Tổng quan luận án

Công trình Kinh tế nông nghiệp tỉnh Sơn La từ đầu thế kỉ XIX đến năm 1945 của tác giả Trần Thị Phượng là luận án Tiến sĩ Lịch sử, chuyên ngành Lịch sử Việt Nam (mã số: 9.13), được thực hiện tại Trường Đại học Sư phạm Hà Nội năm 2022 dưới sự hướng dẫn khoa học của GS. Nguyễn Duy Bính.

Về tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu, tác giả trình bày: Việt Nam có xuất phát điểm là một nền nông nghiệp truyền thống lâu đời. Ở các khu vực miền núi và biên viễn như Sơn La, do điều kiện tự nhiên đặc thù và tổ chức xã hội mang nhiều nét riêng biệt (đặc biệt là quyền cai quản lâu đời của tầng lớp quý tộc người Thái dưới chế độ phìa tạo), tình hình ruộng đất, kỹ thuật canh tác và phương thức trao đổi sản phẩm có sự khác biệt rõ rệt so với vùng đồng bằng. Tuy nhiên, các nghiên cứu lịch sử kinh tế trước đây về Sơn La còn mờ nhạt, chưa có công trình nào phục dựng một cách toàn diện và có hệ thống bức tranh kinh tế nông nghiệp địa phương qua hai giai đoạn lịch sử bản lề: thời phong kiến nhà Nguyễn và thời kỳ Pháp thuộc. Do đó, việc nghiên cứu đề tài này nhằm khỏa lấp khoảng trống tư liệu, làm rõ diện mạo kinh tế nông nghiệp của một tỉnh miền núi Tây Bắc, đồng thời lý giải nguyên nhân của sự phát triển chậm chạp về mặt kinh tế - xã hội tại địa bàn trước năm 1945.

Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu được văn bản xác định cụ thể:

  1. Mục đích nghiên cứu: Phục dựng lại tình hình kinh tế nông nghiệp tỉnh Sơn La từ đầu thế kỉ XIX đến năm 1945; rút ra các đặc điểm của kinh tế nông nghiệp Sơn La trong sự đối sánh với không gian chung của vùng Tây Bắc và các địa phương miền núi phía Bắc (như Lai Châu, Hòa Bình, Cao Bằng, Hà Giang).
  2. Nhiệm vụ nghiên cứu:
    • Thứ nhất: Nghiên cứu các yếu tố tác động đến kinh tế nông nghiệp địa phương, bao gồm sự biến đổi đơn vị hành chính, vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên, dân cư, đời sống xã hội cùng các chính sách nông nghiệp của triều Nguyễn và chính quyền thực dân Pháp.
    • Thứ hai: Phục dựng thực trạng kinh tế nông nghiệp qua hai giai đoạn (từ đầu thế kỷ XIX đến năm 1895 và từ năm 1895 đến năm 1945) trên các mặt: chế độ ruộng đất, trồng trọt, chăn nuôi, trao đổi và tiêu thụ nông sản.
    • Thứ ba: Chỉ ra những chuyển biến kinh tế nông nghiệp giữa hai thời kỳ, xác định đặc điểm kinh tế địa phương thông qua đối chiếu, so sánh với các tỉnh lân cận.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu: Kinh tế nông nghiệp tỉnh Sơn La từ đầu thế kỉ XIX đến năm 1945, bao gồm chế độ ruộng đất, các phân ngành trồng trọt, chăn nuôi và hoạt động tiêu thụ, xuất khẩu nông sản.
  • Phạm vi không gian: Địa bàn tỉnh Sơn La theo các mốc hành chính lịch sử. Đầu thế kỷ XIX, Sơn La thuộc trấn Hưng Hóa (gồm các châu: Thuận, Sơn La, Mộc, Phù Hoa, Mai Sơn, Việt). Dưới thời Minh Mệnh, địa phận này thuộc phủ Gia Hưng, tỉnh Hưng Hóa (gồm 6 châu: Phù Yên, Mộc, Thuận, Mai Sơn, Sơn La, Yên). Thời Pháp thuộc, sau khi Nghị định ngày 28/6/1909 tách các châu Quỳnh Nhai, Điện Biên, Tuần Giáo, Lai, Luân thành lập tỉnh Lai Châu và nhập tổng Nghĩa Lộ về Yên Bái, địa hạt Sơn La ổn định gồm 6 châu: Mường La (Sơn La), Thuận Châu, Mai Sơn, Yên Châu, Mộc Châu, Phù Yên (bao gồm cả Bắc Yên). Luận án khảo sát trên phạm vi không gian 6 châu này.
  • Phạm vi thời gian: Từ năm 1805 (thời điểm triều Nguyễn bắt đầu lập địa bạ Gia Long 4 trên đất Bắc Hà) đến Cách mạng Tháng Tám năm 1945.
  • Phạm vi nội dung: Tập trung vào hai ngành sản xuất chính là trồng trọt và chăn nuôi. Các hoạt động khai thác lâm sản tự nhiên và đánh bắt thủy sản chỉ được xem là sinh kế phụ trợ mang tính tự cấp, tự túc nên không thuộc trọng tâm phân tích sâu do sự hạn chế của nguồn tài liệu lưu trữ.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Tác giả luận án đã khảo cứu và phân loại các công trình nghiên cứu đi trước thành ba nhóm chính:

Nhóm nghiên cứu về kinh tế nông nghiệp Việt Nam thời trung đại và cận đại

  • Nghiên cứu thời phong kiến: Công trình của Phan Huy Lê (1959) về Chế độ ruộng đất và kinh tế nông nghiệp thời Lê sơ đặt nền móng phương pháp luận cho việc tiếp cận sở hữu ruộng đất; Nguyễn Kiến Giang (1959) trong Phác qua tình hình ruộng đất và đời sống nông dân trước Cách mạng Tháng Tám đã chỉ ra tính chất công hữu trên danh nghĩa nhưng thực chất bị tầng lớp thống trị (thổ ty, lang đạo, phìa tạo) chiếm giữ và phân phối; Vũ Huy Phúc (1979) trong Tìm hiểu chế độ ruộng đất Việt Nam nửa đầu thế kỷ XIX hệ thống hóa chính sách thuế khóa, ruộng đất của nhà Nguyễn; Trương Hữu Quýnh và Đỗ Bang (chủ biên, 1993) trong Tình hình ruộng đất nông nghiệp và đời sống nông dân dưới triều Nguyễn phân tích nguồn tư liệu địa bạ Bắc Kỳ thời Gia Long 4 (1805).
  • Nghiên cứu thời Pháp thuộc: Nhóm tác giả người Pháp gồm Albert Boudillon (1915, 1927), P. de Feyssal (1931), E. Rény (1931), Pierre Aquarone (1936), Pierre Gourou (1940), Constantin (1918), Henri Yves (1932 - Economic Agricole de l'Indochine cung cấp các chỉ số diện tích ruộng đất và mật độ dân cư Sơn La năm 1932), Charles Robequin (1939), Andre Hibon (1934), Andre Touzet (1934). Nhóm tác giả trong nước gồm Tạ Thị Thúy (1996, 2001) nghiên cứu về đồn điền và việc nhượng đất ở Bắc Kỳ; Hồ Tuấn Dung (1997) khảo sát chế độ thuế; Nguyễn Văn Khánh (2004, 2013) nghiên cứu cơ cấu kinh tế - xã hội thời thuộc địa và chính sách lôi kéo tầng lớp chúa đất Tây Bắc của thực dân Pháp; Dương Kinh Quốc (1988) nghiên cứu về chính quyền thuộc địa và Đạo quan binh 4 Sơn La.

Nhóm nghiên cứu về Tây Bắc và tỉnh Sơn La

  • Công trình của người Pháp: Edouar Petit (1887), Philippe Henri d’Orléans (1894), Auguste Pavie (1908), Maurice Abadie (1924), Léon Dussault (1924), Kunitz F. (1888-1889), Alfred Léon Bouchet viết về đặc điểm tộc người, giao thông và thương mại sông Đà.
  • Công trình của các tác giả Việt Nam: Đặng Nghiêm Vạn và Đinh Xuân Lâm (1965) với Điện Biên trong lịch sử; tập thể tác giả Sơn La 110 năm (1895 – 2005) (2005); Phạm Văn Lực (2012) khảo sát phong trào đấu tranh chống Pháp và cơ cấu xã hội cổ truyền; Tống Thanh Bình (2017) với luận án Tiến sĩ Kinh tế, xã hội tỉnh Sơn La từ năm 1895 đến năm 1945 và các bài báo chuyên đề về cây lương thực, phân chia hành chính; Nguyễn Thị Thu Thủy (2018) khảo sát địa giới hành chính và tình hình ruộng đất Sơn La qua 28 bản địa bạ triều Nguyễn.

Nhóm nghiên cứu dân tộc học về các tộc người ở Tây Bắc và người Thái

  • Cầm Trọng, Bùi Tịnh, Nguyễn Hữu Ưng (1978) trong Các tộc người ở Tây Bắc Việt Nam làm rõ cơ cấu châu mường và hệ thống thủy nông "mương, phai, lái, lín"; Khổng Diễn (1995, 1996) phân tích cơ cấu kinh tế truyền thống và thiết chế xã hội của người Thái, Khơ mú; Trần Bình (2001) nghiên cứu tập quán kinh tế của các tộc người Xinh mun, Khơ mú, La Hủ; Lã Văn Lô và Đặng Nghiêm Vạn (1968) nghiên cứu chế độ ruộng công bản mường; Viện Dân tộc học (1978) ghi nhận tỷ lệ ruộng tư tại Sơn La thời Pháp thuộc chỉ chiếm khoảng 2%.

Khoảng trống học thuật được luận án giải quyết: Phần lớn các công trình trước đây chỉ đề cập đến kinh tế - xã hội Sơn La một cách tản mạn trong các khảo cứu dân tộc học hoặc đặt trong bối cảnh chung của Bắc Kỳ và Tây Bắc, thiếu số liệu thống kê cụ thể và chưa phân kỳ lịch sử rõ ràng. Luận án của Trần Thị Phượng tập trung khai thác trực tiếp 34 bản địa bạ Hán Nôm và hệ thống hồ sơ lưu trữ tiếng Pháp để tái hiện diễn trình kinh tế nông nghiệp Sơn La suốt 140 năm (1805 - 1945).


Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Cơ sở lý luận và phương pháp luận

Luận án vận dụng quan điểm của chủ nghĩa duy vật biện chứng và duy vật lịch sử để xem xét sự vận động của kinh tế nông nghiệp trong mối liên hệ hữu cơ với điều kiện tự nhiên, cơ cấu xã hội tộc người và các thể chế chính trị qua từng giai đoạn lịch sử.

Phương pháp nghiên cứu chuyên ngành và liên ngành

  • Phương pháp lịch sử và phương pháp lôgic: Đây là hai phương pháp giữ vai trò chủ đạo. Phương pháp lịch sử giúp tái hiện các sự kiện, số liệu nông nghiệp theo tiến trình thời gian từ đầu thế kỷ XIX đến năm 1945; phương pháp lôgic giúp khái quát hóa, làm sáng tỏ bản chất các mối quan hệ kinh tế và phương thức bóc lột địa phương.
  • Phương pháp thống kê, phân tích và tổng hợp: Thu thập và xử lý các chuỗi số liệu từ địa bạ triều Nguyễn (diện tích, số thửa, chủ sở hữu, mức độ bỏ hoang) và các báo cáo kinh tế của chính quyền thuộc địa Pháp (sản lượng lúa, ngô, đàn gia súc, sản lượng cánh kiến xuất khẩu).
  • Phương pháp so sánh, đối chiếu: So sánh tình hình nông nghiệp giữa hai thời kỳ (trước và sau năm 1895), đồng thời đối sánh Sơn La với các địa phương khác như Lai Châu, Hòa Bình, Cao Bằng, Hà Giang.
  • Phương pháp liên ngành dân tộc học và địa lý học: Kết hợp khảo sát thực địa, điền dã, phỏng vấn các nghệ nhân, nhà nghiên cứu văn hóa Thái và người cao tuổi để kiểm chứng các quy định trong luật tục với tài liệu thành văn.

Nguồn tư liệu sử dụng

  1. Nguồn tài liệu lưu trữ Quốc gia:
    • 34 bản địa bạ chữ Hán Nôm của tỉnh Sơn La lưu giữ tại Trung tâm Lưu trữ Quốc gia I (gồm 19 bản niên đại Gia Long 4 - năm 1805; 11 bản niên đại Minh Mệnh 21 - năm 1840; các bản năm Thiệu Trị 1, 3, 4 và Tự Đức 1 mỗi năm 1 bản).
    • Hồ sơ tiếng Pháp tại Trung tâm Lưu trữ Quốc gia I thuộc phông Phủ Thống sứ Bắc Kỳ (RST) và phông Nha Nông nghiệp, Lâm nghiệp và Thương mại Đông Dương (AFC), bao gồm báo cáo kinh tế thường niên (1902 - 1941), biên bản họp hội đồng tỉnh, hồ sơ cấp đất và chuyển nhượng đất.
  2. Nguồn tài liệu điền dã và luật tục địa phương: Các bản luật tục Thái như Tục lệ người Thái Đen ở Thuận Châu, Mai Sơn (sưu tập trong Luật tục Thái ở Việt Nam của Cầm Trọng và Ngô Đức Thịnh); các pho sử thi, truyện kể bản mường (Quam tô mương) tại Mường Muổi, Mường La, Mường Chanh; gia phả các dòng họ quý tộc chúa đất (Bạc Cầm, Lò Cầm).
  3. Nguồn tài liệu thư tịch cổ và sách chuyên khảo: Đại Nam nhất thống chí, Hưng Hóa xứ phong thổ lục, cùng các công trình địa chí, luận án, tạp chí khoa học chuyên ngành.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận án

Chương này điểm luận có hệ thống các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước liên quan đến đề tài, phân chia thành các nhóm vấn đề: kinh tế nông nghiệp Việt Nam thời trung đại; nông nghiệp thời Pháp thuộc; các nghiên cứu về Tây Bắc, Sơn La và tộc người Thái. Tác giả chỉ ra rằng các công trình đi trước đã làm rõ cơ cấu phân tầng xã hội mường và xác định tính chất tự cấp tự túc của kinh tế miền núi, song chưa làm sáng tỏ được sự chuyển biến kinh tế qua từng mốc lịch sử cụ thể và thiếu sự phân tích định lượng dựa trên địa bạ và lưu trữ thuộc địa.

Chương 2: Khái quát về tỉnh Sơn La trước năm 1945

Nội dung chương trình bày bối cảnh địa lý, môi trường tự nhiên, phân chia hành chính và cơ cấu dân cư - xã hội tác động tới sản xuất nông nghiệp:

  • Biến đổi hành chính: Trải qua quá trình từ thời phong kiến thuộc trấn/tỉnh Hưng Hóa đến khi thành lập tỉnh Vạn Bú (1895), đổi tên thành tỉnh Sơn La (1904) và sau năm 1909 ổn định với 6 châu (Mường La, Thuận Châu, Mai Sơn, Yên Châu, Mộc Châu, Phù Yên) gồm 29 mường, 1.180 bản và trung tâm hành chính Vạn Yên.
  • Điều kiện tự nhiên: Diện tích tự nhiên khoảng 12.000 km² với hơn 87% diện tích có độ dốc trên 25°. Địa hình chia cắt mạnh thành 3 dạng chính: núi đá vôi, thung lũng ven sông suối và các cao nguyên bằng phẳng (Mộc Châu, Nà Sản). Khí hậu chia thành 3 tiểu vùng (phía Bắc, phía Tây - Tây Nam, phía Đông - Đông Nam), mùa khô trùng mùa lạnh (tháng 10 đến tháng 4 năm sau). Hệ thống sông chính gồm sông Đà và sông Mã đóng vai trò huyết mạch giao thương nhưng chia mùa cạn - lũ phức tạp.
  • Dân cư và cơ cấu tộc người: Dân số tăng chậm từ 5 vạn người (1904) lên 8,6 vạn (1921), 90.003 người (1932) và đạt 118.745 người (1943). Tộc người Thái chiếm tỷ lệ áp đảo (74,5% năm 1932), cư trú ở các thung lũng lòng chảo. Người H'mông cư trú ở vùng núi cao (800 - 1.700m). Nhóm Môn - Khơme (Khơ mú, Xinh mun, Kháng, La Ha) ở vùng rẻo giữa. Người Mường phân bố tại Phù Yên, Mộc Châu.
Tên châu Số gia đình Thái (1935) Số gia đình Thái (1936) Số gia đình Mèo (1935) Số gia đình Mèo (1936) Số gia đình Xá (1935) Số gia đình Xá (1936) Tổng số gia đình (1935) Tổng số gia đình (1936)
Mường La & Ngọc Chiến 3.528 3.605 421 426 250 240 4.199 4.271
Mai Sơn 1.827 1.853 30 30 270 264 2.127 2.147
Phù Yên 2.254 2.258 432 438 0 0 2.686 2.686
Thuận Châu 4.518 4.577 392 386 655 647 5.565 5.610
Mộc Châu 1.015 1.015 352 358 17 17 1.384 1.390
Yên Châu 1.115 1.163 12 13 66 63 1.193 1.239
Toàn tỉnh 14.257 14.471 1.639 1.641 1.258 1.231 17.154 17.343
  • Cơ cấu xã hội: Thiết chế bản mường do tầng lớp quý tộc phìa tạo (các dòng họ Lò Cầm, Bạc Cầm, Hoàng, Sa) thống trị thế tập. Xã hội chia thành hai giai cấp: giai cấp thống trị (phìa, tạo, kỳ mục, chức dịch, tầng lớp mo mường) và giai cấp bị trị (nông dân tự do, các tộc người lệ thuộc làm pụa pái, cuông cuông). Khi người Pháp đặt ách cai trị, họ duy trì thiết chế này để thực hiện chính sách "chia để trị", lập "Xứ Thái tự trị".

Chương 3: Kinh tế nông nghiệp tỉnh Sơn La từ đầu thế kỉ XIX đến năm 1895

Khảo sát toàn diện kinh tế nông nghiệp dưới thời nhà Nguyễn:

  • Chính sách của triều đình: Thực hiện đo đạc ruộng đất, lập địa bạ (đợt lớn nhất năm Gia Long 4 - 1805), áp dụng chính sách ban cấp, khuyến khích khai hoang và quy định ngạch thuế tô.
  • Tình hình ruộng đất qua tư liệu địa bạ: Qua 19 bản địa bạ thời Gia Long 4 (1805) và 11 bản thời Minh Mệnh 21 (1840), trên danh nghĩa văn bản hành chính triều đình ghi nhận 100% diện tích là ruộng tư thuộc ruộng hạng ba. Tỷ lệ diện tích ruộng đất bị lưu hoang chiếm tới 49,2% (năm 1805) do khó khăn về nguồn nước và địa hình chia cắt. Tuy nhiên, trên thực tế đời sống cộng đồng, ruộng đất vận hành theo luật tục bản mường, thuộc quyền quản lý tối cao của chúa đất, gồm: ruộng chúa (na chẩu), ruộng chức (na quan) và ruộng gánh vác việc mường (na hươn hay na lỏng mường) chia cho nông dân cày cấy để thu tô và bóc lột lao dịch.
  • Hoạt động sản xuất nông nghiệp:
    • Trồng trọt: Ngành chính là trồng lúa nước tại các thung lũng dựa vào công trình thủy nông truyền thống "mương, phai, lái, lín", chủ yếu canh tác vụ mùa (lúa tháng 10); kết hợp phương thức làm nương rẫy bằng kỹ thuật phát, đốt, "chọc lỗ tra hạt" của các tộc người vùng cao và vùng giữa.
    • Chăn nuôi: Phát triển chăn nuôi đại gia súc (trâu, bò) và lợn, gia cầm theo hình thức thả rông; trâu bò chủ yếu phục vụ sức kéo nông nghiệp và cúng tế trong các nghi lễ mường.
  • Tiêu thụ sản phẩm: Kinh tế mang nặng tính chất tự nhiên, khép kín, tự cung tự cấp. Trao đổi hàng hóa diễn ra cục bộ tại các chợ phiên vùng hoặc vận chuyển nhỏ lẻ xuôi dòng sông Đà về miền xuôi vào mùa nước cạn.

Chương 4: Kinh tế nông nghiệp tỉnh Sơn La từ năm 1895 đến năm 1945

Phân tích những biến đổi của kinh tế nông nghiệp dưới tác động của chính quyền thuộc địa Pháp:

  • Chính sách nông nghiệp thuộc địa: Duy trì chế độ ruộng chức và quyền thu thuế của phìa tạo; cấp đất lập đồn điền (toàn tỉnh ghi nhận 1 đồn điền 9.000 ha nhượng cho Morand và Gros, sau đó không mở rộng thêm đồn điền lớn của tư bản Pháp mà chỉ mở rộng quy chế tiểu đồn điền khẩn hoang cho người bản xứ theo Nghị định ngày 7/6/1939); thiết lập chính sách thuế thân, thuế ruộng và độc quyền thu mua thuốc phiện.
  • Thực trạng ruộng đất: Diện tích canh tác ruộng nước mở rộng hạn chế (khoảng 8.000 ha theo thống kê năm 1919 và 1932). Chế độ công điền công thổ bản mường vẫn chiếm ưu thế tuyệt đối (ruộng tư hữu cá nhân chỉ chiếm khoảng 2%).
  • Sản xuất và thương mại nông nghiệp:
    • Cây lương thực: Diện tích lúa và ngô tăng dần theo các giai đoạn; ngô trở thành cây lương thực quan trọng thứ hai sau lúa.
    • Cây công nghiệp và đặc sản: Phát triển khai thác cánh kiến đỏ, trồng thuốc phiện và chè. Cánh kiến và thuốc phiện là những mặt hàng xuất khẩu có giá trị kinh tế cao do chính quyền thuộc địa kiểm soát.
    • Chăn nuôi: Tận dụng đồng cỏ tự nhiên trên cao nguyên Nà Sản và Mộc Châu, tổng đàn trâu, bò và gia cầm có sự gia tăng trong giai đoạn 1929 - 1939.
    • Thương mại xuất khẩu: Hoạt động xuất khẩu nông - lâm sản giai đoạn 1901 - 1931 đạt bước tiến mới, mặt hàng chủ lực đưa về xuôi hoặc xuất khẩu gồm cánh kiến, da động vật (da trâu, bò), thảo quả và thuốc phiện thông qua tuyến đường sông Đà và các tuyến đường bộ mới mở (đường số 41/Quốc lộ 6).

Kết quả và những đóng góp mới

  1. Về mặt khoa học và lịch sử:

    • Tái hiện một cách hệ thống, toàn diện và chân thực bức tranh kinh tế nông nghiệp tỉnh Sơn La trong giai đoạn lịch sử 1805 - 1945, chỉ ra sự chuyển biến qua hai giai đoạn dưới chế độ phong kiến nhà Nguyễn và ách thống trị của thực dân Pháp.
    • Phân tích và làm sáng tỏ mối quan hệ giữa thể chế chính trị trung ương với thiết chế tự trị bản mường địa phương; chỉ ra nguyên nhân dẫn đến sự khác biệt giữa hồ sơ địa bạ thời Nguyễn (ghi nhận ruộng tư) và thực tế vận hành xã hội (chế độ ruộng công bản mường do phìa tạo quản lý).
    • Khái quát các đặc trưng cơ bản của kinh tế nông nghiệp Sơn La: ruộng đất công bản mường chiếm ưu thế tuyệt đối; tính chất tự cung tự cấp sâu sắc; phương thức canh tác kết hợp giữa thủy nông "mương, phai, lái, lín" ở thung lũng với nương rẫy "chọc lỗ tra hạt" trên sườn dốc; quan hệ bóc lột chủ yếu dựa trên tô hiện vật và lao dịch không công (pụa pái).
  2. Về mặt thực tiễn và ứng dụng:

    • Cung cấp nguồn tư liệu lịch sử có căn cứ khoa học phục vụ công tác biên soạn, giảng dạy lịch sử địa phương và lịch sử kinh tế Việt Nam tại các cơ sở giáo dục đại học, cao đẳng và phổ thông.
    • Đúc kết các bài học kinh nghiệm lịch sử đối với công tác quản lý đất đai vùng đồng bào dân tộc thiểu số, quy hoạch tiểu vùng sinh thái nông nghiệp và phát triển bền vững kinh tế nông - lâm nghiệp tại tỉnh Sơn La và vùng Tây Bắc hiện nay.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế về nguồn tư liệu:
    • Nguồn tư liệu địa bạ triều Nguyễn bị gián đoạn, chỉ có các bản ghi chép từ năm 1805 đến năm 1848, hoàn toàn khuyết thiếu tài liệu địa bạ giai đoạn 1848 - 1895.
    • Hồ sơ lưu trữ tiếng Pháp (phông RST, AFC) thiếu các chuỗi số liệu thống kê liên tục hàng năm về diện tích và sản lượng nông sản ở từng châu, mường.
    • Nguồn tài liệu thành văn về các ngành kinh tế khai thác lâm sản tự nhiên và nuôi thả thủy sản rất ít, khiến luận án chưa thể phân tích sâu về cơ cấu kinh tế nông - lâm - thủy sản mở rộng.
  • Hướng nghiên cứu tiếp: Tiếp tục sưu tầm, bổ sung các nguồn tư liệu dân tộc học, truyền miệng và tư liệu lưu trữ địa phương để nghiên cứu sâu hơn về đời sống kinh tế của các cộng đồng thiểu số cư trú ở vùng rẻo cao và rẻo giữa ngoài tộc người Thái.

Giá trị tham khảo

  • Đối với giảng viên, nghiên cứu sinh và học viên: Là tài liệu tham khảo chuyên khảo trong các chuyên ngành Lịch sử Việt Nam, Lịch sử Kinh tế, Dân tộc học và Văn hóa học; cung cấp phương pháp tiếp cận và khai thác tư liệu địa bạ chữ Hán Nôm và phông lưu trữ thuộc địa Pháp về khu vực miền núi.
  • Đối với các cơ quan quản lý và hoạch định chính sách: Cung cấp cơ sở dữ liệu lịch sử về tập quán canh tác, cơ cấu sở hữu đất đai truyền thống và các đặc điểm tiểu vùng sinh thái tại địa phương, hỗ trợ xây dựng các chính sách nông nghiệp và nông thôn phù hợp với đặc thù tộc người tại miền núi phía Bắc.

Câu hỏi thường gặp

1. Tại sao địa bạ triều Nguyễn ghi nhận 100% ruộng đất ở Sơn La là ruộng tư, nhưng thực tế lại vận hành theo chế độ ruộng công bản mường?

Địa bạ triều Nguyễn (đặc biệt là các bản năm 1805 và 1840) phản ánh cách thức ghi chép hành chính của quan lại phong kiến trung ương nhằm mục đích phân ngạch và áp thuế đối với từng cá nhân hoặc chủ hộ ghi tên trong sổ bạ. Tuy nhiên, ở Sơn La, triều đình nhà Nguyễn không thể áp đặt thành công chế độ lưu quan mà phải thừa nhận quyền tự trị thế tập của các thổ ty, phìa tạo. Trong thực tế đời sống cộng đồng, mọi đất đai thuộc quyền sở hữu tối cao của mường; nông dân chỉ có quyền chiếm hữu, canh tác và phải thực hiện nghĩa vụ cống nạp sản vật cùng lao dịch không công cho quý tộc Thái.

2. Tình hình bỏ hoang ruộng đất ở Sơn La đầu thế kỷ XIX được địa bạ ghi nhận như thế nào và do nguyên nhân gì?

Theo thống kê từ 19 bản địa bạ thời Gia Long 4 (1805), diện tích ruộng đất bị lưu hoang tại Sơn La chiếm tới 49,2% tổng diện tích ruộng đất ghi trong bạ. Nguyên nhân chủ yếu là do địa hình đồi núi dốc, bị chia cắt phức tạp, nguồn nước phụ thuộc hoàn toàn vào tự nhiên và các công trình thủy nông nhỏ hẹp, khiến việc dẫn nước tưới tiêu gặp nhiều trở ngại, dẫn đến tình trạng hoang hóa phổ biến khi gặp hạn hán hoặc lũ lụt.

3. Việc khai thác đồn điền của thực dân Pháp tại Sơn La có điểm gì khác biệt so với các tỉnh đồng bằng và trung du Bắc Kỳ?

Khác với các tỉnh đồng bằng và trung du Bắc Kỳ nơi tư bản Pháp chiếm đất lập hàng loạt đồn điền lớn trồng lúa và cây công nghiệp, tại Sơn La, chính quyền thuộc địa chỉ ghi nhận một đồn điền quy mô 9.000 ha nhượng cho Morand và Gros giai đoạn 1884 - 1918. Sau đó, từ 1919 đến 1945 không có đồn điền lớn mới nào của tư bản Pháp được thành lập, mà chủ yếu áp dụng quy chế cấp tiểu đồn điền khẩn hoang cho người bản xứ theo Nghị định ngày 7/6/1939. Nguyên nhân do giao thông cách trở, địa hình hiểm trở và sự duy trì quyền lực của tầng lớp phìa tạo địa phương.

4. Cơ cấu kinh tế cây trồng và những mặt hàng nông - lâm sản xuất khẩu chủ lực của Sơn La giai đoạn 1895 - 1945 gồm những gì?

Cây trồng chủ lực là lúa nước (chủ yếu vụ mùa tháng 10) và ngô trên nương rẫy. Về cây đặc sản và công nghiệp, địa phương trồng và khai thác thuốc phiện, cánh kiến đỏ và chè. Các mặt hàng xuất khẩu ra ngoài tỉnh và xuất khẩu thương mại trong giai đoạn 1901 - 1931 tập trung vào cánh kiến đỏ, da động vật (da trâu, bò), thảo quả và thuốc phiện, được vận chuyển bằng đường thủy qua sông Đà và mạng lưới đường bộ mới hình thành.

5. Thiết chế phìa tạo của người Thái chi phối phương thức bóc lột trong kinh tế nông nghiệp Sơn La trước năm 1945 như thế nào?

Thiết chế phìa tạo kiểm soát toàn bộ việc phân chia ruộng đất công bản mường. Quý tộc phân chia ruộng thành các loại: ruộng chúa, ruộng chức (giao cho chức dịch) và ruộng gánh vác việc chung (giao cho dân đinh cày cấy). Phương thức bóc lột chủ yếu không phải là quan hệ thuê mướn lao động tư bản hay địa chủ - tá điền như miền xuôi, mà là bóc lột thông qua tô hiện vật (nộp thóc lười, cống nạp gia súc, lâm sản) và chế độ lao dịch không công (pụa pái), bắt buộc nông dân và các tộc người lệ thuộc (Khơ mú, Xinh mun, Kháng, La Ha) phải phục dịch cho nhà chúa đất.


Kết luận

Luận án Kinh tế nông nghiệp tỉnh Sơn La từ đầu thế kỉ XIX đến năm 1945 của tác giả Trần Thị Phượng là công trình chuyên khảo lịch sử kinh tế địa phương, tái hiện có hệ thống diện mạo nông nghiệp Sơn La qua hai thời kỳ lịch sử quan trọng. Luận án đã kết hợp việc xử lý nguồn tư liệu địa bạ Hán Nôm, tài liệu lưu trữ tiếng Pháp với các nguồn tài liệu dân tộc học để làm sáng tỏ bản chất của chế độ ruộng đất công bản mường, kỹ thuật canh tác và phương thức trao đổi sản phẩm. Kết quả nghiên cứu làm rõ các nguyên nhân kinh tế - xã hội dẫn đến sự phát triển chậm chạp của kinh tế vùng cao trước năm 1945, đồng thời cung cấp cơ sở dữ liệu phục vụ nghiên cứu lịch sử và hoạch định chính sách phát triển nông nghiệp miền núi hiện nay.