MỞ ĐẦU 1. TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI Chó là một loài vật đặc biệt, qua nghiên cứu cho thấy chúng có các giác quan rất phát triển, đặc biệt là khả năng thị giác và thính giác cao hơn rất nhiều so với con người, do đó từ xưa con người đã biết thuần hóa, huấn luyện, nuôi chó với nhiều mục đích khác nhau: làm cảnh, giữ nhà, làm bạn, làm chó nghiệp vụ, săn thú…. Việc chăn nuôi chó càng phát triển thì vấn đề dịch bệnh trên chó càng được con người quan tâm nhiều hơn, bởi nguyên nhân thân thiết gần gũi mà con người có nguy cơ mắc phải một số bệnh nguy hiểm như là bệnh dại, nhiễm giun, sán… Bệnh sán dây là một bệnh phổ biến ở chó, Vương Đức Chất và Lê Thị Tài (2004) [1] cho biết, trên thế giới có khoảng 40 loài sán dây gây bệnh cho chó và các thú ăn thịt thuộc họ chó và mèo, một số loài sán dây gây bệnh cho chó mèo cũng là tác nhân gây bệnh cho người. Theo Tô Du và Xuân Giao (2006) [3], sán dây ký sinh làm cho chó gầy yếu, suy nhược, thiếu máu, có hội chứng viêm ruột, giảm khả năng sinh sản và sẽ chết do kiệt sức.
Ngoài ra, đáng lo ngại hơn nữa là một số loài sán dây ký sinh trên chó cũng là tác nhân gây bệnh cho người và động vật nuôi khác: ấu trùng Cysticercus tenuicollis của loài sán dây Taenia hydatigena ký sinh ở lợn, trâu, bò, dê, kể cả ở người, gây ra bệnh ấu sán cổ nhỏ, hiện vẫn chưa có thuốc điều trị (Nguyễn Thị Kim Lan và cs, 1999 [10]). Ấu trùng sán dây Diphyllobothrium mansoni gây bệnh sán nhái ở người, tạo thành các u ở mắt (Phạm Sỹ Lăng và cs, 2006) [13]. n 2 Những năm gần đây, chó được nuôi ở tỉnh Thái Nguyên khá nhiều. Tuy nhiên, việc phòng trị bệnh ký sinh trùng, đặc biệt là bệnh do sán dây còn ít được chú ý.
Bên cạnh đó người dân chủ yếu nuôi chó theo phương thức thả rông, nếu chó bị nhiễm sán dây thì rất dễ phát tán mầm bệnh, làm tăng nguy cơ nhiễm bệnh cho người và súc vật khác. Xuất phát từ thực tế trên, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: "Nghiên cứu đặc điểm dịch tễ, bệnh lý, lâm sàng bệnh sán dây ở chó nuôi tại huyện Phú Lương - tỉnh Thái Nguyên và biện pháp phòng trị". Ý NGHĨA KHOA HỌC CỦA ĐỀ TÀI 1. Ý nghĩa khoa học Kết quả của đề tài là những thông tin khoa học bổ sung và hoàn thiện thêm các nghiên cứu về bệnh sán dây ở chó và biện pháp phòng trị trong điều kiện chăn nuôi hiện nay ở nước ta.
Ý nghĩa thực tiễn Kết quả nghiên cứu của đề tài là những minh chứng về tác hại của sán dây ký sinh ở đường tiêu hóa chó, đồng thời là những khuyến cáo có ý nghĩa cho những hộ gia đình nuôi chó ở huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên và các địa phương khác. Kết quả nghiên cứu có thể ứng dụng để chẩn đoán và phòng trừ bệnh sán dây cho chó, góp phần khống chế bệnh trong thực tiễn, bảo vệ sức khỏe người và vật nuôi. n 3 PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2. CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA ĐỀ TÀI 2.
Đặc điểm sinh học của sán dây ký sinh ở chó 2. Vị trí của sán dây chó trong hệ thống phân loại động vật học Cho đến nay các hệ thống phân loại sán dây đã trải qua nhiều thay đổi, song dường như vẫn chưa được thống nhất và ổn định (Nguyễn Thị Kỳ, 2003 [9]). Theo Phan Thế Việt và cs, (1977 ) [26], Nguyễn Thị Kỳ (1994) [8], Nguyễn Thị Lê và cs (1996) [15], Nguyễn Thị Kỳ (2003) [9], hệ thống phân loại của Việt Nam đã lựa chọn hệ thống phân loại của Schulz và Gvozldev (1970), để sắp sếp các loại sán dây phát hiện được ở người, thú nuôi, chim ở Việt Nam. Trong đó sán dây ở chó có vị trí như sau: Ngành sán dẹp (Plathelminthes) Lớp Cestoda Rudolphi, 1808 Phân lớp Eucestoda Southwell, 1930 Bộ Pseudophyllidea Carus, 1863 Họ Diphylloborthriidae Luhe, 1910 Giống Spirometra Mueller, 1937 Loài Spirometra erinacei-europaei (Rudolphi, 1819) Mueller, 1937 Loài Spirometra mansonoides (Mueller, 1935) Mueller, 1937 Bộ Cyclophyllidea Beneden in Braun, 1900 Phân bộ Hymenolepidata Skrjabin, 1940 Họ Dipylidiidae Mola, 1929 Giống Dipylidium Leuckart, 1863 n 4 Loài Dipylidium caninum Leuckart, 1758 Phân bộ Tta Skrjabin et Schulz, 1937 Họ Taeniidae Ludwig, 1886 Giống Taenia Linnaeus, 1758 Loài Taenia hydatigena Pallas, 1766 Loài Taenia pisiformis Bloch, 1780 Giống Echinococcus Rudolphi, 1801 Loài Echinococcus granulosus Batsch, 1786 Giống Multiceps Goeze, 1782 Loài Multiceps multiceps Leske, 1780.
Phân bộ Mesocestoidata Skrjabin, 1940 Họ Mesocestoididae Perrier, 1897 Giống Mesocestoides, Wailand, 1863 Loài Mesocestoides lineatus Goeze, 1782 Nhiều tác giả như Phan Thế Việt và cs (1977) [26], Nguyễn Thị Kỳ (1994) [8], Nguyễn Thị Lê và cs (1996) [15], khi đề cập đến thành phần loài sán dây ký sinh trên chó ở nước ta đều thống nhất rằng, các loài sán dây ký sinh trên chó ở nước ta bao gồm: Diphyllobothrium mansoni, Diphyllobothrium reptans, Dipylidium caninum, Taenia hydatigen, Taenia pisiformis, Multiceps multicep, Echinococcus granulosus, Mesocestoides lineatus. Theo Nguyễn Thị Kim Lan và cs (1999) [10]: tính đến thời điểm hiện tại, người ta đã biết hơn 30 loài sán dây ký sinh ở loài ăn thịt gây bệnh cho chó, mèo. Chúng đều thuộc bộ Cyclophyllidea và Pseudophyllidea. Kết quả tổng hợp của Phạm Sỹ Lăng (2002) [14] cho biết, đến nay đã phát hiện được 18 loài sán dây ký sinh trên chó ở miền bắc Việt Nam.
Nguyễn Thị Kỳ (1977) đã thống kê ở mèo nhà, cầy, chó Hà Nội có loài Diphllobothrium reptans thuộc giống spirometa. n 5 Theo Nguyễn Thị kỳ (2003) [9] cho biết ở Việt Nam hiện loài Diphyllobothrium mansoni, Diphyllobothrium reptans còn chưa rõ vị trí phân loại và không có mẫu. Nguyễn Thị Kỳ (2003) [9] đã xem xét lại toàn bộ vị trí phân loại và tình trạng mẫu, tình hình nghiên cứu về từng loài. Hiện nay trên thế giới có khoảng 40 loài sán dây gây bệnh cho chó và các thú ăn thịt thuộc họ chó mèo (Vương Đức Chất và cs,2004 [1]).
Đặc điểm hình thái, cấu tạo của sán dây chó * Đặc điểm chung Phan Thế Việt và cs (1977) [26], Nguyễn Thị Kỳ (1994) [8], Nguyễn Thị Lê và cs (1996) [15], Nguyễn Thị Kỳ (2003) [9] cho biết: Sán dây chó có những đặc điểm của lớp sán dây nói chung: hình dải băng màu trắng hoặc trắng ngà. Cơ thể dài dẹp theo hướng lưng bụng, chia thành 3 phần: đầu, cổ, thân (gồm những đốt sau cổ, có hình dạng và cấu tạo khác nhau). Đầu sán dùng để bám vào thành ruột vật chủ, nên có những hình dạng, kích thước và các cơ quan bám đặc trưng. Chiều rộng của đầu thường chỉ nhỏ hơn 1mm, nhưng cũng có sán có đầu dài vài mm.
Cơ quan bám nằm trên đầu bao gồm rãnh bám hoặc giác bám, mõm, vòi và có nhiều móc. Ở một số loài sán dây trên móc bám có các móc bé xếp thành nhiều hàng. Giác bám là bộ phận đặc trưng của sán dây bậc cao. Móc bám nằm ngay trên đầu hay ở phần cuối vòi, sắp xếp thành 1 hay 2 hàng.
Số lượng móc ở các nhóm sán dây dao động từ vài móc cho đến vài trăm móc. Kích thước, cấu tạo và số lượng móc tùy thuộc vào mỗi loài. Cổ là những đốt sán nối tiếp sau đầu. Đốt cổ của sán dây là đốt sinh trưởng, từ các đốt cổ sinh ra các đốt thân, cơ quan sinh sản ở các đốt cổ chưa hình thành rõ.
Thân sán dây lại gồm ba loại đốt: những đốt chưa thành thục về sinh dục (ở gần cổ), cơ quan sinh dục chưa phát triển đầy đủ, chỉ thấy các cơ qua sinh n 6 dục đực. Những đốt thành thục về sinh dục ở giữa thân, cơ quan sinh dục trong những đốt sán này đã phát triển đầy đủ, có đủ cả bộ phận sinh dục đực và cái, có hệ bài tiết, cấu tạo mỗi đốt tương tự như mỗi cơ thể sán lá, chỉ khác là không có hệ tiêu hóa. Những đốt già ở cuối thân sán, bên trong đốt sán chứa tử cung với vô số sán dây. Ở những đốt già bộ phận sinh dục đực bị thoái hóa.
Những đốt già thường xuyên được rời khỏi cơ thể sán và theo phân ra ngoài (đặc điểm này thấy ở những loài sán dây thuộc bộ Cyclophyllidea). Chiều dài của sán dây chó dao động từ 0,5 mm đến hàng chục mét. Cơ thể sán dây phủ lớp biểu bì, đến lớp hạ bì, rồi đến lớp cơ vòng cơ dọc. Phần bên trong chứa đầy nhu mô.
Bên trong lớp cơ chứa đầy các khí quan của sán. Sán dây chó cũng giống các loài sán dây khác là không có hệ tiêu hóa, sán lấy thức ăn bằng phương thức thẩm thấu qua bề mặt cơ thể. Hệ thần kinh ở sán dây kém phát triển, gồm có hạch thần kinh trung ương nằm ở đầu, từ đó các dây thần kinh chạy dọc cơ thể. Có 2 dây phát triển hơn nằm bên ngoài ống bài tiết và mỗi đốt nối với nhau bởi các cầu nối ngang.
Hệ tuần hoàn và hệ hô hấp tiêu giảm. Hô hấp theo kiểu yếm khí. Hệ bài tiết cấu tạo theo kiểu nguyên đơn thận, gồm 2 ống chính từ đầu sán đi về cuối thân và thông với lỗ bài tiết. Ngoài ra ở mỗi đốt sán còn có những ống ngang nối liền với 2 ống chính.
Hầu hết các loài sán dây là lưỡng tính: trong mỗi đốt thường có một hệ sinh dục (gồm một hệ sinh dục đực và một hệ sinh dục cái) phát triển ở mỗi giai đoạn khác nhau. Sự phát triển của hệ sinh dục theo một thứ tự nhất định: ở các đốt non cơ quan sinh dục chưa phát triển, sau đó hình thành các cơ qua sinh dục đực rồi đến cơ quan sinh dục cái. Sau khi thụ tinh cơ quan sinh dục đực teo dần còn lại cơ quan sinh dục cái. Ở các đốt già trứng chứa đầy trong tử cung.
n 7 Hệ sinh dục đực gồm tinh hoàn, ống dẫn tinh và các tuyến sinh dục. Số lượng tinh hoàn trong mỗi đốt có từ một cho tới vài trăm và là dấu hiệu để phân loại mỗi loài. Từ tinh hoàn có nhiểu ống dẫn tinh nhỏ đi ra và hợp lại với nhau thành ống dẫn tinh, ống này đổ vào cơ quan giao phối là lông gai. Lông gai nằm trong nang lông gai.
Phần cuối ống dẫn tinh có thể phình ra gọi là túi tinh. Nếu túi tinh ở ngoài nang lông gai gọi là túi tinh ngoài, còn ở trong nang lông gai gọi là túi tinh trong. Lông gai dùng để đưa vào lỗ sinh dục khi giao phối. Nang lông gai và lông gai ở mỗi loài có hình dạng, kích thước và cấu tạo khác nhau.