloides ransomi Schwartf et Alicata, 1930 Loài Strongyloides papillosus Wedl, 1856 Theo Từ điển thú y của nhà xuất bản Elsevier (2007) giống Strongyloides có một số loài: - Strongyloides avium được tìm thấy trong ruột non của gà, gà tây và các loài chim hoang dã. - Strongyloides cati được tìm thấy trong ruột non của mèo. - Strongyloides fuelleborni, Strongyloides simiae được tìm thấy trong ruột non của các loài linh trưởng. - Strongyloides papillosus được tìm thấy trong ruột non của lợn, động vật nhai lại và thỏ.
e 5 - Strongyloides procyonis tìm thấy trong gấu trúc. - Strongyloides felis, Strongyloides planiceps ở mèo. - Strongyloides Ratti, Strongyloides venezuelensis tìm thấy ở chuột. - Strongyloides stercoralis được tìm thấy trong ruột của người và động vật có vú khác, chủ yếu ở vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới, thường gây tiêu chảy và viêm loét đường ruột.
- Strongyloides tumefaciens kết hợp với các khối u trong ruột già của con mèo. - Strongyloides westeri được tìm thấy trong ruột non của ngựa - Strongyloides ransomi được tìm thấy trong ruột non của lợn. Trong các loài ký sinh và gây bệnh giun lươn ở lợn, loài Strongyloides ransomi là phổ biến (Nguyễn Thị Lê và cs (1996) [24]) 1. Đặc điểm hình thái, kích thước giun lươn ở lợn Bệnh giun lươn (Strongyloidosis) ở lợn phân bố rộng khắp ở hầu hết các nước thuộc Châu Á, Châu Phi (J.
Ở Việt Nam, bệnh đã được phát hiện ở các tỉnh phía Bắc, các tỉnh miền Trung và miền Nam (Bùi Lập 1966, Nguyễn Hữu Bình, Nguyễn Thị Kỳ, Phạm Xuân Dụ 1966). Bệnh giun lươn do Strongyloides ransomi phân bố trên toàn thế giới và được tìm thấy ở lợn và lợn rừng. * Đặc điểm cấu tạo giun lươn Strongyloides ransomi: Nguyễn Thị Lê và cs (1996) [24] đã mô tả giun lươn Strongyloides ransomi như sau: Con đực: Cơ thể hình sợi dài 0,87 - 0,9 mm. Thực quản dài 1,132 - 0,148 mm, vòng thần kinh cách mút đầu 0,113 mm, lỗ huyệt cách mút đuôi 0,07 mm.
Đuôi nhọn, cách mút đuôi 0,037 mm có 3 cặp núm: 1 cặp trước huyệt ở mặt bụng, 2 cặp sau huyệt ở mặt lưng. Con cái: Cơ thể dài 2,1 - 4,2 mm, rộng nhất 0,04 - 0,08 mm. Lỗ miệng có 4 môi với các núm cutin. Thực quản dài 0,58 - 0,94 mm.
Lỗ sinh dục ở 1/3 e 6 phần sau cơ thể, cách mút đuôi 0,63 - 1,53 mm; có các môi ở phía trước và sau; 1 buồng trứng hướng lên phía trên cơ thể, buồng còn lại hướng phía dưới. Tử cung chứa 1 - 10 trứng. Đuôi ngắn, thẳng, hình nón, dài 0,04 - 0,07 mm. Trứng hình ôvan, kích thước 0,037 - 0,060 x 0,025 - 0,042 mm, trong trứng có ấu trùng.1: Giun lươn Strongyloides ransomi ký sinh ở lợn (Nguồn: Phạm Văn Khuê và cs 1996 [11], Nguyễn Thị Lê và cs 1996[24]) a b 1: Giun cái sống ký sinh 1: Phần đầu cơ thể 2: Giun đực 2: Đuôi cá thể đực 3: Ấu trùng gây nhiễm Trịnh Văn Thịnh và cs (1978) [32] cho rằng: Giun lươn thân dài 2 - 4,2 mm thực quản dài 0,57 - 0,94 mm.
Hậu môn ở cách mút đuôi 0,057 - 0,065 mm. Âm hộ hình lỗ ngang có môi lồi ra và ở cách mút đuôi 0,629 - 1,530 mm. Trứng dài 0,037 - 0,06 mm và rộng 0,025 - 0,042 mm, trong có ấu trùng. Nguyễn Thị Kim Lan và cs (1999) [13], Phạm Văn Khuê và cs (1996) [11] cho biết: Giun cái sống ký sinh dài 2,1 - 4,4 mm, xung quanh miệng có 4 môi không rõ lắm, túi miệng nhỏ.
Thực quản dài hình ống nhỏ, không có chỗ phình. Âm hộ ở vào nửa sau của thân giun. Buồng trứng uốn e 7 khúc. Trứng hình bầu dục 0,045 - 0,055 x 0,026 - 0,035 mm, màu trắng, trong có ấu trùng.
Theo Phạm Sỹ Lăng và cs, (2006) [21], Giun đực hình sợi, dài 0,87 - 0,90 mm, lỗ huyệt cách mút đuôi 0,07 mm. Giun cái dài 2,1 - 4,2mm, rộng 0,04 - 0,08 mm, lỗ sinh dục ở 1/3 phần sau cơ thể, cách mút đuôi 0,63 - 1,53 mm, hai buồng trứng là các ống mỏng, xuất phát gần lỗ sinh dục, một buồng trứng hướng lên phía trên cơ thể, một còn lại hướng phía đuôi, tử cung chứa 1 - 10 trứng, trứng giống hình trứng gà, kích thước 0,037 - 0,060 x 0,025 - 0,042 mm, trong trứng có ấu trùng. Phan Lục (2006) [26], Chu Thị Thơm và cs (2006) [35] cho biết: Giun lươn trưởng thành có kích thước 3,5-4,5 mm, trứng có chứa một ấu trùng, kích thước 0,045-0,055 x 0,026-0,035 mm. Thực quản có hai chỗ phình, phình trước không rõ, phình sau rõ hơn.
* Đặc điểm cấu tạo giun lươn Strongyloides papillosus: Theo Phạm Sỹ Lăng và cs (2006) [21] loài Strongyloides papillosus gây bệnh giun lươn cho lợn. Theo Nguyễn Thị Lê và cs (1996) [24]; Phan Địch Lân và cs (2002)[22], loài Strongyloides papillosus có cấu tạo như sau: - Con đực chưa được mô tả. - Con cái: Cơ thể thường cong hình chữ S, dài 4,8 - 6,3mm, rộng nhất 0,042 - 0,078 mm. Lỗ miệng có 4 môi: 1 môi lưng, 1 môi bụng, 2 môi bên.
Thực quản dài 0,770 - 1,020 mm, chỗ rộng nhất 0,024 - 0,054 mm. Lỗ sinh dục có rãnh ngang, cách mút đuôi 1,8 - 2,3mm, hai bên có các mấu lồi cutin. Đầu 2 buồng trứng rất gần lỗ sinh dục; 1 buồng chạy về phía trước cơ thể, cách gốc thực quản 0,051 - 0,425 mm thì quay lại, buồng trứng còn lại hướng về phía sau cơ thể, cách mút đuôi 0,085 - 0,340 mm thì vòng lại. Các buồng trứng nối trực tiếp với tử cung, không có đoạn chuyển tiếp.
Tử cung chứa 4 - e 8 75 trứng. Đuôi mảnh, thon nhỏ dần ở phía sau. Trứng có vỏ mỏng và phẳng, kích thước trứng 0,045 - 0,060 x 0,025 - 0,036 mm, trong trứng có ấu trùng. 1: Phần giữa thân giun cái 2: Đuôi giun cái 3: Giun cái sống tự do 4: Trứng Hình 1.2: Giun lươn Strongyloides papillosus (Nguồn: Phạm Văn Khuê và cs (1996) [11]) Giun lươn Strongyloides papillosus phân bố trên toàn thế giới, đặc biệt ở vùng ấm và ẩm ướt, con trưởng thành hình sợi, dài đến 6 mm, trứng có kích thước 0,047-0,065 x 0,025-0,026 mm, hình elip, vỏ mỏng, không màu, có ấu trùng bên trong.
Vòng đời của giun lươn Theo Nguyễn Thị Kim Lan và cs, (1999) [13], giun lươn cái đẻ trứng ở ruột non, trứng theo phân ra ngoài đã có ấu trùng ở bên trong. Trứng ra ngoài phát triển theo 2 hướng: - Trực tiếp: Vào mùa hè (ấm áp), trứng phát triển nhanh, sau 5 - 6 giờ nở ra ấu trùng giun lươn, 1 - 2 ngày sau thành ấu trùng có sức gây nhiễm. - Gián tiếp: ấu trùng phát triển thành giun đực và cái ở trong đất. Sau khi giao phối, giun cái đẻ trứng có ấu trùng, ấu trùng phát triển thành ấu trùng có sức gây nhiễm (khác trên là: giun đực và cái sống tự do).
Ấu trùng gây nhiễm phát triển trực tiếp hay gián tiếp hoàn toàn giống nhau (dài 0,6 - 0,7 mm, thực quản hình ống dài, không có chỗ phình to), ấu trùng này vào cơ thể ký chủ theo 2 đường: e 9 + Qua da: ấu trùng vào tổ chức liên kết, tới cơ, theo máu, hệ lâm ba về phổi, ấu trùng chui qua mạch máu vào chi nhánh khí quản, theo đờm lên hầu rồi được nuốt xuống ruột non, sau 6 - 8 ngày thì thành giun lươn trưởng thành ký sinh. + Qua đường tiêu hoá: ấu trùng lẫn vào thức ăn, nước uống, vào đường tiêu hoá thì chui qua niêm mạc dạ dày vào mạch máu, về phổi rồi di chuyển giống như trên. Ấu trùng cảm nhiễm Strongyloides ransomi sau khi qua da vào cơ thể lợn con và di chuyển đến phổi mất khoảng 72 giờ, sau đó đến ruột non khoảng 96 giờ sau cảm nhiễm. Giun trưởng thành sống trong ruột non và trứng được tìm thấy trong phân vào ngày thứ 6 sau cảm nhiễm.
Ấu trùng Strongyloides ransomi vào lợn trưởng thành qua da, di chuyển đến các mô mỡ, đặc biệt là các mô mỡ xung quanh tuyến vú, ấu trùng vẫn còn trong mô mỡ trong một thời gian dài. Ở lợn nái nhiễm thực nghiệm, trong 10 ngày cuối cùng trước khi sinh đẻ, ấu trùng Strongyloides ransomi sẽ di chuyển từ mô mỡ vào các tuyến vú và do đó vào cơ thể lợn con qua sữa non. và cs (1978) [56], giới tính của ấu trùng được xác định trước khi nở. Điều kiện tự nhiên không ảnh hưởng đến hướng phát triển của ấu trùng đực mà chỉ ảnh hưởng đến hướng phát triển của ấu trùng cái.
Vòng đời phát triển của giun lươn được tính từ khi gia súc nuốt phải ấu trùng có sức gây bệnh, qua quá trình sinh trưởng, phát triển cho đến khi chúng trở thành giun trưởng thành và có khả năng đẻ trứng. Tuổi thọ của giun lươn ở gia súc khoảng 5 - 9 tháng. Nguyễn Thị Kim Lan (1999) [14] đã mô tả vòng phát triển của Strongyloides papillosus như sau: Trứng được bài xuất ra bên ngoài cùng với phân của động vật nhiễm bệnh. Ở nhiệt độ thích hợp, sau 4-13 giờ, ấu trùng hình gậy nở ra khỏi trứng.
Sự phát triển tiếp theo của ấu trùng có thể theo cách trực tiếp hoặc gián tiếp. e 10 Khi phát triển trực tiếp, ấu trùng hình gậy ở môi trường bên ngoài lột xác hai lần, ở nhiệt độ 25-300 thì sau 24-36 giờ, chúng trở thành ấu trùng cảm nhiễm dạng sợi chỉ. Khi phát triển gián tiếp, sau 8-40 giờ, ấu trùng hình gậy trở thành con cái và con đực sống tự do. Những con cái này đẻ trứng, trứng nở ra thành ấu trùng hình gậy, rồi trở thành ấu trùng cảm nhiễm dạng sợi chỉ.
Dê, cừu, lợn có thể nuốt phải ấu trùng cảm nhiễm cùng thức ăn, nước uống. Cũng có thể nhiễm do ấu trùng xâm nhập qua da lành vào máu, đến phổi, lên họng rồi nuốt xuống ruột non. ở ruột non, ấu trùng phát triển thành giun trưởng thành. Từ khi vào ký chủ đến khi thành giun trưởng thành cần 5- 10 ngày.
Tuổi thọ của giun ở gia súc non khoảng 5-9 tháng.