Đặt vấn đề Nước ta là một nước nông nghiệp đang trên con đường xây dựng và phát triển, cùng với sự phát triển các ngành kinh tế nói chung, ngành chăn nuôi nói riêng đã và đang trên đà phát triển rất nhanh, mạnh chiếm một vị trí quan trọng trong sự phát triển đất nước. Trong đó ngành chăn nuôi lợn ngày càng chiếm ưu thế và giữ một vai trò quan trọng vì đó là nguồn cung cấp một lượng phân bón lớn cho ngành trồng trọt và nguồn cung cấp thực phẩm lớn cho con người. Để đạt hiệu quả kinh tế cao trong chăn nuôi lợn, ngoài các yếu tố như giống, thức ăn, chế độ chăm sóc nuôi dưỡng. thì biện pháp phòng trị bệnh, đặc biệt là bệnh ký sinh trùng cũng giữ vai trò quan trọng.
Thực tế ngành chăn nuôi lại cho thấy, có nhiều loại dịch bệnh gây tổn thất đáng kể cho người chăn nuôi lợn đặc biệt là bệnh ký sinh trùng. Theo Phạm Sỹ Lăng và cs (2006) [10], nước ta là một nước nằm trong khu vực nhiệt đới gió mùa nóng, ẩm, mưa nhiều nên có khu hệ ký sinh trùng phong phú và đa dạng. Từ đó gây ra nhiều bệnh ký sinh trùng cho đàn gia súc, gia cầm, làm thiệt hại đáng kể cho người chăn nuôi. Theo Trịnh Văn Thịnh và cs (1978) [21], bệnh ký sinh trùng ở gia súc, gia cầm nói chung và bệnh ký sinh trùng đường tiêu hóa lợn nói riêng không gây ra các ổ dịch lớn như những bệnh truyền nhiễm do virus, vi khuẩn.
Song, bệnh ký sinh trùng thường diễn ra ở thể mạn tính, làm lợn sinh trưởng, phát triển chậm, tăng tiêu tốn thức ăn và các chi phí khác tăng cao như thuốc điều trị, công chăm sóc nuôi dưỡng. Nguy hiểm hơn, ký sinh trùng ký sinh còn làm giảm sức đề kháng của lợn và là yếu tố mở đường cho nhiều loại vi khuẩn, virus xâm nhập gây bệnh. Cao Bằng là một tỉnh miền núi phía bắc nền kinh tế chủ yếu dựa vào sản xuất nông nghiệp, chăn nuôi lợn đang từng bước phát triển và chiếm một vị trí n quan trọng trong cơ cấu vật nuôi. Bên cạnh đó tình hình bệnh ngày càng phức tạp đặc biệt là bệnh giun tròn đường tiêu hóa lợn.
Tuy nhiên cho đến nay chưa có công trình nghiên cứu đầy đủ và có hệ thống về dịch tễ bệnh giun tròn đường tiêu hóa lợn ở lợn tại tỉnh Cao Bằng, vì vậy cũng chưa có quy trình phòng chống bệnh hiệu quả. Xuất phát từ nhu cầu thực tế sản xuất chăn nuôi lợn ở huyện Trà Lĩnh - tỉnh Cao Bằng chúng tôi thực hiện nghiên cứu đề tài: “ Nghiên cứu đặc điểm dịch tễ bệnh giun tròn đường tiêu hóa ở lợn nuôi tại một số xã thuộc huyện Trà Lĩnh - tỉnh Cao Bằng và sử dụng thuốc Levamisol điều trị”.2 Mục đích nghiên cứu − Xác định thành phần loài giun tròn ký sinh ký sinh ở đường tiêu hóa lợn tại huyện Trà Lĩnh. − Xác định tỷ lệ và cường độ nhiễm giun tròn ở đường tiêu hóa lợn tại một số xã thuộc huyện Trà Lĩnh - tỉnh Cao Bằng. − Nghiên cứu đặc điểm dịch tễ của bệnh giun tròn đường tiêu hóa của lợn.
− Sử dụng Levamisol trong điều trị bệnh giun tròn đường tiêu hóa lợn tại một số xã thuộc huyện Trà Lĩnh - tỉnh Cao Bằng.3 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 1.1 Ý nghĩa khoa học Đề tài là thông tin khoa học về đặc điểm tình hình nhiễm của bệnh giun tròn đường tiêu hóa lợn ở huyện Trà Lĩnh - tỉnh Cao Bằng.2 Ý nghĩa thực tiễn Đề ra những biện pháp phòng và trị bệnh có hiệu quả, hạn chế sự ô nhiễm trứng và ấu trùng giun tròn từ môi trường ngoại cảnh vào cơ thể lợn, từ đó hạn chế những thiệt hại do bệnh giun tròn gây ra. n Phần 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2.1 Cơ sở khoa học của đề tài Theo Nguyễn Thị Lê (1998) [13], ký sinh trùng phân bố rất rộng trong thiên nhiên gồm các đại diện của 20 lớp động vật khác nhau. Có số lượng loài phong phú nhất là ở loài nguyên sinh động vật trên 3000 loài. Giun sán gồm đại diện của 13 lớp: lớp sán lá gồm 3000 loài, lớp giun tròn gần 3000 loài, lớp sán dây gần 1500 loài, lớp giun đầu gai 500 loài.1 Giun tròn ký sinh ở đường tiêu hóa lợn.1 Vị trí của giun tròn ký sinh ở đường tiêu hóa lợn trong hệ thống phân loại động vật.
Phạm Sỹ Lăng và cs (2006) [10] cho biết: Ở lợn, cho đến nay đã phát hiện được 52 loài ký sinh trùng gồm giun tròn, sán dây, sán lá, đơn bào, côn trùng ký sinh. Trong đó, có một số loài ký sinh trùng phổ biến mà lợn nhiễm với tỷ lệ và cường độ cao như bệnh giun đũa lợn do Ascaris suum, bệnh sán lá ruột lợn do Fascioloposis buski…những bệnh này đã gây ra các tổn thương và viêm nhiễm kế phát do vi khuẩn các nội tạng của lợn, ảnh hưởng đến quá trình sinh trưởng của lợn đặc biệt là tiêu tốn thức ăn, giảm tăng trọng từ 15 - 20% so với lợn không mắc bệnh. Nguyễn Thị Lê và cs (1996) [12], lớp giun tròn thuộc ngành giun tròn Nematheminthes bao gồm hơn 500.000 loài sống ở các điều kiện sinh thái khác nhau và phân bố rộng trên toàn cầu. Phần lớn giun tròn sống tự do, chỉ một số ít sống ký sinh ở động vật và thực vật trong khu hệ giun sán ký sinh ở gia súc Việt Nam thống kê được 90 loài giun tròn.
Theo hệ thống phân loại mới nhất của Malakhov.V (1986), lớp giun tròn chia làm 3 phân lớp: Enoplia, Chromadoria và Rhabditia. Ký sinh ở gia súc Việt Nam gồm một số loài gồm 6 bộ của 2 phân lớp: Enoplia và Rhabditia. n Nguyễn Thị Kim Lan và cs (1999) [4], hiện nay đã xác định được hơn 5000 loài thuộc lớp giun tròn (Nematoda) trong đó có hơn 1000 loài giun sống tự do, hơn 3.000 loài giun sống ký sinh. Các giun tròn ký sinh có liên quan nhiều tới thú y gồm 8 bộ phụ : + Bộ phụ giun đũa (Ascaridata) +Bộ phụ giun kim (oxyurata) + Bộ phụ giun tóc (Trichocephalata) + Bộ phụ giun lươn (Rhabdiasata) + Bộ phụ giun xoắn (Stronggylata) + Bộ phụ giun đuôi xoắn (Spirurata) + Bộ phụ giun chỉ (Filariata) + Bộ phụ dioctophymata Theo Nguyễn Thị Lê và cs (1998) [13], hệ thống phân loại của một số loài giun tròn ở đường tiêu hóa lợn được sắp xếp theo vị trí như sau: Ngành Nemathelminthes Schneider, 1873 Lớp Nematoda Rudolphi, 1808 Phân lớp Enoplia Chitwood, 1933 Bộ Trichocephaliada Skrjabin et Schulz, 1928 Phân bộ Trichocephaliada Skrjabin et Schulz, 1928 Họ Trichocephalidea Bard, 1953 Phân họ Trichocephalinae Ransom, 1911 Giống Trichocephalus Schrank, 1788 Loài Trichocepphalus suis Schrank, 1788 Họ Trichostrongydae Witen berg, 1925 Phân họ Oesophagostomatinae Railliet, 1916 Giống Oesophagostomum Molin, 1861 Loài Oesophagostomum Dentatum n (Rudolphi, 1803) Loài Oesophagostomumbrevicaudatum (Shwartz et Alicata, 1930) Loài Oesophagostomum longicaudum (Goodey, 1925) Phân lớp Rhabditia Pearse, 1942 Bộ Rhabditia Chitwood, 1933 Phân bộ Rhabditia Chitwood, 1933 Họ Strongyloididae Chitwood et Micinstosch, 1034 Giống Strongyloidides Grassi, 1979 Loài Strongyloidides papillosus (wedl, 1856) Loài Strongyloidides ransomi (Schwartz et Alicata, 1930) Bộ Ascaridida Skrjabin et Schulz, 1940 Phân bộ Ascaridina Skrjabin, 1915 Họ Ascaris Linacus, 1758 Giống Ascaris Linaeus, 1758 Loài Ascaris suum Goeze, 1782 Phan Lục và cs (2006) [14] cho biết: Giun tròn thuộc lớp Nematoda có hơn 3000 loài sống ký sinh nhưng giun tròn ký sinh ở súc vật nuôi thuộc các bộ phụ sau: + Bộ phụ giun kim + Bộ phụ giun đũa + Bộ phụ giun xoăn + Bộ phụ giun tóc + Bộ phụ đuôi xoắn (Spirulata) + Bộ phụ giun chỉ + Bộ phụ Dictyophymata n + Bộ phụ giun lươn + Bộ phụ Cucullamata 2.2 Thành phần giun tròn ký sinh ở đường tiêu hóa lợn Nguyễn Thị Lê và cs (1996) [12] cho biết: Thành phần loài giun tròn ký sinh đường tiêu hóa lợn gồm: Giống Loài Trichocephalus Schrank, 1788 Trichocephalus suis Schrank, 1788 Strongyloides Strongylodes papillosus (Wedl, 1856) Strongylodes ransomi Schwartz et Alicata, 1930 Ascaris Linnacus, 1758 Ascaris suum Goeze, 1782 Oesophagostomum Molin, 1861 Oesphagostomum dentatum (Rudolphi, 1803) Oesophagostomum brevicaudatum (Shwart et Alicata, 1930) Oesophagostomum longicaudum (Goodey, 1925) Nguyễn Thị Lê (1998) [13] cho rằng: Giun tròn ký sinh gây bệnh nguy hiểm cho người, động vật chủ yếu gồm các đại diện thuộc các bộ Trichocephaliadae, Strongyloidida, Oxyurida, Ascaridida, Spirurida.2 Đặc điểm chung của một số loài giun tròn ký sinh ở đường tiêu hóa lợn 2.1 Hình thái giun tròn Theo Chu Thị Thơm và cs (2006) [22], giun tròn thuộc lớp Nematoda, ngành Nemathelinthes, cơ thể hình ống, hình sợi nhưng hai đầu thon nhỏ dần hoặc hình ống phân thùy, có thể hình thoi, hình tròn, hai bên đối xứng có mặt bên và mặt bụng không phân đốt.
Đầu tù, đuôi nhọn, có giun đực và giun cái. Giun cái lớn hơn giun đực, giun đực đuôi cong, giun cái đuôi thẳng. Kích n thước giun thay đổi tùy loài. Giun tròn gồm nhiều loài sống ký sinh ở thực vật và động vật.2 Cấu tạo giun tròn Lớp ngoài là biểu bì bằng giác chất (kitin), có vân ngang, vân dọc hoặc vân chéo.
Một số loài giun tròn có những chỗ biểu bì phình to gọi là cánh (cánh thân, cánh đuôi - chỉ có một số giun đực có cánh đuôi). Một số loài giun có gai chồi và các bộ phận phụ khác có tác dụng cảm giác, vận động và bám vào ký chủ. Dưới lớp biểu bì là lớp hạ bì gồm một lớp tế bào dẹt. Trong cùng là lớp tế bào cơ có hình sợi, hình bó hoặc hình vòng tùy loài.
Giun tròn thường có môi, gai, xoang miệng. Một số loài giun tròn có túi đuôi, cơ thể giun thường được bao bọc bằng lớp vỏ ngoài dày. Trên lớp vỏ này có những vân ngang, dọc, giác, móc vào các cấu tạo phụ khác. Thành phần của lớp vỏ gồm những chất có trọng lượng phân tử lớn chịu đựng khỏe với hóa chất, dịch tiêu hóa và chức năng như áo giáp bảo vệ đời sống ký sinh của giun.
Lớp vỏ ngoài gồm nhiều lớp, những giun ký sinh đường tiêu hóa có từ 7 - 10 lớp (lớp vỏ ngoài, lớp vỏ trong, lớp phiến ngoài, lớp đồng thể, lớp phiến trong, lớp hình băng dải, lớp bazan, lớp màng bazan, lớp nhiều thớ sợi, màng kép bazan). Dưới lớp vỏ cutin là lớp biểu mô và tiếp đến là lớp cơ giúp giun di chuyển được. Sau lớp cơ có những tế bào mầm giúp quá trình trao đổi chất của giun. Lớp vỏ cutin cùng với lớp cơ tạo thành túi da cơ, bên trong là xoang cơ thể có chứa các khí quan: + Hệ tiêu hóa: Giun tròn có hệ tiêu hóa khá hoàn chỉnh.
Là một ống dài chạy dọc theo thân gồm: môi −> miệng −> thực quản −> ruột −> trực tràng −> hậu môn. n Miệng (thường ở đỉnh đầu), xung quanh miệng là môi, mào.