Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA ĐỀ TÀI 1.1 Đặc điểm sinh học của giun đũa ký sinh ở bê, nghé 1. Vị trí của giun đũa bê nghé trong hệ thống phân loại động vật. Bệnh giun đũa do loài giun Neoascaris vitulorum (Goeze, 1782), hay còn có tên gọi khác là Toxocara vitulorum thuộc họ Anikidae gây ra.
Theo Phan Thế Việt và cs (1977) [32], giun đũa bê nghé có vị trí trong hệ thống phân loại động vật học như sau: Nghành Nemathelminthes Schneider, 1873 Lớp Nematoda Rudolphi, 1808 Phân Lớp Rhabditia Pearse, 1942 Bộ Ascaridida Skrjabin et Schulz, 1940 Phân bộ Ascaridina Skrjabin, 1915 Họ Anisakidae Skrjabin et Karokhin, 1945 Giống Neoascaris Travassos, 1927 Loài Neoascaris vitulorum Goeze, 1782. Đặc điểm hình thái của Neoascaris vitulorum. Theo Phạm Văn Khuê và cs (1996) [6]; Nguyễn Thị Kim Lan và cs (1999) [9], giun tròn Neoascaris vitulorum có thân màu vàng nhạt, đầu có ba lá môi, rìa của những môi này có răng cưa, thực quản dài 3 - 4,5 mm, chỗ nối tiếp với ruột phình thành dạ dày nhỏ, vòng thần kinh và lỗ bài tiết ở ngang nhau phần đầu. Giun đực không có cánh đuôi, dài 13 - 15 cm, rộng nhất 0,35 cm, đuôi dài 0,21 - 0,46 mm, thon tròn, trước và sau hậu môn ở phía bụng có 20 - 27 gai, có một đôi gai giao hợp dài 0,95 - 1,20 mm.
Giun cái dài 19 - 23 cm, chỗ rộng nhất là 0,5 cm, âm hộ ở khoảng 1/8 trước thân, đuôi hình nón dài 0,37 - 0,42 mm, đuôi có nhiều gai bao phủ. Trứng giun hơi tròn, có vỏ với n 4 nhiều chỗ lõm nhỏ, dài 0,080 - 0,090 mm, rộng 0,070 - 0,075 mm. Cấu tạo giun đũa bê nghé Neoascaris vitulorum (theo MOZGOVOI, DAVTIAN). a) Miệng: 1- Đỉnh đầu; 2- Môi phía lưng; 3- Môi phía cạnh giáp bụng.
b) Đầu đuôi: 1- Đoạn đầu; 2- Gai giao hợp; 3- Đoạn đuôi con cái (phía cạnh). Đoạn thân trước; 2. n 5 Theo Đỗ Dương Thái và Trịnh Văn Thịnh (1978) [23], Phan Địch Lân và cs (2005) [11], giun đũa Neoascaris vitulorum (Goeze 1782) ký sinh ở bê nghé có kích thước: Giun đực ở nghé dài 13 - 15 cm, đường kính 0,3 cm; ở bê dài 14 - 16 cm. Giun cái ở nghé dài 19 - 23 cm, đường kính 0,5 cm, trứng 70 - 75 x 80 - 90 µm; giun cái ở bê dài 20 - 26 cm, trứng 75 - 85 x 90 - 100 µm.
Vị trí âm hộ của giun cái là 1/8 phần trước thân. Phan Lục (2005) [19] cho biết, giun đũa có kích thước to, vàng nhạt, dài 13 - 22 cm, trên đầu có 3 môi. Thực quản hình ống dài, phần cuối có chỗ phình to ra gọi là dạ dày giả. Xung quanh lỗ hậu môn của giun đực có nhiều gai chồi, có hai gai giao hợp to bằng nhau.
Trứng có 4 lớp vỏ màu nhạt, lớp ngoài cùng lỗ chỗ như tổ ong, trứng dài 0,08 - 0,09 mm, rộng 0,07 - 0,75 mm. Các nghiên cứu trên phù hợp với các tài liệu mô tả của Orlov (1970), Euzeby (1981) nhưng có khác với tài liệu mô tả của Skrjabin (1950), Neveu - Lemaire (1952), Soulsby (1965), Drozdz (1967) là âm hộ giun cái ở 1/6 trước thân. Nguyễn Thị Lê và cs (1996) [18] đã mô tả cấu tạo của giun đũa: Giun đực dài 110 - 189 mm, rộng nhất 3,52 - 4,81 mm; đuôi dài 0,21 - 0,46 mm, thon dần về cuối mút; thực quản dài 4,49 mm; gai sinh dục dài 0,57 - 1,19 mm, có màng mỏng bao bọc; ở phía trước hậu môn có 20 - 27 nhú xếp thành 2 hàng, sau hậu môn có 5 đôi nhú, đôi nhú thứ nhất kép. Giun cái dài 151 - 200 mm, rộng 4,0 - 5,7 mm; đuôi hình nón, phủ nhiều gai, dài 0,37 - 0,42 mm; gần mút đuôi có 2 nhú bên; lỗ sinh dục nằm ở phần trước cơ thể, cách mút đầu khoảng 1/10 - 2/10 chiều dài cơ thể; trứng hình cầu kích thước 0,076 - 0,095 x 0,065 - 0,080 mm.
Theo những nghiên cứu của Taira và Fujita (1991) [54] từ năm 1982 - 1988, về giun tròn ở hai huyện Kyushu và Okinawa, Nhật bản. Hai tác giả đã nghiên cứu 7 giun đũa đực và 21 giun đũa cái về hình thái học, cho thấy độ n 6 dài trung bình của giun đực là 15,64 cm (14,0 - 18,0 cm), giun cái 25,75 cm (16,5 - 34,0 cm). Thân trắng đục và mềm. Trứng giun dài 81,6 µm và rộng 71,8 µm, bề mặt vỏ trứng trơn nhẵn, không nhăn nheo.
(1989) [48] đã quan sát giun đũa Neoascaris vitulorum trên kính hiển vi điện tử, thấy cấu trúc bề mặt của giun gồm môi, răng, gai nhỏ và phần đuôi; ở giun non răng hình nón và nhọn chúng dài hơn khi tuổi giun tăng lên. Theo mô tả của Urquhart G. và cs (1996) [55] thì giun đũa T. viturlorum là ký sinh trùng đường ruột lớn nhất của ở bê nghé, giun cái dài có thể đến 30,00 cm.
Giun đũa có thân dày, màu hơi hồng khi còn sống, và lớp biểu bì khá trong suốt nên có thể nhìn thấy được các cơ quan nội tạng. Trứng giun đũa có một lớp vỏ dày và trong suốt. Đặc điểm vòng đời của Neoascaris vitulorum. Vòng đời của giun đũa bê nghé không cần ký chủ trung gian.
Davtian (1934 - 1937) làm thí nghiệm: cho bê nuốt trứng giun đũa có sức gây bệnh thì sau 43 ngày có thể thấy giun đũa trưởng thành và con non ở cơ thể bê. Ngoài ra, nếu cho bò mẹ trước khi đẻ 124 - 192 ngày nuốt trứng giun có sức gây bệnh thì bê đẻ ra 20 - 31 ngày trong phân đã có trứng giun đũa. Điều đó chứng tỏ giun đũa bê, nghé có thể qua máu truyền vào bào thai. Ở trâu mẹ thời kỳ chửa đầu nuốt trứng giun cảm nhiễm thì tất cả nghé đẻ ra đều bị nhiễm giun qua nhau thai.
Giun đũa bê, nghé nhiễm vào cơ thể bằng 2 con đường: nhiễm trực tiếp và nhiễm qua bào thai. Theo Đỗ Dương Thái và Trịnh Văn Thịnh (1978) [23], trứng giun thải ra môi trường ở thời kỳ đầu là trứng không cảm nhiễm. Skjabin và Schulz (1973) cho biết, sự phát triển của trứng đến giai đoạn cảm nhiễm kéo dài 12 - 13 ngày ở nhiệt độ 28 - 300C và 17 - 19 ngày ở nhiệt độ 250C. n 7 Chẩn đoán bằng cách xét nghiệm phân tìm trứng giun Neoascaris vitulorum hoặc trên cơ sở phát hiện thấy giun tự thải ra ở trong phân.
Phạm Sỹ Lăng (2005) [12] cũng cho biết, bệnh giun đũa bê nghé lây nhiễm qua 2 con đường: - Qua đường tiêu hóa do bê nghé ăn phải trứng giun đũa cảm nhiễm. - Ấu trùng từ máu trâu bò mang thai xâm nhập vào bào thai. Theo Trịnh Văn Thịnh (1962) [26], trứng giun đũa ra ngoài thiên nhiên gặp nhiệt độ nóng ẩm thích hợp thì phát triển thành phôi thai: ở nhiệt độ 15 - 170C thì phải 38 ngày, ở nhiệt độ 19 - 220C thì phải sau 20 ngày. Nếu để phân khô đi hoặc ủ phân theo phương pháp nhiệt sinh học thì trứng sẽ ngừng phát dục.
Dưới ánh nắng trực tiếp mùa hè thì một tuần, nếu ở sâu trong đất thì 12 - 15 ngày phôi chết, mùa đông phân khô thì sau một tháng phôi bị diệt. Vichitr Sukhapesna (1982) [57] đã nghiên cứu 10 trâu bò mẹ nhiễm Strongyloides papillosus và Neoascaris vitulorum cùng với bê nghé kể từ khi bê nghé được sinh ra. Tác giả cho rằng trâu bò mẹ là nơi chứa mầm bệnh chính làm cho bê nghé con bị nhiễm S. Bê nghé đã bị nhiễm S.
papillosus qua bú sữa từ trâu bò mẹ, và nhiễm N. vitulorum qua nhau thai. Nghé đẻ ra sau 14 ngày đã có trứng giun trong phân (tức là có giun trưởng thành trong ruột) chứng tỏ nghé bị nhiễm bệnh từ trong bào thai. Giun đũa có chu kỳ phát triển trực tiếp, không qua ký chủ trung gian.
Giun trưởng thành sống trong ruột non của bê nghé đẻ trứng, trứng theo phân ra ngoài, gặp điều kiện thuận lợi thì phát triển thành phôi thai trong trứng. Trứng có phôi thai là trứng đã có sức gây bệnh. Sau đó trứng này lại vào cơ thể con vật theo thức ăn, nước uống. Khi mới theo phân ra ngoài trứng không phân chia.
Tuỳ theo điều kiện nhiệt độ và độ ẩm bên ngoài, thời gian trứng phát triển thành trứng cảm nhiễm có khác nhau. vitulorum Trứng Trứng chứa ấu trùng (có sức gây bệnh) trưởng thành AS (Ruột non bê nghé) Bê, nghé nuốt Hầu Ấu trùng Phổi Gan Máu NM ruột Tim Hình 1. Sơ đồ vòng đời của Neoascaris vitulorum Theo Soulsby (1965), ở nhiệt độ tối ưu 28 - 300C, thời gian này là 7 ngày; ở 250C cần 10 - 11 ngày, ở 15 - 180C cần trên 28 ngày. Trứng giai đoạn cảm nhiễm có chứa ấu trùng, có sức đề kháng cao với điều kiện ngoại cảnh.
và cs (1990) [40] cho biết, ở 250C trứng giun đũa phát triển thành trứng chứa ấu trùng sau 7 ngày. Kết quả trên giống với nghiên cứu của Refuerzo và cs (1952); Enyenihi (1969) tại 270C. Nhưng theo báo cáo của Schwartz (1922) là mất 10 - 12 ngày ở 250C để phát triển thành trứng chứa ấu trùng. Giai đoạn thứ hai của trứng chứa ấu trùng đã được quan sát thấy ở vào ngày thứ 11 và có 91% trứng được phát triển đến giai đoạn này vào ngày 15 ngày.
Tawkif (1970) báo cáo rằng mất 9 ngày ở 26 - 280C để phát triển đến giai đoạn trứng chứa ấu trùng. Irfan và Sarwar (1954) đã nghiên cứu ở Pakistan, trứng phát triển đến giai đoạn cảm nhiễm sau 11 ngày ở 260C; trứng sẽ bị thoái hoá nếu để ở nhiệt độ 300C; ở 100C trứng ngừng phát triển. n 9 Euzeby (1981) đã theo dõi ở Malaixia cho biết, với nhiệt độ 15 - 170C, cần 38 ngày để trứng phát triển thành trứng có khả năng gây bệnh. Theo Orlov (1970), ở nhiệt độ 300C cần hai tuần, ở nhiệt độ 250C cần ba tuần.
Refuerzo và Jemenez (1954) đã quan sát sự phát triển của trứng giun ở Philippin cho biết, ở nhiệt độ 170C phôi bắt đầu hình thành vào ngày thứ sáu, hoàn thành vào ngày thứ 9 và có khả năng gây bệnh ở ngày thứ 13 - 15. Trứng giun cảm nhiễm có sức đề kháng cao với một số hoá chất cũng như yếu tố vật lý. Khi trứng ở trong phân thì trứng có sức đề kháng cao đối với một số chất sát trùng. Refuerzo và Jemenez (1954) đã làm thí nghiệm về sức đề kháng của trứng giun đũa ở Philippin, thấy trứng có sức đề kháng kém dưới ảnh hưởng trực tiếp của ánh nắng mặt trời.
Trứng trong phân thì tồn tại lâu hơn và còn phụ thuộc vào khối lượng cục phân.