Đặt vấn đề Đất nước ta đang trên đường công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Cùng với sự phát triển của nền kinh tế quốc dân, ngành chăn nuôi cũng đang từng bước phát triển cả về số lượng và chất lượng nhờ áp dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất. Chăn nuôi lợn là một ngành truyền thống, chiếm vị trí rất quan trọng, đem lại hiệu quả kinh tế cao, góp phần vào việc xóa đói giảm nghèo cho người dân ở nông thôn. Chăn nuôi lợn cung cấp một khối lượng thực phẩm lớn có giá trị dinh dưỡng cao và không thể thiếu trong bữa ăn hàng ngày cho mỗi gia đình.
Chăn nuôi lợn phát triển không chỉ cung cấp nguồn thực phẩm cho xã hội mà còn cung cấp nguyên liệu cho ngành công nghiệp chế biến và phân bón cho ngành trồng trọt. Phân lợn là loại có chất dinh dưỡng cao đối với cây trồng (5 – 25 % vật chất khô; trong đó1,6 - 1,8 % nitơ; 0,6 - 2,1 % phospho và 1,7 - 3,6 % kali). Hiện nay phân lợn còn được dùng làm nguyên liệu sản xuất khí đốt (biogas) vừa đem lại hiệu quả kinh tế cao, vừa có tác dụng chống ô nhiễm môi trường. Để đạt hiệu quả kinh tế cao trong chăn nuôi lợn, ngoài các yếu tố như giống, thức ăn, chế độ chăm sóc nuôi dưỡng… thì biện pháp phòng và trị bệnh, đặc biệt là biện pháp phòng và trị bệnh ký sinh trùng cho lợn cũng có ý nghĩa hết sức quan trọng.
Tuy nhiên, thực tế cho thấy dịch bệnh vẫn thường xuyên xảy ra, gây nên những thiệt hại đáng kể cho ngành chăn nuôi. Vì vậy, để phát triển ngành chăn thì bên cạnh việc thực hiện tốt công tác giống, thức ăn… còn phải quan tâm nhiều hơn đến công tác thú y, đặc biệt với xu hướng chăn nuôi tập trung, quy mô trang trại như hiện nay. Việt Nam là một nước nằm trong vùng Đông Nam Á có khí hậu nhiệt đới nóng ẩm, có rất nhiều loài ký sinh trùng phát triển, ký sinh và gây bệnh cho vật nuôi. Trong đó có loài giun tròn Trichocephalus suis ký sinh và gây bệnh ở lợn.
n 2 Trichocephalus suis ký sinh đã gây ra các tổn thương và viêm nhiễm kế phát do vi khuẩn xâm nhập vào các nội quan của lợn, ảnh hưởng tới quá trình sinh trưởng, đặc biệt là tiêu tốn thức ăn, giảm tăng trọng từ 15 – 20 % so với lợn không bị bệnh (Phạm Sỹ Lăng và cs, 2006) [18]. Cao Bằng là một tỉnh miền núi phía Bắc Việt Nam có nghề chăn nuôi lợn khá phát triển. Tuy nhiên, công tác phòng chống bệnh giun tròn Trichocephalus suis chưa được chú ý và nghiên cứu một cách đầy đủ, toàn diện. Xuất phát từ nhu cầu thực tế sản xuất trong chăn nuôi lợn ở tỉnh Cao Bằng, chúng tôi thực hiện đề tài: “Nghiên cứu đặc điểm dịch tễ bệnh do giun tròn Trichocephalus spp.
gây ra ở lợn tại huyện Nguyên Bình, tỉnh Cao Bằng”. Mục đích nghiên cứu - Nghiên cứu tình hình nhiễm và sự phát triển của trứng giun Trichocephalus spp. ở lợn tại huyện Nguyên Bình, tỉnh Cao Bằng. - Nghiên cứu đặc điểm dịch tễ bệnh do giun tròn Trichocephalus spp.
gây ra ở lợn. - Nghiên cứu biện pháp phòng trị bệnh Trichocephalus spp. - Đề xuất quy trình phòng trị bệnh giun Trichocephalus spp. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 1.
Ý nghĩa khoa học Kết quả của đề tài là những thông tin khoa học về đặc điểm dịch tễ và quy trình phòng chống bệnh giun tròn Trichocephalus spp. Ý nghĩa thực tiễn Kết quả của đề tài là cơ sở khoa học để khuyến cáo người chăn nuôi áp dụng quy trình phòng, trị bệnh giun Trichocephalus spp. cho lợn, nhằm hạn chế tỷ lệ và cường độ nhiễm giun ở lợn, hạn chế tác hại đối với lợn, góp phần nâng cao năng suất chăn nuôi, thúc đẩy ngành chăn nuôi lợn tại khu vực tỉnh Cao Bằng phát triển. n 3 PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2.
Cơ sở khoa học của đề tài 2. Đặc điểm sinh học của giun tròn Trichocephalus suis ở lợn. Vị trí của giun tròn Trichocephalus suis trong hệ thống phân loại động vật học. Theo Phan Thế Việt và cs (1977) [34], Nguyễn Thị Lê và cs (1996) [21] vị trí của giun tròn Trichocephalus suis (T.
suis) trong hệ thống phân loại động vật như sau: Lớp Nematoda Rudolphi, 1808 Phân lớp Enoplia Chitwood, 1933 Bộ Trichocephalida Skrjabin et Schulz, 1928 Phân bộ Trichocephalata Skrjabin et Schulz, 1928 Họ Trichocephalidae Baird, 1953 Phân họ Trichocephalinae Ransom, 1911 Giống Trichocephalus Schrank, 1788 Loài Trichocephalus suis Schrank, 1788 2. Đặc điểm hình thái, cấu tạo của giun T. suis lợn Theo Đỗ Dương Thái và cs (1975) [25], màu sắc trứng giun T. suis là một màu ổn định, thay đổi ít từ màu vàng nhạt đến màu vàng sẫm.
Hình dạng trứng giun T. suis không có hình dạng bất thường đáng kể nhưng chiều ngang của trứng có thể thay đổi chút ít, có những chiều ngang rộng hẹp khác nhau. suis có chu kỳ phát triển chậm, vì vậy hình dạng nhân bên trong ít có những thay đổi. Nhân bên trong thường thành một khối chưa phân chia.
Theo Nguyễn Thị Lê và cs (1996) [21], con đực dài 37,52 - 40,63 mm; rộng nhất 0,634 - 0,713 mm. Phần trước cơ thể dài 23,48 - 25,75 mm; phần sau n 4 dài 14,00 - 15,00 mm; có dạng xoắn lò xo. Gai sinh dục dài 1,70 - 2,55 mm; rộng 0,07 - 0,10 mm; mút cuối gai nhọn. Bao gai phủ đầy gai nhỏ.
Lỗ huyệt nằm ở mút cuối đuôi. Con cái dài 37,89 - 50,60 mm; rộng 0,734 - 1,012 mm; phần trước cơ thể dài 23 - 33 mm. Ống sinh dục đơn. Âm đạo có thành cơ dày, chứa đầy trứng.
Kích thước trứng 0,024 - 0,027 x 0,056 - 0,061 mm. suis có hình thái cấu tạo như sau: Con đực có chiều dài thân trung bình là 40,35 mm; tối thiểu 33,0 mm; tối đa là 48,0 mm. Chiều dài của phần trước trung bình là 25,3 mm (20 – 30 mm); phần sau 15,1 mm (12 - 19 mm). Tỷ lệ chiều dài của phần trước với phần sau là 1,68 : 1.
Thân con đực phủ lớp cutin được vạch bởi nhiều rãnh ngang, làm cho lớp cutin có nhiều mấp mô, hình răng nhỏ. Thực quản kéo dài dọc theo phần mỏng trước thân và chuyển vào ruột ở chỗ ranh giới giữa phần mỏng và dày của thân. Chiều rộng của phần trước thực quản 0,035 - 0,44 mm; của chỗ chuyển vào ruột 0,074 - 0,092 mm. Thực quản được bao quanh bởi một hàng tế bào đơn nhân dạng móc xích.
Ruột kết thúc bởi huyệt trên phần đuôi. Hệ thống sinh dục của con đực gồm những ống dẫn tinh uốn khúc chiếm hầu hết phần sau thân. Đuôi con đực vòng xoắn ốc. Gai giao hợp kết thúc bằng một đỉnh nhọn.
Chiều dài gai xê dịch từ 1,74 - 2,48 mm. Chỗ rộng nhất của gai là gốc gai dài 0,084 - 0,110 mm. Có bao gai bọc chung quanh và cùng với gai lồi ra khỏi lỗ huyệt. Bao gai được phủ bởi rất nhiều gai nhỏ, những gai này xếp theo thứ tự quân cờ.
Số lượng hàng gai nhỏ gần nơi chuyển của bao vào thân là 24 - 42; ở đầu đối diện với nó số lượng hàng tăng tới 44 - 56. Hình dạng bao gai tròn, căng, dài 0,044 mm. Chiều rộng chỗ gần huyệt là 0,057 - 0,092 mm; trong khi đó ở chỗ cuối gai là 0,079 - 0,159 mm. Tất cả con đực có một đầu bao gai gập hình cổ tay áo hay là hình bao tay, bao này một phần hay toàn bộ bao phủ phần bao gai lồi ra khỏi thân.
Chiều dài của chỗ gập là 0,242 - 0,330 mm; chiều rộng là 0,290 - 0,352 mm. Con cái: Chiều dài thân trung bình 45,55 mm; tối thiểu 38 mm và tối đa 53 mm. Chiều dài phần trước mỏng của thân trung bình là 30,55 mm (25 - 35 mm); chiều dài phần sau dày là 15 mm (13 - 18 mm). Như vậy tỷ lệ giữa phần trước và phần sau là 2,04: 1.
Trên ranh giới chỗ chuyển tiếp của phần thân trước và phần thân sau, hơi dịch về phía sau cách đầu cuối của thực n 5 quản có âm hộ. Âm hộ này nhô ra ngoài, dạng hình trụ hơi cong về phía sau (0,037 - 0,61 mm) và hơi rộng ở chỗ cạnh tự do (0,050 - 0,075 mm). Chỗ này được phủ rất nhiều gai nhỏ hình lưới (3 - 4 µ m). Ngay trước âm hộ, tử cung có hình ống thẳng hay hơi cong, dài 0,92 - 1,28 mm; trong tử cung có trứng xếp thành một hàng.
Đuôi con cái tù. Trứng dài 0,056 - 0,066 mm và rộng 0,025 - 0,030 mm. Phan Địch Lân và cs (2005) [20] cho biết: Hình thể giun T. suis giống roi ngựa hoặc sợi tóc màu trắng, cơ thể chia thành hai phần rõ rệt, thực quản có các tế bào xếp thành chuỗi hạt dài 2/3 cơ thể.
Phần sau ngắn và to, bên trong là ruột và cơ quan sinh sản. Giun đực dài 20 - 52 mm, đuôi hơi tù, phần đuôi cuộn tròn lại, chỉ có một gai giao hợp dài 5 - 7 mm, được bọc trong một cái màng có nhiều gai nhỏ bao phủ. Lỗ sinh tiết thông với ngoài ở phần cuối của giun. Giun cái dài 39 - 53 mm, đuôi thẳng.
Hậu môn ở đoạn cuối cùng, âm hộ ở đoạn cuối thực quản. suis hình hạt chanh, màu vàng nhạt, kích thước 0,052 - 0,061 x 0,027 - 0,03 mm. Hai cực có hai nút trong, vỏ dày có 2 lớp. Giun Trichocephalus suis a: Trứng giun; b: Giun cái; c: Giun đực (Nguồn: Phan Địch Lân và cs, 2005) [20] Theo Phạm Sỹ Lăng và cs (2009) [35]: Giun T.
suis có màu trắng đục; Thân chia ra làm hai phần rõ rệt: phần đầu nhỏ, trông giống như sợi tóc, phần sau ngắn và to, bên trong là ruột và cơ quan sinh sản. Giun đực đuôi hơi tù, cuộn tròn lại, có một gai giao hợp dài 1,70 - 2 mm, lỗ huyệt n 6 thông ra ngoài phần cuối của giun. Giun cái đuôi thẳng, hậu môn ở đoạn cuối của thân. Nguyễn Thị Kim Lan (2012) [36] cho biết: Hình thể của giun giống như một sợi tóc màu trắng.
Cơ thể chia thành hai phần rõ rệt. Phần trước nhỏ như sợi tóc, dưới lớp biểu bì là thực quản, thực quản do các tế bào xếp nối tiếp như chuỗi hạt, phần này chiếm 2/3 chiều dài cơ thể. Phần sau ngắn và to, bên trong là ruột và cơ quan sinh sản. Giun đực dài 20 - 52 mm đuôi hơi tù, phần đuôi cuộn tròn lại chỉ có một gai giao hợp rất dài 5 - 7 mm, gai giao hợp được bọc trong một cái màng có nhiều gai nhỏ bao phủ.