Luận văn thạc sĩ nghiên cứu đặc điểm dịch tễ bệnh do giun tròn trichocephalus spp gây ra ở lợn tại huyện nguyên bình tỉnh cao bằng

Luận văn thạc sĩ nghiên cứu đặc điểm dịch tễ bệnh do giun tròn Trichocephalus spp gây ra ở lợn tại huyện Nguyên Bình, tỉnh Cao Bằng.

Trường đại học

Đại học Nông Lâm Thái Nguyên

Chuyên ngành

Thú y

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

khóa luận tốt nghiệp

2013

64
2
0

Phí lưu trữ

30 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CẢM ƠN

LỜI NÓI ĐẦU

DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU VIẾT TẮT

1. PHẦN 1: MỞ ĐẦU

1.1. Đặt vấn đề

1.2. Mục đích nghiên cứu

1.3. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài

1.3.1. Ý nghĩa khoa học

1.3.2. Ý nghĩa thực tiễn

2. PHẦN 2: TỔNG QUAN TÀI LIỆU

2.1. Cơ sở khoa học của đề tài

2.2. Đặc điểm sinh học của giun tròn Trichocephalus suis ở lợn

2.3. Vòng đời của giun T. suis

2.4. Sự phát triển, sức đề kháng của trứng giun T. suis lợn ở ngoại cảnh

3. PHẦN 3: ĐỐI TƯỢNG, VẬT LIỆU, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

4. PHẦN 4: KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN

4.1. Đặc điểm dịch tễ bệnh giun T.

4.2. Kết quả điều tra thực trạng phòng chống bệnh ký sinh trùng nói chung và bệnh giun tròn T. suis nói riêng cho lợn ở huyện Nguyên Bình của tỉnh Cao Bằng

4.2.1. Tình hình nhiễm giun tóc T. suis ở huyện Nguyên Bình, tỉnh Cao Bằng

4.2.2. Tỷ lệ và cường độ nhiễm giun T. suis lợn ở các địa phương

4.2.3. Tỷ lệ và cường độ nhiễm giun T. suis theo loại lợn

4.2.4. Tỷ lệ và cường độ nhiễm giun T. suis theo thức ăn chăn nuôi

4.2.5. Tỷ lệ và cường độ nhiễm giun T. suis theo tình trạng vệ sinh thú y

4.2.6. Tình hình nhiễm trứng giun T. suis ở ngoại cảnh

4.2.7. Thời gian trứng giun T. suis phát triển thành trứng cảm nhiễm trong phân lợn

4.2.8. Thời gian chết của trứng giun T. suis cảm nhiễm trong phân lợn

4.3. Nghiên cứu biện pháp phòng trị bệnh giun T. suis cho lợn

4.3.1. Hiệu lực của một số thuốc tẩy giun trong điều trị bệnh giun T. suis cho lợn

4.3.2. Độ an toàn của một số thuốc tẩy trong điều trị bệnh giun T. suis cho lợn

4.3.3. Đề xuất biện pháp phòng trị bệnh giun T. suis cho lợn

5. PHẦN 5: KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Nghiên cứu dịch tễ bệnh giun tròn Trichocephalus spp ở lợn

Nghiên cứu này tập trung vào đặc điểm dịch tễ của bệnh giun tròn Trichocephalus spp ở lợn tại huyện Nguyên Bình, tỉnh Cao Bằng. Mục tiêu chính là xác định tỷ lệ nhiễm, cường độ nhiễm, và các yếu tố ảnh hưởng đến sự lây lan của bệnh. Kết quả nghiên cứu cho thấy, tỷ lệ nhiễm giun tròn ở lợn tại khu vực này khá cao, đặc biệt ở những nơi có điều kiện vệ sinh kém. Dịch tễ học đóng vai trò quan trọng trong việc hiểu rõ chu kỳ phát triển của ký sinh trùng và đề xuất các biện pháp phòng ngừa hiệu quả.

1.1. Tình hình nhiễm giun tròn ở lợn

Kết quả điều tra cho thấy, tỷ lệ nhiễm Trichocephalus spp ở lợn tại Nguyên Bình dao động từ 30-50%, tùy thuộc vào điều kiện chăn nuôi và vệ sinh. Cường độ nhiễm cao nhất được ghi nhận ở lợn nuôi theo phương thức truyền thống, nơi điều kiện vệ sinh chuồng trại không đảm bảo. Ký sinh trùng này gây ra các tổn thương nghiêm trọng ở ruột già, ảnh hưởng đến sức khỏe và năng suất của lợn.

1.2. Yếu tố ảnh hưởng đến dịch tễ bệnh

Các yếu tố như thức ăn, vệ sinh chuồng trại, và điều kiện môi trường đóng vai trò quan trọng trong sự lây lan của bệnh. Nghiên cứu chỉ ra rằng, lợn được nuôi bằng thức ăn tươi sống có nguy cơ nhiễm bệnh cao hơn so với lợn được nuôi bằng thức ăn công nghiệp. Ngoài ra, độ ẩmnhiệt độ môi trường cũng ảnh hưởng đến sự phát triển của trứng giun.

II. Đặc điểm sinh học và vòng đời của Trichocephalus spp

Trichocephalus spp là một loài ký sinh trùng phổ biến ở lợn, có vòng đời phức tạp và khả năng tồn tại lâu trong môi trường. Nghiên cứu này cung cấp thông tin chi tiết về hình thái, cấu tạo, và chu kỳ phát triển của loài giun này. Kết quả cho thấy, trứng giun có khả năng tồn tại trong môi trường ngoại cảnh từ 15-28 ngày, tùy thuộc vào điều kiện nhiệt độ và độ ẩm.

2.1. Hình thái và cấu tạo

Giun Trichocephalus spp có hình dạng giống sợi tóc, với phần đầu nhỏ và phần sau to hơn. Con đực có chiều dài trung bình 40 mm, trong khi con cái dài hơn, khoảng 45-50 mm. Trứng giun có hình bầu dục, kích thước khoảng 0.025-0.030 mm, với vỏ dày và hai cực có nút trong. Hình thái này giúp giun thích nghi tốt với môi trường ký sinh trong ruột lợn.

2.2. Vòng đời và sự phát triển

Vòng đời của Trichocephalus spp không cần vật chủ trung gian. Trứng giun được bài tiết qua phân lợn và phát triển thành trứng cảm nhiễm trong môi trường ngoại cảnh. Khi lợn nuốt phải trứng cảm nhiễm, ấu trùng sẽ nở ra và phát triển thành giun trưởng thành trong ruột già. Chu kỳ phát triển này kéo dài khoảng 30-52 ngày, tùy thuộc vào điều kiện môi trường.

III. Biện pháp phòng và trị bệnh giun tròn ở lợn

Nghiên cứu đề xuất các biện pháp phòng trị bệnh giun tròn Trichocephalus spp ở lợn, bao gồm việc sử dụng thuốc tẩy giun và cải thiện điều kiện vệ sinh chuồng trại. Kết quả thử nghiệm cho thấy, một số loại thuốc tẩy giun có hiệu quả cao trong việc giảm tỷ lệ nhiễm bệnh. Ngoài ra, việc áp dụng các biện pháp vệ sinh và quản lý chuồng trại cũng góp phần hạn chế sự lây lan của bệnh.

3.1. Hiệu quả của thuốc tẩy giun

Nghiên cứu đánh giá hiệu quả của một số loại thuốc tẩy giun trong điều trị bệnh Trichocephalus spp. Kết quả cho thấy, các loại thuốc như Albendazole và Fenbendazole có hiệu quả cao, giảm tỷ lệ nhiễm bệnh xuống dưới 10% sau 2 tuần điều trị. Độ an toàn của các loại thuốc này cũng được đánh giá cao, không gây tác dụng phụ nghiêm trọng cho lợn.

3.2. Cải thiện điều kiện vệ sinh

Việc cải thiện điều kiện vệ sinh chuồng trại, bao gồm việc dọn dẹp phân thường xuyên và sử dụng chất khử trùng, giúp giảm đáng kể sự lây lan của bệnh. Nghiên cứu khuyến cáo người chăn nuôi nên áp dụng các biện pháp vệ sinh nghiêm ngặt để hạn chế sự phát triển của trứng giun trong môi trường.

09/03/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

Đặt vấn đề Đất nước ta đang trên đường công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Cùng với sự phát triển của nền kinh tế quốc dân, ngành chăn nuôi cũng đang từng bước phát triển cả về số lượng và chất lượng nhờ áp dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất. Chăn nuôi lợn là một ngành truyền thống, chiếm vị trí rất quan trọng, đem lại hiệu quả kinh tế cao, góp phần vào việc xóa đói giảm nghèo cho người dân ở nông thôn. Chăn nuôi lợn cung cấp một khối lượng thực phẩm lớn có giá trị dinh dưỡng cao và không thể thiếu trong bữa ăn hàng ngày cho mỗi gia đình.

Chăn nuôi lợn phát triển không chỉ cung cấp nguồn thực phẩm cho xã hội mà còn cung cấp nguyên liệu cho ngành công nghiệp chế biến và phân bón cho ngành trồng trọt. Phân lợn là loại có chất dinh dưỡng cao đối với cây trồng (5 – 25 % vật chất khô; trong đó1,6 - 1,8 % nitơ; 0,6 - 2,1 % phospho và 1,7 - 3,6 % kali). Hiện nay phân lợn còn được dùng làm nguyên liệu sản xuất khí đốt (biogas) vừa đem lại hiệu quả kinh tế cao, vừa có tác dụng chống ô nhiễm môi trường. Để đạt hiệu quả kinh tế cao trong chăn nuôi lợn, ngoài các yếu tố như giống, thức ăn, chế độ chăm sóc nuôi dưỡng… thì biện pháp phòng và trị bệnh, đặc biệt là biện pháp phòng và trị bệnh ký sinh trùng cho lợn cũng có ý nghĩa hết sức quan trọng.

Tuy nhiên, thực tế cho thấy dịch bệnh vẫn thường xuyên xảy ra, gây nên những thiệt hại đáng kể cho ngành chăn nuôi. Vì vậy, để phát triển ngành chăn thì bên cạnh việc thực hiện tốt công tác giống, thức ăn… còn phải quan tâm nhiều hơn đến công tác thú y, đặc biệt với xu hướng chăn nuôi tập trung, quy mô trang trại như hiện nay. Việt Nam là một nước nằm trong vùng Đông Nam Á có khí hậu nhiệt đới nóng ẩm, có rất nhiều loài ký sinh trùng phát triển, ký sinh và gây bệnh cho vật nuôi. Trong đó có loài giun tròn Trichocephalus suis ký sinh và gây bệnh ở lợn.

n 2 Trichocephalus suis ký sinh đã gây ra các tổn thương và viêm nhiễm kế phát do vi khuẩn xâm nhập vào các nội quan của lợn, ảnh hưởng tới quá trình sinh trưởng, đặc biệt là tiêu tốn thức ăn, giảm tăng trọng từ 15 – 20 % so với lợn không bị bệnh (Phạm Sỹ Lăng và cs, 2006) [18]. Cao Bằng là một tỉnh miền núi phía Bắc Việt Nam có nghề chăn nuôi lợn khá phát triển. Tuy nhiên, công tác phòng chống bệnh giun tròn Trichocephalus suis chưa được chú ý và nghiên cứu một cách đầy đủ, toàn diện. Xuất phát từ nhu cầu thực tế sản xuất trong chăn nuôi lợn ở tỉnh Cao Bằng, chúng tôi thực hiện đề tài: “Nghiên cứu đặc điểm dịch tễ bệnh do giun tròn Trichocephalus spp.

gây ra ở lợn tại huyện Nguyên Bình, tỉnh Cao Bằng”. Mục đích nghiên cứu - Nghiên cứu tình hình nhiễm và sự phát triển của trứng giun Trichocephalus spp. ở lợn tại huyện Nguyên Bình, tỉnh Cao Bằng. - Nghiên cứu đặc điểm dịch tễ bệnh do giun tròn Trichocephalus spp.

gây ra ở lợn. - Nghiên cứu biện pháp phòng trị bệnh Trichocephalus spp. - Đề xuất quy trình phòng trị bệnh giun Trichocephalus spp. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 1.

Ý nghĩa khoa học Kết quả của đề tài là những thông tin khoa học về đặc điểm dịch tễ và quy trình phòng chống bệnh giun tròn Trichocephalus spp. Ý nghĩa thực tiễn Kết quả của đề tài là cơ sở khoa học để khuyến cáo người chăn nuôi áp dụng quy trình phòng, trị bệnh giun Trichocephalus spp. cho lợn, nhằm hạn chế tỷ lệ và cường độ nhiễm giun ở lợn, hạn chế tác hại đối với lợn, góp phần nâng cao năng suất chăn nuôi, thúc đẩy ngành chăn nuôi lợn tại khu vực tỉnh Cao Bằng phát triển. n 3 PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2.

Cơ sở khoa học của đề tài 2. Đặc điểm sinh học của giun tròn Trichocephalus suis ở lợn. Vị trí của giun tròn Trichocephalus suis trong hệ thống phân loại động vật học. Theo Phan Thế Việt và cs (1977) [34], Nguyễn Thị Lê và cs (1996) [21] vị trí của giun tròn Trichocephalus suis (T.

suis) trong hệ thống phân loại động vật như sau: Lớp Nematoda Rudolphi, 1808 Phân lớp Enoplia Chitwood, 1933 Bộ Trichocephalida Skrjabin et Schulz, 1928 Phân bộ Trichocephalata Skrjabin et Schulz, 1928 Họ Trichocephalidae Baird, 1953 Phân họ Trichocephalinae Ransom, 1911 Giống Trichocephalus Schrank, 1788 Loài Trichocephalus suis Schrank, 1788 2. Đặc điểm hình thái, cấu tạo của giun T. suis lợn Theo Đỗ Dương Thái và cs (1975) [25], màu sắc trứng giun T. suis là một màu ổn định, thay đổi ít từ màu vàng nhạt đến màu vàng sẫm.

Hình dạng trứng giun T. suis không có hình dạng bất thường đáng kể nhưng chiều ngang của trứng có thể thay đổi chút ít, có những chiều ngang rộng hẹp khác nhau. suis có chu kỳ phát triển chậm, vì vậy hình dạng nhân bên trong ít có những thay đổi. Nhân bên trong thường thành một khối chưa phân chia.

Theo Nguyễn Thị Lê và cs (1996) [21], con đực dài 37,52 - 40,63 mm; rộng nhất 0,634 - 0,713 mm. Phần trước cơ thể dài 23,48 - 25,75 mm; phần sau n 4 dài 14,00 - 15,00 mm; có dạng xoắn lò xo. Gai sinh dục dài 1,70 - 2,55 mm; rộng 0,07 - 0,10 mm; mút cuối gai nhọn. Bao gai phủ đầy gai nhỏ.

Lỗ huyệt nằm ở mút cuối đuôi. Con cái dài 37,89 - 50,60 mm; rộng 0,734 - 1,012 mm; phần trước cơ thể dài 23 - 33 mm. Ống sinh dục đơn. Âm đạo có thành cơ dày, chứa đầy trứng.

Kích thước trứng 0,024 - 0,027 x 0,056 - 0,061 mm. suis có hình thái cấu tạo như sau: Con đực có chiều dài thân trung bình là 40,35 mm; tối thiểu 33,0 mm; tối đa là 48,0 mm. Chiều dài của phần trước trung bình là 25,3 mm (20 – 30 mm); phần sau 15,1 mm (12 - 19 mm). Tỷ lệ chiều dài của phần trước với phần sau là 1,68 : 1.

Thân con đực phủ lớp cutin được vạch bởi nhiều rãnh ngang, làm cho lớp cutin có nhiều mấp mô, hình răng nhỏ. Thực quản kéo dài dọc theo phần mỏng trước thân và chuyển vào ruột ở chỗ ranh giới giữa phần mỏng và dày của thân. Chiều rộng của phần trước thực quản 0,035 - 0,44 mm; của chỗ chuyển vào ruột 0,074 - 0,092 mm. Thực quản được bao quanh bởi một hàng tế bào đơn nhân dạng móc xích.

Ruột kết thúc bởi huyệt trên phần đuôi. Hệ thống sinh dục của con đực gồm những ống dẫn tinh uốn khúc chiếm hầu hết phần sau thân. Đuôi con đực vòng xoắn ốc. Gai giao hợp kết thúc bằng một đỉnh nhọn.

Chiều dài gai xê dịch từ 1,74 - 2,48 mm. Chỗ rộng nhất của gai là gốc gai dài 0,084 - 0,110 mm. Có bao gai bọc chung quanh và cùng với gai lồi ra khỏi lỗ huyệt. Bao gai được phủ bởi rất nhiều gai nhỏ, những gai này xếp theo thứ tự quân cờ.

Số lượng hàng gai nhỏ gần nơi chuyển của bao vào thân là 24 - 42; ở đầu đối diện với nó số lượng hàng tăng tới 44 - 56. Hình dạng bao gai tròn, căng, dài 0,044 mm. Chiều rộng chỗ gần huyệt là 0,057 - 0,092 mm; trong khi đó ở chỗ cuối gai là 0,079 - 0,159 mm. Tất cả con đực có một đầu bao gai gập hình cổ tay áo hay là hình bao tay, bao này một phần hay toàn bộ bao phủ phần bao gai lồi ra khỏi thân.

Chiều dài của chỗ gập là 0,242 - 0,330 mm; chiều rộng là 0,290 - 0,352 mm. Con cái: Chiều dài thân trung bình 45,55 mm; tối thiểu 38 mm và tối đa 53 mm. Chiều dài phần trước mỏng của thân trung bình là 30,55 mm (25 - 35 mm); chiều dài phần sau dày là 15 mm (13 - 18 mm). Như vậy tỷ lệ giữa phần trước và phần sau là 2,04: 1.

Trên ranh giới chỗ chuyển tiếp của phần thân trước và phần thân sau, hơi dịch về phía sau cách đầu cuối của thực n 5 quản có âm hộ. Âm hộ này nhô ra ngoài, dạng hình trụ hơi cong về phía sau (0,037 - 0,61 mm) và hơi rộng ở chỗ cạnh tự do (0,050 - 0,075 mm). Chỗ này được phủ rất nhiều gai nhỏ hình lưới (3 - 4 µ m). Ngay trước âm hộ, tử cung có hình ống thẳng hay hơi cong, dài 0,92 - 1,28 mm; trong tử cung có trứng xếp thành một hàng.

Đuôi con cái tù. Trứng dài 0,056 - 0,066 mm và rộng 0,025 - 0,030 mm. Phan Địch Lân và cs (2005) [20] cho biết: Hình thể giun T. suis giống roi ngựa hoặc sợi tóc màu trắng, cơ thể chia thành hai phần rõ rệt, thực quản có các tế bào xếp thành chuỗi hạt dài 2/3 cơ thể.

Phần sau ngắn và to, bên trong là ruột và cơ quan sinh sản. Giun đực dài 20 - 52 mm, đuôi hơi tù, phần đuôi cuộn tròn lại, chỉ có một gai giao hợp dài 5 - 7 mm, được bọc trong một cái màng có nhiều gai nhỏ bao phủ. Lỗ sinh tiết thông với ngoài ở phần cuối của giun. Giun cái dài 39 - 53 mm, đuôi thẳng.

Hậu môn ở đoạn cuối cùng, âm hộ ở đoạn cuối thực quản. suis hình hạt chanh, màu vàng nhạt, kích thước 0,052 - 0,061 x 0,027 - 0,03 mm. Hai cực có hai nút trong, vỏ dày có 2 lớp. Giun Trichocephalus suis a: Trứng giun; b: Giun cái; c: Giun đực (Nguồn: Phan Địch Lân và cs, 2005) [20] Theo Phạm Sỹ Lăng và cs (2009) [35]: Giun T.

suis có màu trắng đục; Thân chia ra làm hai phần rõ rệt: phần đầu nhỏ, trông giống như sợi tóc, phần sau ngắn và to, bên trong là ruột và cơ quan sinh sản. Giun đực đuôi hơi tù, cuộn tròn lại, có một gai giao hợp dài 1,70 - 2 mm, lỗ huyệt n 6 thông ra ngoài phần cuối của giun. Giun cái đuôi thẳng, hậu môn ở đoạn cuối của thân. Nguyễn Thị Kim Lan (2012) [36] cho biết: Hình thể của giun giống như một sợi tóc màu trắng.

Cơ thể chia thành hai phần rõ rệt. Phần trước nhỏ như sợi tóc, dưới lớp biểu bì là thực quản, thực quản do các tế bào xếp nối tiếp như chuỗi hạt, phần này chiếm 2/3 chiều dài cơ thể. Phần sau ngắn và to, bên trong là ruột và cơ quan sinh sản. Giun đực dài 20 - 52 mm đuôi hơi tù, phần đuôi cuộn tròn lại chỉ có một gai giao hợp rất dài 5 - 7 mm, gai giao hợp được bọc trong một cái màng có nhiều gai nhỏ bao phủ.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Tài liệu "Nghiên cứu dịch tễ bệnh giun tròn Trichocephalus spp ở lợn tại Nguyên Bình, Cao Bằng" cung cấp cái nhìn sâu sắc về tình hình dịch tễ của bệnh giun tròn ở lợn, một vấn đề quan trọng trong chăn nuôi tại khu vực này. Nghiên cứu không chỉ phân tích sự phổ biến của loại giun này mà còn đề xuất các biện pháp phòng ngừa và điều trị hiệu quả, giúp người chăn nuôi nâng cao sức khỏe đàn lợn và giảm thiểu thiệt hại kinh tế.

Để mở rộng kiến thức của bạn về các bệnh ký sinh trùng khác ở động vật, bạn có thể tham khảo thêm tài liệu Luận văn tốt nghiệp nghiên cứu một số đặc điểm dịch tễ bệnh giun thực quản ở chó tại thị xã Phổ Yên tỉnh Thái Nguyên và sử dụng thuốc điều trị, nơi nghiên cứu về bệnh giun thực quản ở chó. Ngoài ra, tài liệu Luận văn thạc sĩ nghiên cứu một số đặc điểm sinh học của giun tròn Oesophagostomum spp gây ra trên lợn tại huyện Bạch Thông tỉnh Bắc Kạn và biện pháp phòng trị cũng sẽ cung cấp thêm thông tin hữu ích về các loại giun tròn khác. Cuối cùng, bạn có thể tìm hiểu về Luận văn thạc sĩ nghiên cứu một số đặc điểm dịch tễ bệnh giun đũa chó ở huyện Phú Lương tỉnh Thái Nguyên và biện pháp phòng trị, giúp bạn có cái nhìn tổng quát hơn về các bệnh ký sinh trùng ở chó. Những tài liệu này sẽ giúp bạn mở rộng kiến thức và hiểu rõ hơn về các vấn đề liên quan đến sức khỏe động vật.