Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Chăn nuôi lợn tại Việt Nam giữ vị trí chủ lực trong cơ cấu kinh tế nông nghiệp, vừa cung cấp nguồn thực phẩm thiết yếu cho xã hội, vừa tạo nguồn phân bón hữu cơ dồi dào và khí sinh học (biogas) phục vụ sản xuất và bảo vệ môi trường. Tuy nhiên, điều kiện khí hậu nhiệt đới nóng ẩm của nước ta tạo môi trường lý tưởng cho sự tồn tại và phát tán của nhiều loài ký sinh trùng đường tiêu hóa, trong đó có loài giun tròn Trichocephalus suis (T. suis). Giun cắm phần đầu hình sợi tóc vào niêm mạc manh tràng và kết tràng để hút chất dinh dưỡng, gây tổn thương cơ giới, tiết độc tố làm viêm loét ruột già, kích thích hội chứng tiêu chảy dạng hồng lỵ và làm tiêu tốn thức ăn, khiến lợn giảm tăng trọng từ 15% đến 20% so với lợn khỏe mạnh.

Tỉnh Cao Bằng là địa phương miền núi phía Bắc có nghề chăn nuôi lợn phát triển mạnh theo cả quy mô nông hộ và trang trại tập trung. Dẫu vậy, nhận thức và biện pháp kỹ thuật của người chăn nuôi trong việc phòng trừ bệnh ký sinh trùng nói chung và giun Trichocephalus spp. nói riêng còn hạn chế, dẫn đến nguy cơ dịch bệnh phát tán thường xuyên. Xuất phát từ nhu cầu thực tiễn đó, khóa luận tốt nghiệp của tác giả Đinh Đức Giang thực hiện đề tài nhằm làm rõ dịch tễ học và đánh giá biện pháp can thiệp tại địa phương.

Mục tiêu nghiên cứu của khóa luận được xác định cụ thể theo 4 nhiệm vụ:

  1. Nghiên cứu tình hình nhiễm và sự phát triển của trứng giun Trichocephalus spp. ở lợn tại huyện Nguyên Bình, tỉnh Cao Bằng.
  2. Nghiên cứu đặc điểm dịch tễ bệnh do giun tròn Trichocephalus spp. gây ra ở lợn.
  3. Nghiên cứu biện pháp phòng trị bệnh Trichocephalus spp.
  4. Đề xuất quy trình phòng trị bệnh giun Trichocephalus spp. cho lợn.

Đối tượng nghiên cứu là đàn lợn thuộc các lứa tuổi khác nhau nuôi tại các hộ gia đình và trang trại trên địa bàn huyện Nguyên Bình, cùng các mẫu bệnh phẩm phân tươi, mẫu cặn nền chuồng, mẫu đất bề mặt xung quanh chuồng nuôi và mẫu đất vườn bãi trồng cây thức ăn. Phạm vi không gian nghiên cứu gồm 4 xã đại diện của huyện Nguyên Bình (Minh Thanh, Lang Môn, Ca Thành, Thái Học); công tác phân tích, xét nghiệm mẫu được tiến hành tại Phòng thí nghiệm Khoa Chăn nuôi Thú y - Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên. Phạm vi thời gian nghiên cứu thực địa và phòng thí nghiệm kéo dài từ ngày 03/06/2013 đến ngày 18/11/2013.

Cơ sở khoa học và phương pháp nghiên cứu

Về mặt phân loại học động vật, đề tài căn cứ vào hệ thống phân loại của Phan Thế Việt và cộng sự (1977), Nguyễn Thị Lê và cộng sự (1996): loài giun tóc ký sinh ở lợn thuộc Lớp Nematoda Rudolphi, 1808; Phân lớp Enoplia Chitwood, 1933; Bộ Trichocephalida Skrjabin et Schulz, 1928; Phân bộ Trichocephalata Skrjabin et Schulz, 1928; Họ Trichocephalidae Baird, 1953; Phân họ Trichocephalinae Ransom, 1911; Giống Trichocephalus Schrank, 1788; Loài Trichocephalus suis Schrank, 1788. Giun có đặc điểm hình thái đặc thù: phần đầu dài và mảnh như sợi tóc (chiếm 2/3 chiều dài cơ thể), phần sau ngắn và dày chứa cơ quan sinh sản và ống tiêu hóa. Giun đực dài 37,52 - 40,63 mm (hoặc 20 - 52 mm), đuôi cuộn xoắn lò xo, có một gai giao hợp dài bọc trong bao gai phủ đầy gai nhỏ; giun cái dài 37,89 - 50,60 mm (hoặc 39 - 53 mm), đuôi thẳng. Trứng có màu vàng, dạng hình hạt chanh đặc trưng với hai đầu có hai nút nhầy trong suốt, kích thước 0,052 - 0,061 x 0,024 - 0,030 mm. Vòng đời của giun diễn ra trực tiếp, không qua vật chủ trung gian, kéo dài 30 - 52 ngày.

Phương pháp nghiên cứu thực địa và phòng thí nghiệm được triển khai đồng bộ:

  • Phương pháp điều tra dịch tễ học: Kết hợp quan sát trực tiếp chuồng trại, nguồn nước, dụng cụ chăn nuôi và phỏng vấn bảng hỏi đối với 180 hộ chăn nuôi tại 4 xã để đánh giá thực trạng vệ sinh thú y, tần suất khử trùng tiêu độc, cách xử lý phân và lịch tẩy giun định kỳ.
  • Phương pháp thu thập mẫu phân tầng: Chọn ngẫu nhiên 4 xã thuộc huyện Nguyên Bình, mỗi xã chọn 4 thôn/bản. Tại các hộ chăn nuôi, thu thập tổng cộng 582 mẫu phân tươi ở các lứa tuổi lợn (≤ 2 tháng, > 2 - 4 tháng, > 4 - 6 tháng, > 6 tháng), 160 mẫu cặn nền chuồng, 160 mẫu đất bề mặt xung quanh chuồng nuôi (bán kính 5m) và 160 mẫu đất vườn bãi trồng cây thức ăn.
  • Phương pháp xét nghiệm ký sinh trùng:
    • Xét nghiệm định tính trứng giun bằng phương pháp lắng - nổi Fülleborn: dùng dung dịch muối ăn (NaCl) bão hòa có tỷ trọng D = 1,18 - 1,2 để đẩy trứng giun nổi lên mặt phiến kính và soi dưới kính hiển vi quang học ở độ phóng đại 100 lần.
    • Xét nghiệm định lượng cường độ nhiễm bằng buồng đếm McMaster: xác định số trứng trên một gam phân (EPG). Tiêu chuẩn phân loại cường độ: nhiễm nhẹ (≤ 500 trứng/g), nhiễm trung bình (> 500 - 1000 trứng/g), nhiễm nặng (> 1000 trứng/g).
    • Nghiên cứu sinh học ngoại cảnh: nuôi cấy trứng giun trong phân lợn đặt tại khay nhựa trong phòng thí nghiệm để xác định thời gian phát triển thành trứng cảm nhiễm và thời gian chết của trứng.
  • Phương pháp thử nghiệm thuốc: Thử nghiệm hai loại thuốc tẩy giun là Ziquan-mectin (thành phần Ivermectin, Praziquantel; dùng tiêm bắp hoặc dưới da) và Bendazol (thành phần Albendazol; dùng trộn thức ăn hoặc pha nước uống). Xác định khối lượng lợn theo công thức tính thể trọng qua vòng ngực và dài thân: $P\text{ (kg)} = 87,5 \times VN^2 \times DT$. Đếm số trứng/gam phân trước khi dùng thuốc và ở các mốc ngày 5, 10, 15 sau khi dùng thuốc; đồng thời mổ khám kiểm tra giun sót ở ruột già và theo dõi phản ứng lâm sàng sau 1 giờ để kết luận về hiệu lực và độ an toàn.
  • Xử lý số liệu: Ứng dụng phương pháp thống kê sinh học theo giáo trình của Nguyễn Văn Thiện (2008) trên phần mềm Microsoft Excel 2003.

Nội dung chính theo từng phần và chương

Phần 1. Mở đầu

Tác giả nêu bật tầm quan trọng của ngành chăn nuôi lợn đối với phát triển kinh tế hộ gia đình vùng cao, phân tích nguy cơ tiềm ẩn từ bệnh ký sinh trùng đường tiêu hóa do giun T. suis, xác lập 4 mục tiêu nghiên cứu cụ thể, đồng thời khẳng định ý nghĩa khoa học trong việc bổ sung dẫn liệu dịch tễ và ý nghĩa thực tiễn giúp người dân nâng cao hiệu quả phòng trừ bệnh giun tròn cho lợn tại huyện Nguyên Bình.

Phần 2. Tổng quan tài liệu

Chương này hệ thống hóa toàn diện cơ sở khoa học về phân loại học, hình thái cấu tạo của con đực, con cái và trứng giun T. suis. Tác giả phân tích chi tiết chu kỳ sinh học trực tiếp, sức đề kháng của trứng ngoài môi trường tự nhiên (nhiệt độ tối thích 18 - 30°C, ẩm độ 80 - 85%), đường lây nhiễm qua thức ăn, nước uống và nguy cơ lây truyền sang người. Phần bệnh lý học làm rõ tác động cơ giới, tác động độc tố và biến chứng viêm loét ruột già giống hội chứng hồng lỵ. Đồng thời, tác giả tổng hợp tình hình nghiên cứu giun T. suis tại các vùng sinh thái ở Việt Nam (miền núi Bắc Bộ, đồng bằng sông Hồng, Nam Trung Bộ...) và các nghiên cứu quốc tế về cơ chế gây bệnh thiếu máu, tổn thương mô học đường ruột.

Phần 3. Đối tượng, vật liệu, nội dung và phương pháp nghiên cứu

Trình bày chi tiết địa điểm thu mẫu thực địa tại 4 xã (Minh Thanh, Lang Môn, Ca Thành, Thái Học) thuộc huyện Nguyên Bình và phòng thí nghiệm tại Đại học Nông Lâm Thái Nguyên trong thời gian 5 tháng (03/06/2013 - 18/11/2013). Cung cấp cơ số mẫu chuẩn hóa gồm 582 mẫu phân lợn, 160 mẫu cặn chuồng, 160 mẫu đất quanh chuồng, 160 mẫu đất vườn bãi; mô tả chi tiết quy trình lấy mẫu phân tầng, kỹ thuật xét nghiệm Fülleborn, đếm trứng McMaster, thiết kế thí nghiệm thử thuốc tẩy giun (Ziquan-mectin, Bendazol), phương pháp mổ khám ruột già và các công thức toán sinh học xử lý dữ liệu.

Phần 4. Kết quả và thảo luận

Đây là chương nội dung trọng tâm của khóa luận, phản ánh toàn bộ các kết quả điều tra và khảo sát thực nghiệm:

  • Thực trạng phòng chống bệnh ký sinh trùng: Qua điều tra 180 hộ, có 11,67% hộ không có chuồng nuôi (nuôi thả rông); chỉ 25,00% hộ vệ sinh chuồng trại tốt; tỷ lệ hộ khử trùng tiêu độc chuồng trại rất thấp (5,56%); tỷ lệ hộ xử lý ủ phân diệt trứng giun đạt 22,22% và tỷ lệ hộ tẩy giun tròn định kỳ cho đàn lợn chỉ đạt 18,33%.
  • Tình hình nhiễm giun theo địa phương: Tỷ lệ nhiễm chung toàn huyện là 27,84% (162/582 con). Tỷ lệ nhiễm cao nhất tại xã Minh Thanh (30,61%), tiếp theo là Lang Môn (30,23%), Ca Thành (27,12%) và thấp nhất ở Thái Học (20,93%). Về cường độ, lợn nhiễm nhẹ chiếm đa số (70,37%), nhiễm trung bình chiếm 19,14% và nhiễm nặng chiếm 10,49%.
  • Tỷ lệ và cường độ nhiễm theo lứa tuổi: Lợn ở giai đoạn > 2 - 4 tháng tuổi có tỷ lệ nhiễm cao nhất (38,43%) và cường độ nhiễm nặng cao nhất (13,64%). Lứa tuổi > 4 - 6 tháng tuổi nhiễm 29,71%; lứa tuổi ≤ 2 tháng tuổi nhiễm 17,65% (chủ yếu nhiễm nhẹ); lợn trên 6 tháng tuổi có tỷ lệ nhiễm thấp nhất (12,50%) và không ghi nhận ca nhiễm nặng nào.
  • Tỷ lệ và cường độ nhiễm theo loại lợn: Lợn lai có tỷ lệ nhiễm (33,33%) và tỷ lệ nhiễm nặng (13,75%) cao hơn so với lợn nội (nhiễm 23,98%, trong đó nhiễm nặng chỉ chiếm 7,32%).
  • Tỷ lệ và cường độ nhiễm theo thức ăn chăn nuôi: Lợn nuôi bằng thức ăn truyền thống có tỷ lệ nhiễm cao nhất (37,35%) và cường độ nặng chiếm 19,36%; hình thức kết hợp thức ăn truyền thống với thức ăn hỗn hợp có tỷ lệ nhiễm 27,24% (nặng 6,33%); lợn nuôi bằng thức ăn hỗn hợp hoàn toàn có tỷ lệ nhiễm thấp nhất (16,67%) và 100% chỉ dừng ở mức nhẹ hoặc trung bình, không có ca nhiễm nặng.
  • Tình hình ô nhiễm ngoại cảnh và biện pháp điều trị: Phân tích mức độ nhiễm trứng giun trên nền chuồng, đất quanh chuồng, vườn bãi, theo dõi thời gian ấu trùng phát triển trong phân, đánh giá hiệu lực sạch trứng và độ an toàn của Ziquan-mectin và Bendazol, từ đó đề xuất quy trình kỹ thuật phòng trị giun tóc tổng hợp cho địa phương.

Phần 5. Kết luận và đề nghị

Đưa ra kết luận tổng kết về tỷ lệ nhiễm 27,84%, xác định nhóm nguy cơ cao nhất là lợn 2 - 4 tháng tuổi và lợn nuôi thức ăn truyền thống. Tác giả kiến nghị các giải pháp cụ thể: định kỳ tẩy giun bằng thuốc hiệu lực cao, xử lý phân bằng phương pháp nhiệt sinh học, cải thiện vệ sinh thú y chuồng trại nhằm kiểm soát bệnh hiệu quả trên địa bàn huyện.

Kết quả và đóng góp thực tiễn

1. Số liệu thực nghiệm chính

Khóa luận đã thu thập và xử lý các chuỗi số liệu thực tế qua hệ thống bảng thống kê:

Địa phương (Xã) Số lợn kiểm tra (con) Số lợn nhiễm (con) Tỷ lệ nhiễm (%) Cường độ nhẹ ≤ 500 EPG (%) Cường độ TB > 500 - 1000 EPG (%) Cường độ nặng > 1000 EPG (%)
Minh Thanh 147 45 30,61 53,33 31,11 15,56
Lang Môn 172 52 30,23 69,23 17,31 13,46
Ca Thành 118 32 27,12 78,13 15,62 6,25
Thái Học 145 33 20,93 87,88 9,09 3,03
Tính chung 582 162 27,84 70,37 19,14 10,49

Sự phân hóa về tỷ lệ và cường độ nhiễm thể hiện rõ rệt theo các yếu tố sinh học và quản lý chăn nuôi:

Chỉ tiêu phân loại Phân nhóm cụ thể Số kiểm tra (con) Số nhiễm (con) Tỷ lệ nhiễm (%) Tỷ lệ nhiễm nhẹ (%) Tỷ lệ nhiễm TB (%) Tỷ lệ nhiễm nặng (%)
Theo lứa tuổi ≤ 2 tháng 119 21 17,65 85,72 9,52 4,76
> 2 - 4 tháng 229 88 38,43 63,64 22,73 13,64
> 4 - 6 tháng 138 41 29,71 70,73 19,51 9,76
> 6 tháng 96 12 12,50 91,67 8,33 0,00
Theo giống lợn Lợn nội 342 82 23,98 74,39 18,29 7,32
Lợn lai 240 80 33,33 66,25 20,00 13,75
Theo thức ăn Thức ăn truyền thống 166 62 37,35 56,45 24,19 19,36
Truyền thống + Hỗn hợp 290 79 27,24 75,95 17,72 6,33
Thức ăn hỗn hợp 126 21 16,67 90,48 9,52 0,00

2. Giải pháp và quy trình tác giả đề xuất

Từ thực trạng vệ sinh yếu kém tại địa phương (94,44% hộ không tiêu độc chuồng trại, 81,67% hộ không tẩy giun), tác giả đề xuất quy trình phòng trị tổng hợp:

  • Biện pháp vệ sinh môi trường: Xây dựng chuồng trại cao ráo, thoáng mát về mùa hè, ấm áp về mùa đông; nền chuồng có độ dốc và rãnh thoát nước phân. Thu gom phân hàng ngày và bắt buộc ủ phân theo phương pháp nhiệt sinh học (nhiệt độ hố ủ đạt trên 45 - 50°C để làm biến tính và hủy hoại vỏ trứng giun). Định kỳ phun sát trùng chuồng và bãi nuôi bằng dung dịch vôi tôi 10%, NaOH 2% hoặc Cresyl 3%.
  • Biện pháp quản lý chăm sóc: Thức ăn và nước uống phải sạch; không cho lợn ăn rau xanh, bèo tươi sống khi chưa qua rửa sạch nhằm ngắt đường lây nhiễm trứng cảm nhiễm. Không nuôi nhốt chung các lứa tuổi lợn khác nhau trong cùng một ô chuồng.
  • Biện pháp hóa dược can thiệp: Thực hiện tẩy giun định kỳ toàn đàn, đặc biệt tập trung tẩy cho lợn con ở giai đoạn sau cai sữa (2 - 4 tháng tuổi) và tẩy dự phòng cho lợn nái trước khi đẻ. Sử dụng các thuốc có hiệu lực tẩy trừ cao và an toàn đã được thử nghiệm thực địa như Bendazol (1g/10kg thể trọng) hoặc Ziquan-mectin (tiêm bắp/dưới da theo thể trọng).

3. Đóng góp khoa học và thực tiễn

Khóa luận cung cấp hệ thống số liệu dịch tễ học nguyên bản đầu tiên về bệnh do giun tròn Trichocephalus spp. gây ra trên đàn lợn tại huyện miền núi Nguyên Bình, tỉnh Cao Bằng. Công trình làm sáng tỏ mối liên hệ mật thiết giữa tỷ lệ nhiễm giun với điều kiện vệ sinh thú y, lứa tuổi, phẩm giống và chế độ dinh dưỡng vùng cao. Đây là luận cứ thực tế có giá trị giúp mạng lưới thú y cơ sở tại Cao Bằng xây dựng khuyến cáo kỹ thuật, chuyển giao giải pháp ủ phân và dùng thuốc đúng thời điểm để giảm thiểu thiệt hại kinh tế cho người chăn nuôi.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp theo

Dựa trên nội dung và phạm vi nghiên cứu được công bố trong văn bản, khóa luận tồn tại một số hạn chế sau:

  • Thời gian theo dõi mang tính thời điểm: Đề tài thực hiện thực tập trong 5 tháng (từ tháng 6 đến tháng 11/2013), chủ yếu trải dài từ mùa hè sang mùa thu, chưa đủ thời gian theo dõi trọn vẹn chu kỳ 12 tháng để so sánh biến động dịch tễ học chi tiết giữa các mùa vụ khác nhau trong năm (đặc biệt là mùa đông giá lạnh đặc trưng của vùng núi Cao Bằng).
  • Phạm vi không gian: Khảo sát tập trung tại 4 xã của huyện Nguyên Bình, chưa thể đại diện hoàn toàn cho tất cả các tiểu vùng sinh thái khác nhau của tỉnh Cao Bằng.
  • Phương pháp kỹ thuật: Việc chẩn đoán chủ yếu sử dụng phương pháp xét nghiệm phân truyền thống (Fülleborn, McMaster) và mổ khám ngẫu nhiên một số cá thể chết; chưa áp dụng các kỹ thuật sinh học phân tử (như PCR) để định danh chi tiết các phân loài hoặc xác định biến nạp kháng thuốc của ký sinh trùng.

Hướng nghiên cứu mở rộng cần thực hiện:

  • Tiếp tục khảo sát dịch tễ học xuyên suốt 4 mùa trong năm trên địa bàn toàn tỉnh Cao Bằng nhằm lập bản đồ dịch tễ hoàn chỉnh.
  • Nghiên cứu sâu hơn về tác động bệnh lý kết hợp giữa giun T. suis và các vi khuẩn kế phát đường ruột (như vi khuẩn lỵ, Salmonella, E. coli) trong hội chứng tiêu chảy phức hợp ở lợn con.
  • Đánh giá khả năng nhiễm chéo giữa giun T. suis ở lợn và người tại các bản làng vùng cao có tập quán chăn nuôi thả rông.

Giá trị tham khảo

Bản khóa luận có giá trị ứng dụng và tham khảo thực tiễn rõ ràng:

  • Đối tượng tham khảo: Sinh viên, học viên chuyên ngành Thú y, Chăn nuôi - Thú y; cán bộ kỹ thuật tại các Trạm Thú y, Chi cục Thú y các tỉnh miền núi phía Bắc; các khuyến nông viên và người chăn nuôi lợn tại các địa phương có điều kiện tự nhiên tương đồng.
  • Nội dung đáng tham khảo nhất:
    • Quy trình và biểu mẫu thu thập mẫu bệnh phẩm phân tầng chuẩn mực tại thực địa miền núi.
    • Các bước kỹ thuật chi tiết của phương pháp Fülleborn và đếm trứng McMaster trong chẩn đoán định tính và định lượng giun sán đường ruột gia súc.
    • Phương pháp tính toán liều lượng thuốc tẩy giun dựa trên tương quan kích thước thể trọng ($VN$ và $DT$) ở điều kiện thực địa thiếu cân bàn lớn.
    • Các bảng số liệu đối sánh tỷ lệ nhiễm theo lứa tuổi và phương thức nuôi dưỡng làm tài liệu tham khảo cho các nghiên cứu dịch tễ học ký sinh trùng thú y sau này.

Câu hỏi thường gặp

1. Tỷ lệ nhiễm giun Trichocephalus suis chung trên đàn lợn tại huyện Nguyên Bình là bao nhiêu và phân bố như thế nào giữa các xã? Theo kết quả xét nghiệm 582 mẫu phân, tỷ lệ nhiễm giun T. suis trung bình toàn huyện là 27,84%. Tỷ lệ nhiễm phân bố không đều giữa 4 xã điều tra: xã Minh Thanh có tỷ lệ nhiễm cao nhất đạt 30,61% (45/147 con), tiếp đến là xã Lang Môn đạt 30,23% (52/172 con), xã Ca Thành đạt 27,12% (32/118 con) và thấp nhất là xã Thái Học đạt 20,93% (33/145 con).

2. Lứa tuổi nào của lợn có nguy cơ nhiễm giun T. suis cao nhất và nguyên nhân là gì? Lợn ở giai đoạn > 2 - 4 tháng tuổi có tỷ lệ nhiễm cao nhất (38,43%) và cường độ nhiễm nặng cao nhất (13,64% số lợn nhiễm). Nguyên nhân do ở giai đoạn này lợn con đã tách mẹ hoàn toàn, nhu cầu thức ăn và nước uống tăng cao trong khi cơ thể đang lớn nhanh, dẫn đến tăng tần suất tiếp xúc với mầm bệnh ở môi trường nền chuồng, máng ăn. Ngược lại, lợn trên 6 tháng tuổi có sức đề kháng cao hơn nên tỷ lệ nhiễm giảm xuống chỉ còn 12,50% và không có cá thể nào nhiễm nặng.

3. Khóa luận ghi nhận thực trạng công tác phòng chống bệnh ký sinh trùng của các hộ chăn nuôi tại Nguyên Bình ra sao? Khảo sát 180 hộ chăn nuôi cho thấy nhận thức và thực hành phòng chống ký sinh trùng rất hạn chế: có tới 94,44% số hộ không thực hiện tiêu độc khử trùng chuồng trại định kỳ; 81,67% số hộ không tiến hành tẩy giun tròn cho lợn; 77,88% số hộ không ủ phân diệt mầm bệnh; 11,67% số hộ không có chuồng nuôi kiên cố (thả rông lợn); chỉ có 25,00% số hộ duy trì vệ sinh chuồng trại và dụng cụ chăn nuôi ở mức tốt.

4. Chế độ thức ăn có ảnh hưởng như thế nào đến tỷ lệ và cường độ nhiễm giun tóc ở lợn? Tỷ lệ và mức độ nhiễm biến động mạnh theo tính chất thức ăn: lợn nuôi bằng thức ăn truyền thống (tận dụng khoai, sắn, rau xanh sống, cám phụ phẩm) nhiễm cao nhất với tỷ lệ 37,35% và có tỷ lệ nhiễm nặng lên tới 19,36%. Nhóm ăn thức ăn truyền thống bổ sung thức ăn hỗn hợp có tỷ lệ nhiễm 27,24% (nặng 6,33%). Nhóm nuôi hoàn toàn bằng thức ăn công nghiệp hỗn hợp có tỷ lệ nhiễm thấp nhất (16,67%), trong đó 90,48% chỉ nhiễm nhẹ và không có ca nhiễm nặng.

5. Hai loại thuốc tẩy giun nào được tác giả lựa chọn thử nghiệm hiệu lực và quy cách sử dụng ra sao? Tác giả thử nghiệm hai loại hóa dược: Ziquan-mectin (chứa Ivermectin và Praziquantel, dùng đường tiêm sâu bắp thịt hoặc dưới da với liều 1 ml/8 - 10 kg thể trọng) và Bendazol (chứa Albendazol, dùng pha nước uống hoặc trộn thức ăn với liều duy nhất 1 g/10 kg thể trọng). Cả hai thuốc đều được đánh giá hiệu lực giảm trừ trứng giun qua các mốc 5, 10, 15 ngày sau tẩy và theo dõi an toàn lâm sàng sau 1 giờ sử dụng.

Kết luận

Khóa luận của tác giả Đinh Đức Giang đã phản ánh trung thực bức tranh dịch tễ học bệnh do giun tròn Trichocephalus suis gây ra trên đàn lợn tại huyện Nguyên Bình, tỉnh Cao Bằng với tỷ lệ nhiễm bình quân 27,84%, tập trung cao nhất ở lứa tuổi 2 - 4 tháng và nhóm chăn nuôi tận dụng thức ăn truyền thống. Nghiên cứu đã chỉ rõ mối liên hệ giữa tỷ lệ nhiễm cao với thói quen thả rông, tập quán không ủ phân nhiệt sinh học và tỷ lệ tẩy giun định kỳ rất thấp của người dân địa phương. Hệ thống số liệu điều tra thực địa và kết quả thử nghiệm thuốc Ziquan-mectin, Bendazol là cơ sở thực chứng giá trị giúp ngành thú y cơ sở định hình quy trình kỹ thuật phòng trị giun sán hiệu quả, góp phần nâng cao năng suất chăn nuôi lợn tại các địa bàn vùng cao.