Chương 1 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 1. Cơ sở khoa học của vấn đề nghiên cứu 1. Một số đặc điểm sinh học của chó * Nguồn gốc chó nhà Chó nhà hiện nay có nhiều nguồn gốc khác nhau, đã được con người nuôi và thuần hóa sớm nhất, cách đây khoảng 13. Đông Nam Á là trung tâm thuần hóa chó cổ nhất.
Từ đó, chó nhà xâm nhập sang Châu Úc, các nước phương Đông, rồi du nhập vào Châu Mỹ. Nhóm tác giả (2003) cho biết, qua thuần dưỡng chọn lọc, lai tạo liên tục, người ta đã tạo ra hơn 400 nòi chó khác nhau. Từ nòi chó chăn cừu Châu Âu có tầm vóc lớn khoảng 50 - 60 kg đến loài chó xù mini chỉ nặng 200 - 300g. Một số đặc điểm sinh học của chó Chó cỏ hay chó ta, chó nội (để phân biệt với các giống chó ngoại) chó mực, chó vện hay còn gọi chung là chó Việt Nam là các giống chó thuần chủng có nguồn gốc tại Việt Nam.
Hiện ở Việt Nam có bốn giống chó nội có giá trị và được gọi là tứ đại quốc khuyển gồm: Chó Bắc Hà, chó Lài (Dingo Đông Dương, tên khoa học: Canis lupus dingo), H’mông cộc đuôi và đặc biệt là chó Phú Quốc. Những giống chó nội địa này đã tồn tại từ lâu trên bán đảo Đông Dương và ở Việt Nam từ hơn 6.000 năm nay với quá trình gắn bó cùng con người. Trong các giống chó thì chó Lài khá phổ biến, đây là giống chó nguyên thủy đặc trưng tại các vùng trung du và miền núi của Việt Nam. Giống này đang được người dân vùng cao tại Việt Nam nuôi rải rác khắp các vùng lãnh thổ.
Chó chủ yếu được người dân nuôi trông nhà và các hoặt động săn bắn hay đi rừng, chúng có bản năng trung thành với chủ. Ngoài ra giống chó Phú Quốc là giống chó duy nhất đến nay của Việt Nam được công nhận trên thế giới. Các giống chó Việt Nam nhìn chung có tầm vóc trung bình và nhỏ, nặng khoảng 10 - 12 kg khi trưởng thành. Chó Lài thì có tầm vóc trung bình, cân nặng từ 15 - 30 kg, chiều cao 45 cm - 65 cm.
Cơ thể hơi dài hơn so với chiều cao, thông e 4 thường chó đực to hơn chó cái. Đặc điểm dễ nhận biết với loài này nếu là thuần chủng phải có bốn chân có màu bít tất trắng và chóp đuôi trắng (đuôi bông lau), đuôi dài vừa phải, bình thường buông thõng (cụp đuôi), lúc hoạt động dựng hướng lên trên, hoặc cuộn trên lưng (cong đuôi). Chiều cao tới vai so với chiều dài cơ thể là 1: 1,2 trong đó phần thân nằm trong hình chữ nhật nằm ngang, lưng thẳng, bụng thon gọn. Chiều dài toàn đầu so với chiều dài mõm là 2: 1, đầu chúng thon, dài vừa phải và cân đối, mặt có hình tam giác theo kiểu chó sói, mõm chó hình chữ V và ngắn, đầu mõm hơi nhọn, gốc mõm khá rộng.
Mõm dài gần bằng nửa chiều dài toàn đầu. mũi có màu đen, lưỡi màu hồng hoặc có đốm màu đen. Tai nằm hai bên hộp sọ, dựng đứng như hình vỏ sò và hướng về phía trước. Tai to vừa phải, cân đối, không nhọn, phía trong tai ít lông; nếu nhìn thẳng trực diện thì hai tai dựng đứng, vuông góc với đỉnh sọ.
Các màu lông phổ biến là màu lông đỏ lửa, đen 4 mắt, trắng, đen tuyền, xám, đốm (khoang), nâu, vện. Chó Việt Nam hay còn gọi là chó ta có khả năng kháng bệnh rất cao. Độ tuổi thành thục về tính của chó nội đực khoảng 15 - 18 tháng tuổi, chó cái là 12 - 14 tháng tuổi. Chó cái mang thai 60 ± 2 ngày rồi đẻ.Sự hoạt động rụng trứng của chó có chu kỳ 180 ngày, tức là 2 lần/năm (Nhóm tác giả, 2003).
Theo Nhóm tác giả (2003), chó nội khỏe mạnh trưởng thành có các chỉ tiêu sinh lý như sau: - Thân nhiệt: 38 - 38,50C. - Nhịp tim: 70 nhịp/phút. - Nhịp thở: 50 - 60 nhịp/phút. - Hồng cầu: 5 - 6 triệu/ mm3 máu.
- Bạch cầu: 7000 - 9000/ mm3 máu. Hiểu biết về ve ký sinh ở chó 1. Vị trí của ve ký sinh ở chó trong hệ thống phân loại động vật học Đã có nhiều tác giả nghiên cứu về họ ve cứng Ixodidae và kết luận: có nhiều loài ve ký sinh trên chó, nhưng thường gặp và nhiều nhất là loài Rhipicephalus sanguineus (R. sanguineus là loài bọ ve phân bố rộng rãi nhất trên toàn thế giới, nó là nguyên nhân gây ra sự khó chịu cho vật chủ và loài môi giới lây truyền một số mầm bệnh khác.
Theo Phạm Văn Khuê và Phan Lục (1996), Nguyễn Thị Kim Lan và cs. (1999), vị trí của ve trong hệ thống phân loại động vật như sau: Ngành Athropoda Siebold, 1848. Lớp Arachnida Lamarck, 1801. Phân lớp Acari, Leach, 1817.
Bộ Parasitiformes Leach, 1815. Họ Ixodidae Koch C. Phân họ Ixodoidea Leach, 1815. Giống Rhipicephalus Latreille, 1806.
Loài Rhipicephalus sanguineus Latreille, 1806. Theo nghiên cứu của nhiều tác giả, ve R. sanguineus là loài thường gặp và ký sinh nhiều nhất ở chó. (2015) cho biết: Rhipicephalus sanguineus là một loài ve được mô tả bởi Latreille vào năm 1806 dựa trên mẫu vật thu thập được từ Pháp.
Nguyễn Thị Kim Lan và cs. (1999) cho biết: nhiều loài ve là môi giới truyền bệnh dịch hạch của loài gặm nhấm, bệnh viêm não của người, bệnh sốt phát ban, các bệnh nguyên trùng, đặc biệt là bệnh lê dạng trùng của trâu, bò, dê, cừu, ngựa, chó, lợn… 1. Đặc điểm hình thái, cấu tạo của ve Trong các động vật tiết túc ký sinh, ve được coi là động vật nguy hiểm cho người và vật nuôi. Ve là vectơ truyền bệnh ký sinh trùng đường máu và các bệnh truyền nhiễm khác.
Ngoài ra, ve còn gây tổn thương da cho vật nuôi. Do vậy, việc nắm được hình thái, cấu tạo và vòng đời của chúng là vô cùng quan trọng trong việc phòng và trị ve. Ve là động không xương sống, thuộc bộ ve bét (Acarina), lớp hình nhện, ngành chân khớp (Athropoda). Thân ve hình quả lê, màu nâu đen.
Kích thước khoảng 3,5 x 1,5 mm ở ve đực. Ve cái to hơn nhiều, kích thước 11 x 7 mm, màu e 6 nâu sẫm, vàng hay xám bẩn. Chân bám nhọn sắc, phía đuôi có nhiều rua xòe ra hình quạt (Rhipicephalus - Tiếng latin có nghĩa là “hình quạt”). Khi đói cơ thể hướng theo hướng lưng - bụng.
Khi hút máu no, kích thước của ve tăng lên rất nhiều. Luôn luôn có mai lưng bằng kitin cứng phủ ở mặt lưng ve trưởng thành, ấu trùng và thiếu trùng, nó như bộ khung bảo vệ, giúp cho quá trình di chuyển và hoạt động. Cơ thể được phân đốt nhưng không rõ, được phân thành hai phần chính: đầu giả (Capililum) và thân (Idiosoma). * Đầu giả (Capililum) Đầu giả ngắn, gồm 2 phần chính: gốc đầu giả hay gốc đầu (Basiscapituli) và vòi (Gnathosoma) Gốc đầu: là một bao kitin đầu chắc, nơi gắn những cơ vận động xúc biện và các phụ miệng.
Gốc đầu hình sáu cạnh, hai góc bên nhọn và nhô ra ngoài. Trên lưng gốc đầu ve cái có một đôi hõm đầu - cơ quan cảm giác có liên hệ với ống sản trứng. Vòi: gồm có một đôi kìm (Chelicera), tấm dưới miệng (Hypostoma) có nhiều hàng gai nhọn hướng về phía sau và một đôi xúc biện. + Xúc biện ngắn và không lồi cạnh, có bốn đốt có cấu tạo khác nhau, đánh số từ I đến IV bắt đầu từ đốt gốc, ba đốt nhìn rõ mặt lưng, đốt IV nằm ở mặt bụng của đốt III.
Xúc biện của ve là cơ quan cảm giác, giúp phát hiện ra những nơi có da mỏng, nơi có mạch máu. + Đôi kìm hay hàm miệng: nằm giữa hai xúc biện được bao bọc bên ngoài bởi bao kìm. Đôi kìm này có tác dụng rạch da vật chủ. + Tấm dưới miệng: ngắn và không lồi cạnh, là một tấm lẻ, hình thoi gắn vào gốc vòi giữa hai xúc biện, trên đó phủ kín răng hướng về sau.
* Thân (Idiosoma) Thân gồm có mặt lưng và mặt bụng. - Mặt lưng: có mai lưng bằng kitin cứng rắn nên khi hút máu vật chủ, mai này vẫn không thay đổi, chỉ có những phần da mềm thì mới phình rộng ra. Mai lưng của ve đực phủ toàn lưng. Mai lưng của ve cái, thiếu trùng, ấu trùng chỉ phủ một phần ba phía trước lưng, phần còn lại là miền lưng.
Trên mai lưng có mắt, rãnh cổ, rãnh cạnh, rãnh giữa sau và mấu đuôi. Ve cái có mai lưng hình bầu dục dài hơn rộng. e 7 + Mắt: nằm ở hai bên bờ trước mai. Mắt có cấu tạo đơn giản.
+ Hai rãnh cổ bắt đầu từ hai hõm bờ trước chạy song song với trục giữa xuống phía sau. + Rãnh cạnh: nằm giới hạn giữa miền vai và hõm cổ. + Rãnh giữa sau: nằm ở miền giữa theo trục thân. + Mấu đuôi ngắn và tầy (khi ve hút no máu).
+ Rua (feston): là những ô viền ở bờ sau thân. - Mặt bụng gồm có: Lỗ sinh dục nằm ở 1/3 phía trước mặt bụng, chỉ có ở ve trưởng thành. Ở ve đực thường có hình móng ngựa, ở ve cái thường có hình bầu dục. Lỗ hậu môn nằm ở 1/3 phía sau thân.
Lỗ này gồm những tấm van trên bề mặt có nhiều tơ gọi là tơ hậu môn. Rãnh sinh dục thường có hình parabol vòng trước lỗ sinh dục xuống phía đuôi đến tận cùng rua III và rua IV. sanguineus có rãnh hậu môn vòng sau, rãnh hậu môn vòng quanh lỗ hậu môn. Rãnh sau hậu môn bắt đầu từ giữa sau hậu môn đến bờ sau thân.
Tấm thở nằm hai bên hông, sau gốc háng IV, là tấm kitin hẹp, dày. Tấm thở hình dấu phẩy, ở ve đực dài, ở ve cái ngắn. Trên tấm thở có lỗ thở. Tấm bụng là tấm hóa kitin còn gọi là tấm cạnh hậu môn, ở ve đực tấm cạnh hậu môn có hình tam giác.
Chân ve đực, ve cái và thiếu trùng có bốn đôi chân, đánh số thứ tự từ I-IV, từ đôi chân trước đến đôi chân sau cùng, còn ấu trùng thì chỉ có ba đôi chân. Mỗi đôi chân gồm có sáu đốt: háng, chuyển, đùi, ống, chày và bàn chân. Chân có cựa hay gai dùng để áp chặt vào lông của vật chủ. Trên mặt lưng bàn chân I, ở phía cuối có cơ quan cảm giác Haller với nhiều chức năng khác nhau: thính giác, định hướng hoặc thăng bằng.
Ấu trùng có 3 đôi chân, trĩ trùng (thiếu trùng) có 4 đôi chân, đều chưa có lỗ sinh dục (Phan Lục, 2006). e 8 Ve cái Ve đực Hình 1. Ve ký sinh trên chó Ấu trùng Thiếu trùng R. Các giai đoạn phát triển của ve Rhipicephalus sanguineus ký sinh trên chó (Barbieri A.