Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Bệnh do vi khuẩn Streptococcus suis (S. suis) gây ra ở lợn và ở người 1. Bệnh do vi khuẩn Streptococcus suis gây ra ở lợn 1.
Tình hình nghiên cứu ngoài nước Vi khuẩn S. suis là một trong các nguyên nhân gây ra bệnh quan trọng và gây ra những thiệt hại cho ngành chăn nuôi lợn. suis gây ra ở lợn được xác nhận lần đầu tiên ở Hà Lan vào năm 1951 và ở Anh năm 1954. Từ đó, bệnh đã xảy ở hầu khắp các nước trên thế giới nơi có ngành chăn nuôi lợn phát triển (Higgins R.
suis serotype 1 và serotype ½ thường gây bệnh cho lợn con theo mẹ từ 1 - 3 tuần tuổi, có khi tới 6 tuần tuổi và thường ở thể bại huyết hoặc nhiễm trùng như viêm phổi, viêm khớp, màng não, viêm nội tâm mạc, đặc biệt là ở lợn con từ 1 - 7 ngày tuổi. suis thuộc serotype 2 cũng gây bệnh cho lứa tuổi này nhưng thường gây cho lợn trong giai đoạn sau cai sữa và lợn thịt (4-16 tuần tuổi) với các thể bệnh như trên. (2014a) [109] đã xác định từ 30 - 70% vi khuẩn S. suis cư trú ở đường hô hấp trên của lợn khỏe xâm nhập vào đường hô hấp dưới gây nhiễm trùng huyết, viêm phổi, viêm khớp, viêm ngoại tâm mạc, màng não.
khi hệ miễn dịch của lợn bị suy giảm. Bệnh thường xảy ra vào mùa xuân khi điều kiện chăn nuôi bất lợi và thuận lợi cho sự phát triển của các loại cầu khuẩn. Ở Anh, các nghiên cứu cũng cho thấy vi khuẩn S. suis serotype 2 là nguyên nhân chính gây bại huyết, viêm não và viêm đa khớp, ít khi gây viêm phổi; trong khi đó ở Bắc Mỹ khi lợn mắc bệnh liên cầu khuẩn thì bệnh tích ở phổi vẫn là chủ yếu.
suis serotype 2 có thể lây nhiễm từ đàn này sang đàn khác hoặc trong cùng một đàn do sự tiếp xúc giữa các cá thể lợn với nhau hoặc từ chất thải nhiễm vi khuẩn (Segura M. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.vn 5 Bệnh do vi khuẩn S. suis gây ra ở lợn là đa dạng gồm viêm phổi, viêm khớp, viêm não, viêm nội tâm mạc. và thường dẫn đến chết.
Ở Hàn Quốc, Han D. suis ở hạch amidan của lợn thịt khỏe là 13,8%; trong khi đó ở Trung Quốc, nghiên cứu của Rui P. (2012) [106] trong mẫu dịch mũi của lợn khỏe có 24,67% nhiễm S. Theo Goyette - Desijardins G.
(2014) [70] các nghiên cứu ở nhiều nước cho thấy S. suis serotype 2 được tìm thấy trên lợn khỏe, có thể lây nhiễm cho người qua tiếp xúc hoặc sử dụng các loại thực phẩm từ lợn không qua nấu chín. Ở Trung Quốc, năm 2005 đã chế tạo vaccine vô hoạt từ các chủng S. suis serotype 2 để kiểm soát dịch bệnh liên cầu khuẩn ở lợn theo Lun Z.
Nghiên cứu của Jiang X. suis serotype 5 (XS045) độc lực thấp có thể sử dụng để sản xuất vaccine nhược độc cho an toàn và hiệu quả trong việc bảo vệ cơ thể chống lại S. suis serotype 2 và 9 độc lực cao.2114 là một dẫn xuất từ kháng sinh defensin và plectasin của nấm rừng, có hoạt tính kháng S. suis serotype 2 trong điều kiện invitro và invivo mạnh hơn so với ampicillin.
(2017) [58] dựa vào kháng nguyên vỏ polysaccharide, vi khuẩn S. suis được phân thành 35 serotype từ 1 đến 34 và serotype ½. Đến nay, nhiều nghiên cứu đều cho thấy 6 serotype của S. suis bao gồm serotype 20, 22, 26, 32, 33 và 34 đã có những biến đổi về đặc tính sinh học của chúng so với ban đầu.
Tình hình nghiên cứu trong nước Ở Việt Nam, nghiên cứu của Trịnh Phú Ngọc và Lê Văn Tạo (2001) [11] cho thấy trong 37 chủng vi khuẩn Streptococcus spp. phân lập được từ lợn ở các lứa tuổi khác nhau, trong đó có 19 chủng từ hạch phổi. Kết quả của Cù Hữu Phú và cs. (2005) [22] khi nghiên cứu nguyên nhân gây viêm phổi của lợn nuôi tại một số tỉnh phía Bắc đã xác định vi khuẩn S.
suis là một trong những căn nguyên phổ biến có vai trò gây bệnh quan trọng. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.vn 6 Đỗ Ngọc Thúy và Lê Thị Minh Hằng (2009a) [31] đã nghiên cứu đặc tính sinh học và các phản ứng PCR để xác định các gen mã hóa một số yếu tố độc lực, các serotype thông thường của S. suis cho thấy các phản ứng đã thiết lập và chuẩn hóa đều đảm bảo các yêu cầu và tính chính xác cao, được ứng dụng trong khảo sát các yếu tố gây bệnh và serotype thông thường của các chủng S. Năm 2010, Đỗ Ngọc Thúy và cs.
(2010) [33] nghiên cứu chế tạo và thử nghiệm đặc tính gây miễn dịch của vaccine vô hoạt keo phèn phòng bệnh cho lợn do vi khuẩn S. suis gây ra có đậm độ vi khuẩn trong vaccine đạt từ 3,2 - 3,5 x 108 vi khuẩn/ml bước đầu có sinh đáp ứng miễn dịch trên lợn thí nghiệm. Nghiên cứu của Hoa N. (2011) [78] tỷ lệ lợn khỏe ở lò mổ tại các tỉnh miền Nam nhiễm S.
suis là 41,0%, trong đó từ bệnh phẩm là hạch amidan, là nơi cư trú thường xuyên của vi khuẩn S. suis nên có tỷ lệ cao hơn. Trương Quang Hải và cs. (2012) [6] nghiên cứu lợn mắc bệnh viêm phổi tại tỉnh Bắc Giang cho thấy tỷ lệ phân lập được S.
Trong đó, tỷ lệ cao nhất ở lợn sau cai sữa từ 1,5 đến 3 tháng tuổi chiếm 59,46% và thấp nhất là ở lợn con dưới 1,5 tháng tuổi (39,29%). Theo Lê Văn Dương và cs. (2013) [3] lợn dương tính với PRRS tại tỉnh Bắc Giang phân lập được S. suis phân lập được thuộc serotype 2 với tỷ lệ là 56,29%, serotype 9 là 17,03% và serotype 7 là 5,18%, các chủng thuộc serotype 21 và 29 đều chiếm tỷ lệ thấp (2,22%).
Cù Hữu Phú và cs. (2013) [24] nghiên cứu chọn chủng vi khuẩn A. suis để chế tạo vaccine phòng bệnh viêm phổi cho lợn cho thấy các chủng S. suis thuộc serotype 2 có gen mã hóa độc tố được phân bố rải rác trong các kiểu tổ hợp gen là arcA, arcA/sly; arcA/mrp; arcA/mrp/sly; arcA/mrp/sly/epf.
Theo Cù Hữu Phú và cs. (2014) [25] các lô vaccine vô hoạt có chất bổ trợ keo phèn được chế tạo từ các chủng vi khuẩn trên đều sinh miễn dịch và có hiệu lực bảo hộ cao (90 - 100%) khi thử trên động vật thí nghiệm. Hoàng Văn Minh và cs. (2017) [21] khi thử nghiệm vaccine vô hoạt phòng viêm phổi cho lợn do vi khuẩn A.
suis gây ra tại Bắc Giang cho thấy lợn được tiêm chủng vaccine này đã sinh miễn dịch, đạt tỷ lệ bảo hộ là 71,04%. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.vn 7 Nghiên cứu của Bùi Thị Hiền và cs. (2016) [8] về sự lưu hành của S. suis trên một số địa bàn thuộc tỉnh Thừa Thiên - Huế trong vụ xuân hè năm 2015 cho thấy tỷ lệ nhiễm S.
suis trên lợn khỏe là 11,4%. Huỳnh Ngân Hà và cs. (2016) [4] khảo sát mức độ nhiễm S. suis trên các sản phẩm từ lợn ở cơ sở giết mổ tại thành phố Hồ Chí Minh cho thấy tỷ lệ mẫu tìm thấy S.
suis là 72,2%, trong đó S. suis serotype 2 là 14,8% trên tổng số mẫu khảo sát. Lê Quốc Việt và cs. (2017) [41] đã xác định tỷ lệ nhiễm S.
suis ở lợn giết mổ trên địa bàn thành phố Huế cũng cho thấy trong 100 mẫu dịch mũi của lợn đã phát hiện có 9,0% nhiễm S. suis serotype 2 và đã tạo dòng, biểu hiện gen mã hóa 6 - phosphogluconate - dehydrogenase protein trong E. Lê Hồng Thủy Tiên và cs. (2018) [34] khảo sát tỷ lệ mang S.
suis trên lợn khỏe ở các độ tuổi khác nhau tại miền Đông Nam Bộ cho thấy S. suis là tác nhân gây bệnh viêm phổi, viêm khớp, viêm màng não, nhiễm trùng máu ở lợn, đặc biệt là S. suis serotype 2 và đã phân lập, xác định được tỷ lệ lợn khỏe mang S. Từ những nghiên cứu trên có thể thấy S.
suis là vi khuẩn được quan tâm nghiên cứu trong thời gian gần đây, mặc dù tỷ lệ phát hiện được chưa cao nhưng sự có mặt của S. suis đã chứng tỏ vai trò quan trọng trong bệnh viêm phổi, viêm khớp ở lợn tại Việt Nam hiện nay nên việc chăm sóc, phòng và trị bệnh cho lợn con cần được lưu tâm nhằm hạn chế nhiễm bệnh do S. suis cho đàn lợn cũng như cho người chăn nuôi. Bệnh do vi khuẩn Streptococcus suis gây ra ở người Không chỉ gây thiệt hại trên đàn lợn, vi khuẩn S.
suis còn gây bệnh nguy hiểm cho người, dịch bệnh liên cầu lợn đã xảy ra ở Trung Quốc từ tháng 7/2005 đến tháng 8/2005 có 215 người mắc, trong đó có 39 người tử vong, tỷ lệ 18,1% (Lun Z. Trên thế giới, ca bệnh ở người do vi khuẩn S. suỉs lần đầu tiên được thông báo vào năm 1968 ở Đan Mạch, đến cuối năm 2012 đã có khoảng 1.584 người bị nhiễm bệnh S. Bệnh xuất hiện phổ biến ở các vùng nuôi lợn tập trung hoặc ở những nơi người thường tiếp xúc với lợn.
Ở Châu Á, các nước có tỷ lệ người mắc và chết do S. suis lần lượt là: Thái Lan (36,0%), Việt Nam (30,0%) và Trung Quốc (22,0%) (Huong V. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.vn 8 Bệnh do S. suis ở người chủ yếu là do các chủng thuộc serotype 2 gây ra, một số ca bệnh khác là do serotype 4, serotype 14 và serotype 1 cũng đã được ghi nhận (Lun Z.
suis thường gây viêm não, viêm nội tâm mạc, viêm mô bào, viêm phổi, viêm khớp… kèm theo hiện tượng nhiễm. Các ca bệnh nặng thường có các biểu hiện như sốc, nghẽn mạch ngoại vi, gây ra hiện tượng xuất huyết, thường dẫn đến tử vong. suis còn là tác nhân gây ra các ổ viêm hậu quả là khiếm thính ở người, tỷ lệ bệnh nhân bị khiếm thính do nhiễm S. suis có thể tới 50,0% ở châu Âu và 65,0% ở châu Á và việc sử dụng kháng sinh dường như không có tác dụng trong việc điều trị (Hoa N.
Đường xâm nhập của vi khuẩn S. suis vào cơ thể người có thể từ các vết xước ở da, đường hầu họng hoặc đường tiêu hóa. Thời gian ủ bệnh thường từ vài giờ đến 2 ngày. Hầu hết các trường hợp nhiễm bệnh ở người đều được xác định là có phơi nhiễm với thịt lợn chưa được chế biến hoặc có tiếp xúc trực tiếp với lợn bệnh.