Tổng quan luận án

Công trình "Kinh tế huyện Cẩm Khê (tỉnh Phú Thọ) giai đoạn 1995 - 2015" là luận án tiến sĩ lịch sử, chuyên ngành Lịch sử Việt Nam (mã số: 9.13), do nghiên cứu sinh Nguyễn Thị Hương Loan thực hiện tại Trường Đại học Sư phạm Hà Nội dưới sự hướng dẫn khoa học của TS. Phạm Thị Tuyết và TS. Nguyễn Thị Thu Thủy, bảo vệ năm 2021.

Về tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu, công cuộc Đổi mới ở Việt Nam từ năm 1986 trải qua nhiều giai đoạn phát triển và đạt được nhiều kết quả trên các lĩnh vực, trong đó đổi mới và phát triển kinh tế giữ vị trí trọng tâm. Cẩm Khê là một huyện miền núi nằm ở phía tây bắc của tỉnh Phú Thọ, được tái lập từ năm 1995 trên cơ sở chia tách từ huyện Sông Thao và huyện Hạ Hòa. Bước vào giai đoạn phát triển gắn với 20 năm đầu tiên của thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, kinh tế Cẩm Khê đã có những chuyển biến trên các lĩnh vực nông nghiệp, công nghiệp - xây dựng và thương mại - dịch vụ. Tuy nhiên, do các yếu tố khách quan và chủ quan, quá trình phát triển kinh tế ở địa phương này còn bộc lộ nhiều hạn chế, tốc độ tăng trưởng chưa cao và chưa tương xứng với tiềm năng. Trước khi luận án được thực hiện, chưa có công trình khoa học nào nghiên cứu một cách toàn diện và có hệ thống về quá trình phát triển kinh tế của huyện Cẩm Khê trong toàn bộ giai đoạn 1995 - 2015.

Mục tiêu nghiên cứu của luận án là làm rõ thực trạng kinh tế huyện Cẩm Khê từ năm 1995 đến năm 2015, bao gồm các thành tựu đạt được cũng như những hạn chế, thách thức còn tồn tại; qua đó cung cấp tư liệu và góc nhìn thực tiễn phục vụ công tác tổng kết lý luận và chỉ đạo phát triển kinh tế - xã hội ở địa phương.

Luận án xác định 3 nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể:

  1. Phân tích các yếu tố tác động đến quá trình phát triển kinh tế huyện Cẩm Khê giai đoạn 1995 - 2015, bao gồm điều kiện tự nhiên, dân cư - nguồn nhân lực, hạ tầng kinh tế, thực trạng trước năm 1995 và các chủ trương, chính sách phát triển kinh tế của Đảng, Nhà nước và địa phương.
  2. Trình bày có hệ thống tình hình phát triển của các ngành kinh tế cụ thể: nông nghiệp (nông, lâm, thủy sản), công nghiệp - xây dựng và thương mại - dịch vụ.
  3. Nêu lên các nhận xét về những chuyển biến của nền kinh tế (quy mô, tốc độ tăng trưởng, cơ cấu kinh tế, tổ chức và quản lý, quan hệ kinh tế) và tác động của kinh tế đối với văn hóa, xã hội, an ninh, môi trường.

Về đối tượng nghiên cứu, đề tài tập trung vào tình hình kinh tế huyện Cẩm Khê giai đoạn 1995 - 2015 qua thực trạng ba nhóm ngành: nông - lâm nghiệp - thủy sản; công nghiệp - xây dựng; thương mại - dịch vụ.

Về phạm vi nghiên cứu:

  • Không gian: Địa bàn huyện Cẩm Khê, tỉnh Phú Thọ, gồm 30 xã và 1 thị trấn (giai đoạn 1995 - 2002 có tên là huyện Sông Thao, từ năm 2002 đổi lại tên huyện Cẩm Khê).
  • Thời gian: Từ năm 1995 (thời điểm tái lập huyện) đến năm 2015 (mốc đánh dấu 20 năm phát triển sau tái lập và là thời điểm triển khai đề tài). Luận án cũng đề cập khái quát giai đoạn trước 1995 để làm cơ sở so sánh.
  • Nội dung: Quá trình phát triển kinh tế theo các nhóm ngành trên các khía cạnh chủ trương chính sách, thực trạng phát triển và kết quả đạt được.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Trong luận án, tác giả đã tiến hành khảo sát và phân loại các công trình nghiên cứu liên quan thành 3 nhóm chính:

Nhóm thứ nhất gồm các công trình nghiên cứu về kinh tế Việt Nam thời kỳ Đổi mới:

  • Về đổi mới quản lý kinh tế: Các công trình tiêu biểu của Vũ Tuấn Anh (chủ biên, 1994) về chính sách kinh tế và vai trò của Nhà nước; công trình thuộc Chương trình KX02 (1997) về cơ chế quản lý kinh tế; Nguyễn Văn Chỉnh, Vũ Quang Việt, Trần Vân (2002) về tăng trưởng và cơ cấu kinh tế; Lương Xuân Quý (2006) về quản lý nhà nước trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; Nguyễn Duy Quý (2009) về đổi mới tư duy kinh tế của Đảng.
  • Về cơ cấu kinh tế và chuyển dịch cơ cấu kinh tế: Các nghiên cứu của Ngô Đình Giao (1994), Đỗ Hoài Nam (1996), Bùi Tất Thắng (1997, 2006), Lê Du Phong và Nguyễn Thành Độ (1999), Lương Xuân Quý (2001), Nguyễn Trần Quế (2004), Phan Công Nghĩa (2007), Trương Thị Minh Sâm (2007), Phạm Thị Khanh (2010).
  • Về các thành phần kinh tế: Các công trình của Trần Hoàng Kim (1992), Đỗ Hoài Nam (1993), Vũ Đình Bách (2001), Lê Hữu Nghĩa và Đinh Văn Ân (2004), Nguyễn Thanh Tuyền (chủ biên, 2004), Nguyễn Minh Phong (2004), Chử Văn Lâm (chủ biên, 2006), Phạm Văn Sơn (2011), Lê Xuân Bá (chủ biên, 2013), và tập thể tác giả (2016) về kinh tế tập thể qua 30 năm đổi mới.
  • Về kinh tế vùng và tăng trưởng: Các ấn phẩm của Lâm Quang Huyên (2002), Đặng Văn Thắng và Phạm Ngọc Dũng (2003), Nguyễn Xuân Thu và Nguyễn Văn Phú (2006), Lê Thu Hoa (2007), Nguyễn Trọng Xuân (2013), Đỗ Thị Thanh Loan (2016), Trần Thọ Đạt (2005, 2010), Lương Minh Cừ, Đào Duy Huân, Phạm Đức Hải (2012), Phan Thanh Phố (1995), Nguyễn Sinh Cúc (2003), Lê Văn Sang (2014) và tập thể tác giả (2015) trong cuốn "30 năm đổi mới và phát triển ở Việt Nam".

Nhóm thứ hai gồm các công trình nghiên cứu về kinh tế địa phương thời kỳ Đổi mới: Các luận án tiến sĩ nghiên cứu thực tiễn tại các tỉnh, huyện như Vũ Ngọc Kỳ (1996 - tỉnh Yên Bái), Đào Thị Bích Hồng (2011 - tỉnh Bạc Liêu), Trần Thị Thái (2015 - tỉnh Nam Định), Vũ Trọng Hùng (2017 - tỉnh Vĩnh Phúc), Bùi Thị Nguyệt Quỳnh (2017 - tỉnh Hòa Bình), Nguyễn Thị Nguyền (2012 - tỉnh Lào Cai), Hoàng Thị Mỹ Hạnh (2010 - tỉnh Thái Nguyên), Lê Hồng Sơn (huyện Vị Xuyên, tỉnh Hà Giang).

Nhóm thứ ba gồm các công trình nghiên cứu về huyện Cẩm Khê và tỉnh Phú Thọ:

  • Sách chuyên khảo "Lịch sử văn hóa truyền thống huyện Cẩm Khê" (2020) do tác giả trích dẫn về bối cảnh lịch sử và địa bàn cư dân.
  • Các luận án tiến sĩ và luận văn thạc sĩ: Phùng Quang Mạc (1996) nghiên cứu chuyển dịch cơ cấu ngành huyện Sông Thao giai đoạn 1986 - 1995; Tống Thị Nga (2014) nghiên cứu công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp nông thôn tỉnh Phú Thọ 1997 - 2010; Bùi Thị Thanh Tâm (2015) nghiên cứu kinh tế trang trại tỉnh Phú Thọ; Chu Thanh Hải (2017) nghiên cứu kinh tế tư nhân trong thương mại tỉnh Phú Thọ; Trần Văn Hùng (2010) nghiên cứu làng nghề tỉnh Phú Thọ; Cao Kim Oanh (2013) nghiên cứu nông nghiệp bền vững huyện Cẩm Khê giai đoạn 2008 - 2012; cùng các luận văn của Lưu Thế Vinh (2008), Nguyễn Thị Tâm (2013), Hoàng Trí Thức (2018).

Vị trí của luận án: Kế thừa khung lý luận về chuyển dịch cơ cấu kinh tế và phát triển kinh tế địa phương, luận án lựa chọn giải quyết khoảng trống nghiên cứu lịch sử kinh tế cấp huyện: khảo sát có hệ thống, toàn diện toàn bộ nền kinh tế huyện Cẩm Khê trong khung thời gian 20 năm (1995 - 2015) trên cả ba khu vực kinh tế nông nghiệp, công nghiệp - xây dựng và thương mại - dịch vụ.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Luận án được xây dựng dựa trên phương pháp luận của sử học mác-xít cùng quan điểm, đường lối của Đảng Cộng sản Việt Nam về phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp và nông thôn.

Các phương pháp nghiên cứu cụ thể được tác giả sử dụng bao gồm:

  • Phương pháp lịch sử: Sử dụng để mô tả, tái hiện các sự kiện, quá trình vận động và phát triển của từng ngành kinh tế tại huyện Cẩm Khê theo trình tự thời gian từ năm 1995 đến năm 2015 trong bối cảnh chung của tỉnh Phú Thọ và cả nước.
  • Phương pháp logic: Sử dụng để liên kết các dữ kiện, phân tích bản chất, quy luật vận động nội tại của nền kinh tế huyện, đánh giá nguyên nhân, sự chuyển biến cơ cấu kinh tế và tác động của phát triển kinh tế đến các mặt đời sống xã hội.
  • Phương pháp kinh tế học và thống kê định lượng: Thu thập, tổng hợp và xử lý các chuỗi số liệu kinh tế qua các năm; lập bảng biểu, biểu đồ cơ cấu và biểu đồ tăng trưởng nhằm so sánh các chỉ tiêu kinh tế theo thời gian.
  • Phương pháp phân tích, tổng hợp, so sánh và đối chiếu tư liệu: Đối chiếu các nguồn số liệu thống kê, văn kiện của cấp ủy, chính quyền các cấp và các bài viết nghiên cứu liên quan.
  • Phương pháp điền dã, khảo sát thực địa và phỏng vấn nhân chứng: Khảo sát thực tế tại các xã, thị trấn, các làng nghề, cơ sở sản xuất trên địa bàn huyện nhằm bổ sung và kiểm chứng thông tin từ các nguồn tư liệu thành văn.

Nguồn dữ liệu và tư liệu sử dụng trong luận án:

  • Văn kiện, nghị quyết, chỉ thị của Trung ương Đảng, Chính phủ và Quốc hội.
  • Nguồn tư liệu gốc lưu trữ tại địa phương: Văn kiện Đảng bộ huyện Cẩm Khê, Đảng bộ tỉnh Phú Thọ; các văn bản hành chính của Ủy ban nhân dân huyện và tỉnh.
  • Nguồn số liệu Niên giám thống kê của huyện Cẩm Khê và tỉnh Phú Thọ (nguồn tài liệu số liệu chủ yếu và quan trọng nhất).
  • Báo chí địa phương tỉnh Phú Thọ.
  • Các công trình chuyên khảo, luận án, luận văn liên quan và dữ liệu điều tra thực địa.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài

Chương 1 hệ thống hóa các công trình nghiên cứu trong nước về kinh tế Việt Nam thời kỳ Đổi mới, kinh tế các địa phương miền núi phía Bắc và các nghiên cứu về tỉnh Phú Thọ, huyện Cẩm Khê. Tác giả chỉ ra các kết quả lý luận và thực tiễn được kế thừa, đồng thời xác định những vấn đề khoa học cần tiếp tục làm rõ về kinh tế huyện Cẩm Khê trong giai đoạn 1995 - 2015.

Chương 2: Những yếu tố ảnh hưởng đến tình hình kinh tế huyện Cẩm Khê giai đoạn 1995 - 2015

Chương 2 trình bày các yếu tố tiền đề tác động trực tiếp đến sự phát triển kinh tế huyện Cẩm Khê:

  • Địa giới hành chính: Sau nhiều lần chia tách và sáp nhập trong lịch sử, ngày 07/10/1995, 10 xã của huyện Hạ Hòa cũ được tách khỏi huyện Sông Thao; huyện Sông Thao trở lại phạm vi địa giới cũ gồm 30 xã và 1 thị trấn với tổng diện tích 23.425 ha. Ngày 08/4/2002, Chính phủ ban hành Nghị định số 39-NĐ/CP đổi tên huyện Sông Thao thành huyện Cẩm Khê.
  • Vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên: Huyện nằm ở phía tây bắc tỉnh Phú Thọ (tọa độ 21°15' - 21°29' vĩ Bắc, 104°57' - 105°13' kinh Đông), phía đông giáp huyện Thanh Ba qua sông Thao, phía tây giáp huyện Yên Lập, phía nam giáp huyện Tam Nông qua sông Bứa, phía bắc giáp huyện Hạ Hòa qua ngòi Giành. Địa hình chia làm 3 dạng: vùng núi chiếm 10% diện tích (độ dốc >25°); trung du đồi thấp chiếm 15,4% (độ dốc 15° - 25°); đồng bằng và vùng thấp trũng ven sông Thao chiếm 74,6% diện tích.
  • Khí hậu và thủy văn: Khí hậu nhiệt đới gió mùa trung du, nhiệt độ cao nhất 22,5°C - 38,5°C, thấp nhất 10°C, lượng mưa trung bình năm 1.874 mm (dao động từ 1.650 - 1.850 mm). Hệ thống sông ngòi gồm sông Thao (dài 21,5 km qua huyện, lưu lượng 520 - 1.647 m³/s), sông Bứa (dài 5 km), ngòi Cỏ, ngòi Me, ngòi Giành, ngòi Cái; các hồ đầm lớn như đầm Đào, đầm Meo, đầm Đung, hồ Ba Vực, hồ Dục Bò, đập Ban, đập Chắp.
  • Tài nguyên đất đai và khoáng sản: Tổng diện tích tự nhiên năm 2015 là 23.392,4 ha; đất nông, lâm, thủy sản là 18.290,3 ha (78,2% diện tích). Khoáng sản có 19 mỏ và điểm quặng gồm than nâu (Tiên Lương), quặng sắt, quarzit (Hương Lung 12 triệu m³, Tam Sơn 900.000 m³), kaolin (Tiên Lương 103.000 tấn, Ngô Xá 202,3 nghìn tấn), sét gạch ngói (Tiên Lương 20 triệu m³, Cấp Dẫn 10 triệu m³), cát xây dựng (Sơn Nga 2,5 triệu m³).
Loại đất Diện tích (ha) Tỷ lệ cơ cấu (%)
Đất phù sa 4.817,18 24,9
Các loại đất khác (glây, xám, feralit...) 18.575,22 75,1
Tổng diện tích đất tự nhiên 23.392,40 100,0
  • Dân cư và nguồn nhân lực: Dân số tăng từ 124.610 người (1995) lên 131.003 người (2015), tỷ lệ tăng tự nhiên 0,92%/năm, mật độ 544 người/km². Dân cư nông thôn chiếm 95,6%, thành thị chiếm 4,4% (2015). Đồng bào Công giáo có khoảng 3.000 người (chiếm 12,8% dân số huyện). Cơ cấu lao động phân theo ngành kinh tế chuyển biến rõ rệt qua 20 năm:
Chỉ tiêu lao động 1995 2000 2005 2010 2015
Tổng dân số (người) 124.610 128.000 128.500 129.800 131.003
Dân số trong độ tuổi lao động có khả năng lao động (người) 61.017 65.200 70.100 75.400 80.019
Tổng lao động làm việc trong các ngành kinh tế (người) 59.426 63.800 68.500 73.600 78.995
- Lao động nông, lâm, thủy sản (người) 59.087 60.100 58.200 54.100 50.210
- Lao động công nghiệp - xây dựng (người) 157 205 542 10.200 14.850
- Lao động thương mại - dịch vụ (người) 182 459 1.100 9.300 13.935
Tỷ lệ lao động qua đào tạo (%) 5,60 7,80 10,20 14,50 18,85
  • Hạ tầng kinh tế và thực trạng trước 1995: Đến năm 2015, huyện có Quốc lộ 32C dài 31 km, cao tốc Nội Bài - Lào Cai qua 5 xã dài 10,75 km (thông xe tháng 9/2014), 4 tuyến tỉnh lộ dài 60 km, đường huyện 68,8 km cứng hóa 100%, đường liên thôn 624,2 km (bê tông 455 km). Lưới điện quốc gia phủ kín 100% số xã từ năm 2003; năm 2015 có 1 trạm biến áp 110KV và 179 máy biến áp. Thủy lợi có 147 công trình (73 hồ đập, 26 trạm bơm điện, 80 trạm bơm dã chiến). Trước 1995, kinh tế nông nghiệp thực hiện cơ chế khoán sản phẩm theo Chỉ thị 100-CT/TW nhưng lâm vào khủng hoảng thiếu lương thực giáp hạt do cơ sở hạ tầng yếu kém và hạn chế trong quản lý hợp tác xã.

Chương 3: Kinh tế nông nghiệp huyện Cẩm Khê giai đoạn 1995 - 2015

Chương 3 phân tích quá trình thực hiện các chủ trương, chính sách phát triển nông nghiệp, lâm nghiệp và thủy sản:

  • Ngành trồng trọt: Chuyển dịch giống lúa sang các loại lúa chất lượng cao và lúa đặc sản (nếp Gà gáy, nếp cẩm, lúa sọc ven sông Thao); mở rộng diện tích ngô, sắn, rau màu và cây ăn quả (nhãn, vải, xoài, chuối).
  • Ngành chăn nuôi: Phát triển đàn gia súc, gia cầm theo hướng trang trại, bán chăn thả; duy trì các giống vật nuôi đặc sản như gà Vân Phú (xã Sai Nga), lợn thịt và bò lai.
  • Ngành lâm nghiệp: Triển khai giao đất giao rừng, phủ xanh đất trống đồi núi trọc, phát triển mô hình trồng rừng kinh tế (keo, bạch đàn, cọ).
  • Ngành thủy sản: Tận dụng hệ thống đầm hồ tự nhiên (đầm Đung, đầm Meo, đầm Đào) và chuyển đổi các chân ruộng trũng glây hóa sang nuôi trồng thủy sản nước ngọt (cá trắm đen, cá chép đỏ), nâng cao sản lượng khai thác và nuôi trồng.

Chương 4: Kinh tế tiểu thủ công nghiệp, công nghiệp và xây dựng huyện Cẩm Khê giai đoạn 1995 – 2015

Chương 4 khảo sát sự hình thành và phát triển của các cơ sở sản xuất công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và xây dựng:

  • Tiểu thủ công nghiệp và làng nghề: Duy trì và phục hồi các làng nghề truyền thống như nón lá Sai Nga, nghề mây tre đan, chế biến chè, chế biến gỗ và lâm sản.
  • Công nghiệp chế biến và khai khoáng: Khai thác sét gạch ngói, sét gốm, cát sỏi xây dựng, chế biến quặng kaolin và đá vôi; mở rộng các xưởng may mặc, gia công công nghiệp và bước đầu quy hoạch các cụm công nghiệp làng nghề.
  • Ngành xây dựng: Tăng trưởng về số lượng cơ sở xây dựng, tập trung vào hạ tầng giao thông (cải tạo Quốc lộ 32C, làm đường bê tông nông thôn), kiên cố hóa trường học, trạm y tế và hệ thống đê điều, trạm bơm thủy lợi.

Chương 5: Kinh tế thương mại và dịch vụ huyện Cẩm Khê giai đoạn 1995 - 2015

Chương 5 phân tích việc triển khai cơ chế thị trường trong lĩnh vực phân phối, lưu thông hàng hóa và cung cấp dịch vụ:

  • Thương mại: Mở rộng mạng lưới chợ nông thôn tại các xã và trung tâm thị trấn Sông Thao; tăng số lượng cơ sở bán buôn, bán lẻ tư nhân; hàng hóa tiêu dùng và vật tư nông nghiệp lưu thông thuận lợi giữa các xã và liên huyện.
  • Dịch vụ vận tải và bưu chính viễn thông: Phát triển dịch vụ vận tải hành khách và hàng hóa đường bộ, 6 bến đò đường sông; phủ sóng hệ thống đài truyền thanh 31/31 xã thị trấn từ năm 2002; phổ cập mạng lưới điện thoại và dịch vụ bưu chính viễn thông.
  • Dịch vụ tài chính, ngân hàng và du lịch: Mở rộng mạng lưới ngân hàng nông nghiệp, quỹ tín dụng nhân dân phục vụ sản xuất; bước đầu định hướng khai thác tiềm năng du lịch văn hóa - sinh thái tại khu vực Ba Vực và hệ thống đầm hồ tự nhiên.

Chương 6: Một số nhận xét về kinh tế huyện Cẩm Khê giai đoạn 1995 – 2015

Chương 6 tổng hợp các nhận xét, đánh giá về bước phát triển của huyện sau 20 năm:

  • Quy mô và tốc độ tăng trưởng: Tổng giá trị sản xuất trên địa bàn tăng liên tục qua các giai đoạn 1995 - 2000, 2001 - 2005, 2006 - 2010 và 2011 - 2015; thu nhập bình quân đầu người được cải thiện.
  • Chuyển dịch cơ cấu kinh tế: Tỷ trọng ngành nông, lâm, thủy sản giảm dần nhưng vẫn giữ vai trò nền tảng; tỷ trọng ngành công nghiệp - xây dựng và thương mại - dịch vụ từng bước gia tăng. Cơ cấu lao động dịch chuyển tích cực từ nông nghiệp sang công nghiệp và dịch vụ.
  • Tổ chức và quản lý kinh tế: Chuyển đổi mô hình hoạt động của các hợp tác xã nông nghiệp theo Luật Hợp tác xã; phát triển các mô hình kinh tế trang trại, hộ gia đình sản xuất hàng hóa và doanh nghiệp tư nhân, công ty trách nhiệm hữu hạn.
  • Tác động kinh tế - xã hội và môi trường: Phát triển kinh tế tạo nguồn lực nâng cấp trường học, trạm y tế, thực hiện chính sách bảo hiểm y tế và giảm nghèo; đảm bảo an ninh trật tự nông thôn. Tuy nhiên, quá trình phát triển cũng làm gia tăng nguy cơ ô nhiễm nguồn nước, ô nhiễm rác thải tại các làng nghề và đặt ra áp lực giải quyết việc làm cho lao động nông nhàn.

Kết quả và những đóng góp mới

Các đóng góp khoa học chính của luận án được tác giả tự xác định:

  • Về mặt lý luận và khoa học: Luận án là công trình chuyên khảo đầu tiên nghiên cứu toàn diện và có hệ thống về quá trình phát triển kinh tế huyện Cẩm Khê từ năm 1995 đến năm 2015. Công trình tái hiện bức tranh kinh tế địa phương trong 20 năm đầu của thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, làm rõ cả thành tựu và những mặt còn hạn chế. Qua đó, luận án làm phong phú thêm tư liệu thực tiễn về lịch sử kinh tế Việt Nam thời kỳ Đổi mới.
  • Về mặt thực tiễn: Luận án phản ánh chân thực quá trình tổ chức, lãnh đạo và điều hành phát triển kinh tế tại một huyện miền núi phía Bắc có xuất phát điểm thấp. Các kết quả nghiên cứu cung cấp cơ sở dữ liệu khoa học cho cấp ủy, chính quyền địa phương trong việc đánh giá thực trạng, hoạch định chính sách kinh tế - xã hội phù hợp với điều kiện tự nhiên và nguồn lực của huyện.
  • Về mặt tài liệu tham khảo: Luận án cung cấp hệ thống số liệu, tư liệu lịch sử phục vụ công tác nghiên cứu, biên soạn và giảng dạy lịch sử địa phương tại tỉnh Phú Thọ cũng như chuyên ngành Lịch sử kinh tế Việt Nam.
  • Kiến nghị và giải pháp: Luận án chỉ ra sự cần thiết phải tiếp tục hoàn thiện hạ tầng giao thông nội đồng, củng cố hệ thống thủy lợi kênh mương, nâng cao tỷ lệ lao động qua đào tạo, kiểm soát ô nhiễm môi trường làng nghề và thu hút đầu tư vào các cụm công nghiệp tập trung.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Về mặt hạn chế:

  • Nguồn tài liệu thống kê lưu trữ giai đoạn 1995 - 2000 tại địa phương còn tản mát, chưa đồng bộ do việc chia tách, tái lập huyện và điều chỉnh địa giới hành chính.
  • Số liệu khảo sát về trữ lượng các mỏ khoáng sản và tài nguyên nước ngầm trên địa bàn huyện tại thời điểm nghiên cứu chủ yếu dừng lại ở mức dự báo sơ bộ, chưa có khảo sát địa chất chuyên sâu.

Về hướng nghiên cứu tiếp:

  • Mở rộng phạm vi thời gian nghiên cứu kinh tế huyện Cẩm Khê từ năm 2015 đến các năm tiếp theo để đánh giá tác động lâu dài của tuyến đường cao tốc Nội Bài - Lào Cai và các khu/cụm công nghiệp mới.
  • Đi sâu nghiên cứu biến đổi cơ cấu xã hội nông thôn và vấn đề bảo vệ môi trường sinh thái dưới tác động của quá trình công nghiệp hóa làng nghề tại địa phương.

Giá trị tham khảo

Luận án có giá trị tham khảo chuyên môn đối với các đối tượng cụ thể:

  • Học viên cao học, nghiên cứu sinh và sinh viên ngành Lịch sử Việt Nam, Lịch sử Đảng, Kinh tế phát triển: Tham khảo phương pháp tiếp cận lịch sử kết hợp kinh tế học trong nghiên cứu kinh tế địa phương; sử dụng các khung phân tích về chuyển dịch cơ cấu ngành và cơ cấu lao động cấp huyện.
  • Giảng viên các trường đại học, cao đẳng và trường chính trị tại Phú Thọ: Sử dụng làm tài liệu tham khảo để giảng dạy phần lịch sử kinh tế địa phương, địa chí Cẩm Khê.
  • Cán bộ quản lý kinh tế và cơ quan hoạch định chính sách cấp huyện, cấp tỉnh: Khai thác chuỗi số liệu 20 năm về đất đai, thủy lợi, lao động, khoáng sản và hạ tầng giao thông để xây dựng các quy hoạch phát triển nông - lâm - thủy sản, làng nghề và giao thông nông thôn.

Câu hỏi thường gặp

1. Địa giới hành chính và tên gọi của huyện Cẩm Khê đã thay đổi như thế nào trong giai đoạn 1995 - 2015? Ngày 07/10/1995, 10 xã của huyện Hạ Hòa cũ được tách khỏi huyện Sông Thao; huyện Sông Thao khi đó trở lại phạm vi địa giới gồm 30 xã và 1 thị trấn với tổng diện tích 23.425 ha. Đến ngày 08/4/2002, Chính phủ ban hành Nghị định số 39-NĐ/CP đổi tên huyện Sông Thao trở lại tên gọi cũ là huyện Cẩm Khê và giữ nguyên địa giới 30 xã và 1 thị trấn cho đến hết giai đoạn nghiên cứu.

2. Cơ cấu địa hình và hiện trạng sử dụng đất đai của huyện Cẩm Khê năm 2015 có đặc điểm gì? Địa hình huyện gồm 3 dạng: vùng núi chiếm 10% diện tích (độ dốc >25°), trung du đồi thấp chiếm 15,4% (độ dốc 15° - 25°), đồng bằng thấp trũng ven sông chiếm 74,6% diện tích. Tổng diện tích tự nhiên năm 2015 là 23.392,4 ha; trong đó đất nông, lâm, thủy sản là 18.290,3 ha (chiếm 78,2%). Đất sản xuất nông nghiệp chiếm 65,2% diện tích đất nông nghiệp; đất lâm nghiệp chiếm 28,15%; đất nuôi trồng thủy sản chiếm 5,14%.

3. Cơ cấu lao động phân theo ngành kinh tế tại huyện Cẩm Khê chuyển dịch như thế nào giữa năm 1995 và năm 2015? Số lao động làm việc trong ngành nông, lâm, thủy sản giảm từ 59.087 người (năm 1995) xuống còn 50.210 người (năm 2015). Lao động ngành công nghiệp - xây dựng tăng từ 157 người (năm 1995) lên 14.850 người (năm 2015). Lao động ngành thương mại - dịch vụ tăng từ 182 người (năm 1995) lên 13.935 người (năm 2015). Tỷ lệ lao động qua đào tạo tăng từ 5,6% lên 18,85%.

4. Những công trình hạ tầng giao thông và năng lượng trọng điểm nào đã được hoàn thành trên địa bàn huyện trong giai đoạn nghiên cứu? Tuyến Quốc lộ 32C chạy qua huyện dài 31 km; tuyến cao tốc Nội Bài - Lào Cai chạy qua 5 xã dài 10,75 km được thông xe vào tháng 9/2014; hệ thống đường huyện 68,8 km được cứng hóa 100%. Về điện lưới, toàn bộ 31/31 xã, thị trấn có điện lưới quốc gia từ năm 2003; đến năm 2015, huyện có 1 trạm biến áp 110KV, 179 máy biến áp với tổng công suất 37.740 KVA và 94 km đường dây 35KV.

5. Tiềm năng tài nguyên khoáng sản của huyện Cẩm Khê được ghi nhận gồm những loại nào? Huyện có 19 mỏ và điểm quặng (gồm 5 mỏ nhỏ và 14 điểm quặng), bao gồm: than nâu (xã Tiên Lương); quặng sắt (các xã Tiên Lương, Tam Sơn, Phượng Vỹ, Hương Lung, Điêu Lương); quarzit (Hương Lung 12 triệu m³, Tam Sơn 900.000 m³); kaolin (Tiên Lương 103.000 tấn, Ngô Xá 202,3 nghìn tấn); sét gạch ngói (Tiên Lương 20 triệu m³, Cấp Dẫn 10 triệu m³, Văn Khúc 5,4 triệu m³); sét gốm (Tuy Lộc 258.000 tấn); cát xây dựng (Sơn Nga 2,5 triệu m³, Phú Khê 0,2 triệu m³) và đá vôi tại xã Xương Thịnh.

Kết luận

Luận án "Kinh tế huyện Cẩm Khê (tỉnh Phú Thọ) giai đoạn 1995 - 2015" của tác giả Nguyễn Thị Hương Loan đã phục dựng bức tranh lịch sử kinh tế cấp huyện trong 20 năm tái lập và thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Bằng việc kết hợp phương pháp lịch sử, phương pháp logic và phân tích chuỗi số liệu thống kê, luận án làm rõ thực trạng phát triển trên cả ba khu vực nông nghiệp, công nghiệp - xây dựng và thương mại - dịch vụ. Công trình chỉ ra những chuyển biến về cơ cấu kinh tế, cơ cấu lao động cùng các hạn chế về hạ tầng, chất lượng nguồn nhân lực và môi trường sinh thái, đóng góp nguồn tư liệu khoa học phục vụ nghiên cứu lịch sử kinh tế địa phương và công tác quản lý phát triển kinh tế - xã hội tại huyện Cẩm Khê.