Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về chuyển dịch cơ cấu kinh tế. Chương 2: Thực trạng chuyển dịch cơ cấu kinh tế huyện Quảng Xương giai đoạn 2010 - 2020. Chương 3: Đề xuất các giải pháp thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế huyện Quảng Xương đến năm 2030 5 NỘI DUNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU KINH TẾ 1.1 Cơ cấu kinh tế 1.
Khái niệm cơ cấu kinh tế Cơ cấu được dùng chỉ cách tổ chức, cấu tạo, sự điều chỉnh các yếu tố, tạo nên một hình thể, một vật hay một bộ phận. Sự phát triển của sản xuất dẫn tới quá trình phân công lao động xã hội. Tùy thuộc vào tính chất sản phẩm chuyên môn kỹ thuật mà phải có sự tương tác qua lại lẫn nhau, hỗ trợ và thúc đẩy lẫn nhau cùng phát triển. Từ đó, đòi hỏi nhận thức đầy đủ về mối quan hệ giữa các bộ phận.
Cơ cấu là một phạm trù triết học thể hiện cấu trúc bên trong cũng như tỉ lệ và mối quan hệ giữa các bộ phận cấu thành một hệ thống. Sự phân công và mối quan hệ hợp tác trong hệ thống thống nhất là tiền đề cho quá trình hình thành cơ cấu kinh tế. Trên quan điểm duy vật biện chứng và lý thuyết hệ thống: cơ cấu kinh tế là tổng thể các yếu tố kinh tế có mối liên hệ và tác động lẫn nhau cả về số lượng và chất lượng của nền kinh tế quốc dân với sự vận động không ngừng nhằm vào những mục tiêu nhất định. Theo Các Mác: “Cơ cấu kinh tế của xã hội là toàn bộ những quan hệ sản xuất vật chất phù hợp với quá trình phát triển nhất định của lực lượng sản xuất vật chất”.
Đó chính là sự phân chia về vật chất và tỷ lệ về số lượng của các quan hệ sản xuất. Theo từ điển bách khoa Việt Nam “Cơ cấu kinh tế là tổng thể các ngành, các lĩnh vực, bộ phận kinh tế với vị trí, tỷ trọng tương ứng của chúng và mối quan hệ hữu cơ tương đối ổn định giữa chúng hợp thành một khoảng thời gian nhất định.” Từ những khái niệm trên ta có thể hiểu: Cơ cấu kinh tế là tập hợp các bộ phận hợp thành so với tổng thể. Cơ cấu kinh tế mang tính khách quan phản ánh trình độ phát triển của xã hội và có điều kiện phát triển của một quốc gia. Sự tác động từ chiến lược phát triển kinh tế, hay sự quản lý của nhà nước có tác dụng thúc đẩy hoặc kìm hãm sự chuyển đổi cơ cấu kinh tế trong một thời gian nhất định chứ không hoàn toàn mới.
Mặt khác, cơ cấu kinh tế lại mang tính lịch sử xã hội nhất định. Cơ cấu kinh tế được hình thành khi mang quan hệ giữa các ngành, lĩnh vực, bộ phận kinh tế được thiết lập một cách cân đối và sự phân công lao động diễn ra một cách hợp lý. Phân loại cơ cấu kinh tế Cơ cấu kinh tế được xem xét dưới các góc độ khác nhau như: cơ cấu ngành kinh tế, cơ cấu lãnh thổ và cơ cấu thành phần kinh tế. Đây là ba bộ phận cơ bản và có quan hệ chặt chẽ với nhau.
Trong đó cơ cấu ngành có vị trí chủ yếu trong cơ cấu kinh tế của mỗi quốc gia, có vai trò quyết định và nó được phát triển theo quan hệ cung cầu trên thị trường, theo tổng cung và tổng cầu của nền kinh tế, nó bảo đảm sản xuất theo nhu cầu thị trường. Còn cơ cấu thành phần kinh tế là những lực lượng kinh tế quan trọng để thực hiện cơ cấu ngành. Cơ cấu thành phần kinh tế được hình thành có hiệu quả trên cơ sở khả năng và thế mạnh của mỗi thành phần. Người ta sản xuất và kinh doanh cái gì có lợi nhất về kinh tế -xã hội, an ninh, bền vững của môi trường thì người đó được quyền lựa chọn để làm.
Cơ cấu ngành kinh tế và cơ cấu thành phần kinh tế chỉ có thể được chuyển dịch đúng đắn trên từng lãnh thổ, cho nên việc phân bố không gian lãnh thổ một cách hợp lý để phát triển ngành và thành phần kinh tế có ý nghĩa rất quan trọng. Sơ đồ phân loại cơ cấu kinh tế Phân loại cơ cấu kinh tế Cơ cấu Cơ cấu Cơ cấu ngành thành lãnh thổ kinh phần kinh tế tế kinh tế * Cơ cấu ngành kinh tế Cơ cấu ngành (lĩnh vực) kinh tế là một bộ phận cấu thành cơ bản của nền kinh tế quốc dân, được coi như “bộ khung xương” của nền kinh tế. Cơ cấu ngành kinh tế là tổng hợp các ngành hợp thành các tương quan tỷ lệ, biểu hiện mối liên hệ giữa các ngành trong nền kinh tế quốc dân. Ở một chừng mực nhất định, cơ cấu ngành phản ánh trình độ phân công lao động xã hội của nền kinh tế nói chung và trình độ sức sản xuất nói riêng.
Chỉ số về tỷ trọng giứa các ngành cấu thành nền kinh tế cũng thể hiện trình độ phát triển kinh tế hang hóa của một quốc gia. Có rất nhiều ngành tạo thành nền kinh tế. Theo phân loại của Tổng cục thống kê chúng được phân thành 3 nhóm ngành sau: 7 - Khu vực I: bao gồm nông - lâm - ngư nghiệp (đối với nhiều nước khác là ngành khai thác trực tiếp tài nguyên thiên nhiên) - Khu vực II: gồm công nghiệp - xây dựng (đối với nhiều nước khác là ngành chế biến) - Khu vực III: dịch vụ. Có thể phân loại ngành kinh tế theo vốn hoặc lao động: ngành thâm dụng tư bản - ngành thâm hụt lao động.
Phân loại theo sản phẩm: ngành hóa chất, ngành dầu mỏ, ngành thực phẩm, ngành cá, ngành giấy, ngành tài chính, ngành phần mềm, ngành quảng cáo, ngành giải trí… Theo quyết định số 10/2007/QĐ-TTG ngày 23 tháng 01 năm 2007 của Thủ tướng chính phủ. Hệ thống ngành kinh tế quốc dân của Việt Nam phân thành 21 nhóm. Ngành cấp 1 được mã hóa theo bảng chữ cái lần lượt từ A đến U. Ngành cấp 2 gồm 88 ngành, mỗi ngành được mã hóa theo từng ngành cấp 1 tương ứng.
Ngành cấp 3 gồm 242 ngành, mỗi ngành được mã hóa bằng ba số theo từng ngành cấp 2 tương ứng. Ngành cấp 4 gồm 437 ngành, mỗi ngành được mã hóa bằng bốn số theo từng ngành cấp 3 tương ứng. Ngành cấp 5 gồm 642 ngành, mỗi ngành được mã hóa bằng năm số theo từng ngành cấp 4 tương ứng. Ví dụ: Hệ thống ngành cấp 1 của nền kinh tế quốc dân Việt Nam gồm: A.
Nông nghiệp, lâm nghiệp và thủy sản B. Công nghiệp chế biến, chế tạo D. Sản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hòa không khí E. Cung cấp nước, hoạt động quản lý và sử lý rác thải, nước thải F.
Bán buôn và bán lẻ, sử chửa ô tô, mô tô, xe máy và xe có động cơ khác H. Vận tải kho, bãi I. Dịch vụ lưu trú và ăn uống J. Thông tin và truyền thông K.
Hoạt động tài chính và ngân hàng, bảo hiểm L. Hoạt động kinh doanh bất động sản M. Hoạt động chuyên môn, bách khoa và công nghệ N. Hoạt động hành chính và dịch vụ hỗ trợ O.
Hoạt động của Đảng cộng sản, tổ chức chính trị-xã hội, quản lý nhà nước, an ninh quốc phòng, bảo đảm xã hội bắt buộc 8 P. Giáo dục và đào tạo Q. Y tế và hoạt động trợ giúp xã hội R. Nghệ thuật, vui chơi và giải trí S.
Hoạt động dịch vụ khác T. Hoạt động làm thuê các công việc trong các hộ gia đình, sản xuất sản phẩm vật chất và dịch vụ tự tiêu dùng hộ gia đình U. Hoạt động của các tổ chức và cơ quan quốc tế * Cơ cấu thành phần kinh tế Cơ cấu thành phần kinh tế là tương quan theo tỷ lệ giữa các thành phần kinh tế tham gia vào các ngành, các lĩnh vực hay các bộ phận hợp thành nền kinh tế. Cơ cấu thành phần kinh tế phản ánh sự tồn tại của các hình thức sở hữu trong nền kinh tế.
Cơ cấu thành phần kinh tế được hình thành dựa trên cơ sở chế độ sở hữu, bao gồm nhiều thành phần kinh tế có tác động qua lại với nhau, vừa hợp tác, vừa cạnh tranh với nhau trên cơ sở bình đẳng trước pháp luật. Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ 10 của Đảng đã xác định: hiện nay ở Việt Nam tồn tại 5 thành phần kinh tế: kinh tế nhà nước, kinh tế tập thể, kinh tế tư nhân (cá thể, tiểu chủ, kinh tế tư bản tư nhân), kinh tế tư bản Nhà nước và kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài. Trong đó, thành phần kinh tế nhà nước đóng vai trò chủ đạo. Nghiên cứu cơ cấu thành phần kinh tế là để đánh giá vị trí, vai trò của từng thành phần trong quá trình phát triển đất nước cũng như từng ngành kinh tế, từng vùng lãnh thổ.
* Cơ cấu lãnh thổ kinh tế Cơ cấu lãnh thổ kinh tế là sự phân bố các cơ sở và hoạt động kinh tế theo từng lãnh thổ và trong phạm vi cả nước. Nền kinh tế quốc dân là một không gian thống nhất, được tổ chức chặt chẽ - là sản phẩm của quá trình phân công lao động theo lãnh thổ. Những khác biệt về điều kiện tự nhiên, điều kiện kinh tế - xã hội, lịch sử… đã dẫn đến sự phát triển không giống nhau giữa các vùng, phù hợp với mỗi cấp phân công lao động theo lãnh thổ có cơ cấu lãnh thổ nhất định: toàn cầu và khu vực, quốc gia, vùng lãnh thổ trong phạm vi quốc gia. Theo từ điển bách khoa Việt Nam, Hà Nội, 1995.
Cơ cấu lãnh thổ nề kinh tế quốc dân (cấu trúc lãnh thổ của nền kinh tế quốc dân) là “sự phân công lao động theo lãnh thổ của nền kinh tế quốc dân thành các bộ phận lãnh thổ có chức năng chuyên môn hóa khác nhau nhưng liên hệ qua lại với nhau trong một thể thống nhất. Hình thành cơ cấu lãnh thể nền kinh tế quốc dân gắn liền với phân công lao 9 động theo lãnh thổ. Những bộ phận cấu thành của cơ cấu lãnh thổ: hạt nhân, vùng ngoại vi, giới hạn các tiểu vùng.” Nghiên cứu cơ cấu lãnh thổ có ý nghĩa quan trọng trong việc khai thác các tiềm năng lợi thế phát triển kinh tế của vùng lãnh thổ, trong việc định hướng phát triển kinh tế - xã hội vùng cũng như xác định vai trò của từng vùng trong việc phát triển kinh tế của đất nước.