đặt vấn đề ruộng đất và kinh tế nông nghiệp Sơn La trong sự phát triển chung của cả nước. Bên cạnh các cuốn sách nói trên, còn có nhiều bài viết đề cập đến vấn đề này được đăng trên các tạp chí Nghiên cứu lịch sử, Nghiên cứu kinh tế, Dân tộc học của các tác giả: Nguyễn Hồng Phong, Vấn đề ruộng đất trong lịch sử chế độ phong kiến Việt Nam, NCLS, 1/1959, tr. Trương Hữu Quýnh, Vấn đề ruộng đất bỏ hoang ở đồng bằng Bắc Bộ buổi đầu thời Nguyễn, NCLS, 261/1992, tr. Vũ Minh Quân với Khái quát về tình hình ruộng đất và giải quyết vấn đề ruộng đất của Nhà nước ở nửa đầu thế kỷ XIX, NCLS, số 4 (914), tr.
Các bài 10 viết trên đề cập đến rất nhiều vấn đề khác nhau trong chế độ ruộng đất ở Việt Nam thời phong kiến. Điều này đã giúp tác giả có những nhận định ban đầu khi đặt chế độ ruộng đất của Sơn La trong sự vận động của chế độ sở hữu ruộng đất của cả nước nói chung và bên cạnh các vùng miền khác nói riêng. Khi nhắc đến sở hữu ruộng đất và kinh tế nông nghiệp ở các địa phương cụ thể qua các thời điểm đã xuất hiện nhiều công trình, tiêu biểu trong số này phải kể đến các luận án đã được bảo vệ thành công: Công cuộc khẩn hoang thành lập huyện Tiền Hải – Luận án Phó Tiến sĩ của tác giả Bùi Quý Lộ (1987) [233], Công cuộc khẩn hoang thành lập huyện Kim Sơn – Luận án Phó Tiến sĩ của tác giả Đào Tố Uyên [257]. Gần đây xuất hiện một số luận án Tiến sĩ về ruộng đất, kinh tế nông nghiệp của một số huyện, tỉnh trong cả nước như: Luận án của tác giả Bùi Việt Hùng, Tình hình ruộng đất và kinh tế nông nghiệp huyện Yên Hưng, tỉnh Quảng Ninh từ đầu thế kỷ XIX đến đầu thế kỷ XX, ĐHSP Hà Nội, 1999 [227].
Tác giả Trịnh Thị Thủy, Tình hình ruộng đất và kinh tế nông nghiệp ở huyện Đông Sơn (Thanh Hóa) nửa đầu thế kỉ XIX, Hà Nội, 2002 [247]. Tác giả Thái Quang Trung, Tình hình ruộng đất và kinh tế nông nghiệp Thừa Thiên Huế nửa đầu thế kỷ XIX, ĐHSP Hà Nội, 2009 [253]. Tác giả Đàm Thị Uyên (2000), Huyện Quảng Hòa (tỉnh Cao Bằng) từ khi thành lập đến giữa thế kỷ XIX, ĐHSP Hà Nội [258]. Luận án Kinh tế, văn hóa huyện La Sơn (tỉnh Hà Tĩnh) nửa đầu thế kỷ XIX của tác giả Lê Hiến Chương (2013), ĐHSP Hà Nội [218].
Tác giả Nguyễn Thành Lương (2016), Vấn đề sở hữu ruộng đất và kinh tế nông nghiệp của huyện Nga Sơn tỉnh Thanh Hóa đầu thế kỷ XIX, Học viện KHXH, Hà Nội [235]… Các luận án trên giúp tác giả có định hướng nhất định khi nghiên cứu về kinh tế nông nghiệp địa phương đồng thời thông qua các luận án, tác giả có thể rút ra những đặc trưng của kinh tế nông nghiệp Sơn La với các địa phương khác trong cả nước. Nhóm công trình nghiên cứu về các vấn đề có liên quan đến kinh tế nông nghiệp Việt Nam thời Pháp thuộc * Nhóm công trình nghiên cứu của người Pháp Nông nghiệp Việt Nam đã thu hút sự quan tâm nghiên cứu của chính quyền và các nhà thực dân Pháp từ cuối thế kỷ XIX, đặc biệt liên quan tới chế độ ruộng đất, thủy lợi và sản xuất nông nghiệp (cây trồng, sản lượng, năng suất, xuất khẩu nông sản). Về chế độ ruộng đất, đã có một số công trình chuyên khảo đề cập tới chế độ ruộng đất trước khi người Pháp xâm lược Việt Nam và những can thiệp, thay đổi của chế độ ruộng đất trong thời kỳ thuộc địa. Trong số đó phải kể tới các nghiên cứu 11 của Albert Boudillon công bố năm 1915 và năm 1927; nghiên cứu của Pierre Aquarone năm 1915; Nghiên cứu của E.
Trong hai nghiên cứu của mình với tựa đề, Le régime de la propriété foncière en Indochine: ce qui à été fait, ce qu'il faudrait faire, Émile Larose, Libraire-éditeur, Paris, 1915 (Chế độ sở hữu ruộng đất ở Đông Dương, việc đã làm và sẽ cần phải làm) [183] và La réforme du régime de la propriété foncière en Indochine, Imprimerie d’Extrême-Orient, Hanoï, 1927 (Cải cách chế độ sở hữu ruộng đất ở Đông Dương) [184], Albert Boudillon đề cập chi tiết các chính sách can thiệp của chính quyền thuộc địa Pháp vào chế độ ruộng đất ở Việt Nam, đặc biệt là các quy định liên quan tới chế độ sở hữu đất nhượng trong toàn cõi Đông Dương, trong đó có Việt Nam, như: quy định về thủ tục cấp nhượng, vai trò chính quyền các cấp, số diện tích được cấp nhượng, trách nhiệm và quyền sở hữu của người nhận đất nhượng trong lĩnh vực nông nghiệp. Cùng liên quan tới cải cách chế độ ruộng đất ở Đông Dương, trong tác phẩm La réforme foncière en Indochine (Cải cách ruộng đất ở Đông Dương), Paris, 1931, tác giả P. de Feyssal [201] cũng đề cập tới những thay đổi trong chính sách ruộng đất của chính quyền thuộc địa ở Đông Dương và Việt Nam, đặc biệt là chế độ đất nhượng cho cá nhân và công ty Pháp để lập đồn điền. Nếu như Albert Boudillon tập trung nghiên cứu về quyền sở hữu đất nhượng thì E.
Rény tập trung nghiên cứu, khảo sát về thực tiễn, hiệu quả của việc quản lý ruộng đất thông qua địa bạ. Trong các công trình Monographie générale du cadastre en Indochine, Éditeur Scientique, Paris, 1931 (Chuyên khảo chung về địa bạ ở Đông Dương) [191], E. Rény đề cập tới lịch sử thiết lập địa bạ, quản lý ruộng đất ở Việt Nam trước và trong thời kỳ thuộc địa, trong đó có đề cập tới địa bạ và quản lý đất đai ở các tỉnh Bắc Kỳ. Cũng liên quan tới quản lý ruộng đất, Pierre Aquarone đề cập tới vấn đề an ninh trong sở hữu ruộng đất và bất động sản ở Đông Dương nhìn từ phương diện luật pháp.
Trong công trình nghiên cứu Les sûretés immobilières en Indochine: essai théorique et critique, Université de Bordeaux, 1936 (An ninh bất động sản ở Đông Dương, lý thuyết và phê phán) [205]. Pierre Aquarone phê phán những hạn chế trong chính sách quản lý ruộng đất và đề xuất thiết chặt thực hiện các quy định liên quan tới việc đầu cơ ruộng đất, vấn đề sở hữu ruộng đất của người nước ngoài ở Đông Dương và Việt Nam. Liên quan tới chế độ ruộng đất và chính sách quản lý ruộng đất của chính quyền thuộc địa, năm 1930, chính quyền Đông Dương cho công bố một cuốn sách 12 gồm tất cả các Sắc lệnh, Nghị định và Thông tri của Chính phủ Pháp, chính quyền thuộc địa Đông Dương (Bắc Kỳ, Trung Kỳ và Nam Kỳ) về chế độ ruộng đất ở Việt Nam thời kỳ thuộc địa cho đến năm 1929. Cuốn sách có tựa đề Recueil des décrets, arrêtés et circulaires relatifs au régime de la propriété foncière en Cochinchine et dans les concessions françaises en Annam et au Tonkin, Imprimerie d’Extrême- Orient, Hanoï, 1930 (Tập hợp các Sắc lệnh, Nghị định, Thông tư về chế độ sở hữu ruộng đất ở Nam Kỳ, trong các vùng nhượng địa, Trung Kỳ và Bắc Kỳ) [194].
Trong số các Nghị định về chế độ ruộng đất, có các Nghị định quan trọng ngày 19/9/1926, ngày 4/11/1928 quy định về quyền sở hữu đất nhượng của người bản xứ, công dân Pháp, công dân và các công ty nước ngoài trong lĩnh vực thuộc địa hóa nông nghiệp ở Đông Dương. Về phân bố và sử dụng đất nông nghiệp ở Việt Nam thời Pháp thuộc, năm 1940, tác giả Pierre Gourou công bố tác phẩm L’utilisation du sol en Indochine, Paris (Sử dụng đất ở Đông Dương) [206]. Trong nghiên cứu của mình, tác giả đề cập tới phân bố đất trồng, diện tích trồng, hiện trạng sử dụng và hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp ở Đông Dương nói chung, Việt Nam nói riêng. Khía cạnh thứ hai quan trọng của nông nghiệp Việt Nam thời thuộc địa được các nhà nghiên cứu Pháp quan tâm đó là vấn đề thủy lợi.
Đã có một số chuyên khảo về thủy lợi, trong đó phải kể tới cuốn L’Hydraulique agricole en Indochine của tác giả Constantin, Imprimerie d’Extrême-Orient, Hanoï, 1918 (Thủy lợi cho phát triển nông nghiệp ở Đông Dương) [190]; Nghiên cứu của Pétayvin, La crue du fleuve Rouge et les inondations du Tonkin en 1915, Imprimerie d’Extrême-Orient, Hanoi, 1916 (Lũ sông hồng và lụt ở Bắc Kỳ năm 1915) [204]… Các nghiên cứu trên đề cập tới tình trạng lũ lụt, vỡ đê, hạn hán và chính sách phát triển nông nghiệp của chính quyền thuộc địa, trong đó có việc nghiên cứu, xây dựng các công trình thủy lợi: đào kênh, đắp đê, xây dựng hệ thống tưới tiêu, xây cống, trạm bơm của chính quyền thuộc địa Pháp trong các tỉnh ở Bắc Kỳ, Trung Kỳ và Nam Kỳ, trong đó có đề cập tới hạn hán, lụt lội ở tỉnh Sơn La năm 1915 gây ra sự sụt giảm sản xuất nông nghiệp trong tỉnh. Tuy nhiên, những thông tin liên quan tới tỉnh Sơn La rất ít và không tập trung. Sản xuất nông nghiệp Việt Nam trong thời kỳ thuộc địa còn được đề cập rải rác trong các nghiên cứu của người Pháp về tình hình kinh tế Đông Dương. Kinh tế Việt Nam trước năm 1929 có các nghiên cứu như: La situation de l’Indochine de 1902 à 1907, Saigon, 1908 của Paul Beau (Tình hình kinh tế Đông Dương từ 1902 đến 1907) [202]; Note sur la situation économique de l’Indochine depuis le début de la guerre, Imprimerie d’Extrême-Orient, Hanoï, 1915 của George Guerrier (Ghi 13 chép về tình trạng kinh tế của Đông Dương từ đầu chiến tranh thế giới) [195]; Indochine années vingt: Le balcon de la France sur le Pacifique 1918-1928, 2001, Les Indes Savantes, Paris của Patrice Morla (Đông Dương những năm 20, Ban công của Pháp ở Thái Bình Dương) [203].
Các nghiên cứu này trình bày quá trình thiết lập cơ sở hạ tầng, thâm nhập của tư bản Pháp vào các lĩnh vực kinh tế ở Việt Nam, trong đó có nông nghiệp, đặc biệt là chiếm đất, lập đồn điền cao su, lúa gạo và xuất khẩu các sản phẩm nông nghiệp. Từ năm 1929 đến năm 1945, kinh tế Đông Dương tiếp tục thu hút sự nghiên cứu của người Pháp, trong đó quan trọng nhất phải kể tới Henri Yves, Charles Robequin, André Touzet. Henri Yves đã hệ thống hóa toàn bộ ruộng đất các tỉnh trong toàn quốc và đưa ra những tỷ lệ về sở hữu ruộng đất ở các tỉnh miền Bắc – Trung – Nam của nước ta qua tác phẩm Economic Agricole de l’Indochine (Kinh tế nông nghiệp Đông Dương), xuất bản năm 1932 [119]. Đây được coi là nghiên cứu quan trọng về kinh tế nông nghiệp Việt Nam thời Pháp thuộc bởi qua công trình này người đọc có thể phác họa được bức tranh toàn cảnh về kinh tế Việt Nam thời thuộc địa.