CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Khái niệm kiến thức bản địa 1. Trên thế giới Kiến thức bản địa (hay tri thức bản địa) (Indigenuos Knowledge) được coi trọng và đặc biệt nghiên cứu vào thập kỷ 80 trở đi. Cho tới nay, khái niệm kiến thức bản địa hay kiến thức truyền thống vẫn được định nghĩa theo nhiều cách khác nhau, tùy thuộc vào các lĩnh vực chuyên môn hay theo các mục đích sử dụng.
Mặc dù sử dụng các tên gọi khác nhau nhưng đối tượng kiến thức bản địa được nghiên cứu luôn là một hệ thống các kiến thức đặc hữu của cộng đồng người địa phương liên quan đến cái cách cộng đồng này quan hệ với môi trường tự nhiên xung quanh. Nói đến tri thức bản địa, đầu tiên, cần thiết phải xác định khái niệm về dân tộc bản địa. Trên thực tế, đây là khái niệm được hiểu theo nhiều nghĩa và mang tính tương đối. Công ước 169 của Tổ chức Lao động Thế giới (ILO) định nghĩa về người dân và bộ tộc bản địa là “những người có các điều kiện xã hội, văn hóa và kinh tế phân biệt họ với các bộ phận khác của một cộng đồng quốc gia, và địa vị của họ được quy định toàn bộ hoặc một phần bởi phong tục hay truyền thống, hoặc bởi những luật lệ đặc biệt hay quy định của riêng họ”.
Năm 1978, Tổ chức Sở hữu trí tuệ (SHTT) Liên hợp quốc (WIPO), đã tiến hành nghiên cứu và lần đầu tiên đưa ra khái niệm “tri thức truyền thống”. Ban đầu, khái niệm này chỉ giới hạn ở một loại tri thức (được coi là truyền thống) là “các hình thức thể hiện văn hóa dân gian” (Expressions of Folklore). Vào năm 1982, “các quy định mẫu dành cho luật quốc gia về bảo hộ các hình thức thể hiện văn hóa dân gian chống lại việc khai thác trái phép và những hành vi xâm phạm khác” đã được WIPO phối hợp với UNESCO soạn thảo và công bố, trong đó có định nghĩa về “các hình thức thể hiện văn hóa dân gian”. Đến nay thuật ngữ “tri thức truyền thống” không chỉ giới hạn ở “các hình thức thể hiện văn hóa dân gian” mà còn bao gồm các đối tượng khác như tri thức bản địa, kiến thức cổ truyền, kinh nghiệm dân LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 4 gian… Trong “Cẩm nang về tri thức bản địa” (tài liệu dịch), được NXB Nông nghiệp ấn hành năm 2000, một định nghĩa cũng đã được đưa ra: Tri thức bản địa (còn có thể gọi bằng những tên khác như "kiến thức địa phương", "kiến thức kỹ thuật bản địa" hay "kiến thức truyền thống") là kiến thức mà người dân ở một cộng đồng đã tạo nên và đang phát triển dần theo thời gian.
Ngoài các khái niệm kể trên, một số nước cũng có các quy định riêng về thuật ngữ tri thức bản địa - tri thức truyền thống. Theo định nghĩa chung của tổ chức UNESCO, thuật ngữ kiến thức bản địa (indigenous knowledge) hay tri thức địa phương (local knowledge) dùng để chỉ những thành phần kiến thức hoàn thiện được duy trì, phát triển trong một thời gian dài với sự tương tác qua lại rất gần gũi giữa con người với môi trường tự nhiên. Đó là một phần của tổng hoà văn hoá, tập hợp những hiểu biết kiến thức bao gồm hệ thống ngôn ngữ, cách định danh và phân loại, phương thức sử dụng tài nguyên, các hoạt động sản xuất, các lễ nghi, giá trị tinh thần và thế giới quan. Những kiến thức này là cơ sở để đưa ra những quyết định về nhiều phương diện cơ bản của cuộc sống hàng ngày tại địa phương như săn bắn, hái lượm, đánh cá, canh tác và chăn nuôi, sản xuất lương thực, nước, sức khoẻ và sự thích nghi với những thay đổi của môi trường và xã hội.
Hơn nữa, trái với kiến thức chính thống, những kiến thức không chính thống được truyền miệng từ đời này sang đời khác và rất hiếm khi được ghi chép lại. Cựu Tổng giám đốc UNESCO, Frederico Mayor đã định nghĩa kiến thức bản địa (địa phương) như sau: “Dựa vào hàng thế kỷ sống gần gũi với thiên nhiên, các dân tộc bản địa trên thế giới sở hữu những kho tàng tri thức khổng lồ về môi trường. Sống trong tự nhiên và lớn lên cùng sự giàu có và đa dạng của hệ sinh hái phức tạp, họ có sự hiểu biết về những đặc tính của cây cối và động vật, các chức năng của hệ sinh thái và những kỹ thuật sử dụng và quản lý chúng một cách đặc thù và phù hợp. Ở các cộng đồng nông thôn ở các nước đang phát triển, người dân địa phương (có khi là hoàn toàn) sống dựa vào những sản vật địa phương từ thức ăn, thuốc chữa bệnh, nhiên liệu, vật liệu xây dựng và các sản phẩm khác.
Tương thích với điều đó, LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 5 kiến thức và quan niệm của người dân về môi trường và mối quan hệ của họ với môi trường trở thành những thành tố quan trọng hình thành nên bản sắc văn hóa” [46]. Song song với thuật ngữ kiến thức bản địa (IK) có thuật ngữ “tri thức chính thống” (formal knowledge) dùng để chỉ những hệ thống kiến thức phát triển phần lớn dựa trên nền tảng hệ thống giáo dục phương Tây, đó là những kiến thức chuẩn vì nó được xác nhận trong những văn kiện, những nguyên tắc, luật lệ, những quy định và cơ sở hạ tầng kỹ thuật. Trong khi đó kiến thức bản địa được truyền miệng từ thế hệ này qua thế hệ khác rất hiếm khi được chép lại cẩn thận. Như vậy đặc trưng cơ bản nhất của kiến thức bản địa là tính đặc hữu, nó là hệ thống kiến thức của các dân tộc bản địa hay của cộng đồng tại một khu vực cụ thể, được tồn tại và phát triển trong những hoàn cảnh nhất định ở vùng địa lý nhất định (R.
Warren định nghĩa: “tri thức bản địa là những hệ thống tri thức và thực nghiệm được phát triển qua nhiều thế hệ trong một lĩnh vực cụ thể tới một nền văn hóa chuyên biệt” (dẫn theo Hoàng Xuân Tý và Lê Trọng Cúc, 1998) [35]. Xác định về thời gian và không gian thì tri thức bản địa là hệ thống kiến thức tồn tại và phát triển trong những hoàn cảnh nhất định ở vùng địa lý xác định với sự đóng góp của các thành viên trong cộng đồng (G. Như vậy ở đây có ba yếu tố góp phần hình thành nên kiến thức bản địa đó là môi trường địa lý xác định, trong thời điểm không gian nhất định và là của một cộng đồng tại một khu vực cụ thể đóng góp nên. Hay nói một cách khác, kiến bản địa hình thành trong điều kiện không gian thời gian nhất định với sự đóng góp của một cộng đồng tại khu vực cụ thể.
Kiến thức bản địa luôn được kế thừa và phát triển, bản chất của nó là một phức hệ những kinh nghiệm được truyền từ đời này qua đời khác, nó được hình thành trong thế ứng xử giữa hoạt động của con người với môi trường tự nhiên để kiếm sống và nó chỉ tồn tại trong môi trường cụ thể (Nguyễn Duy Thiệu, 1996). LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 6 TS John Ambler cho rằng: “Tri thức địa phương có thể được phân biệt làm hai loại chính. Một loại có thể được gọi là “tri thức kỹ thuật”. Một loại khác liên quan đến các tên gọi như “luật lệ địa phương” hoặc là “phong tục” hay tục lệ.
Thuộc về một số tri thức kỹ thuật của người vùng cao có sự hiểu biết chi tiết về chế độ ẩm trong vùng, về tiềm năng của đất đai, về kỹ thuật trồng trọt, về chọn giống, về các loại động vật và thực vật. Thuộc về tục lệ không chỉ giới hạn trong các quy tắc sinh hoạt như cưới xin, thừa kế, ma chay và nếp nhà truyền thống. Tục lệ còn đóng vai trò quan trọng hơn trong nhiều hoạt động xã hội có tác động đến quản lý tài nguyên thiên nhiên địa phương. Tục lệ cũng có thể quy định quy chế khác nhau như: nguồn nước nào được phân phối cho hệ thống tưới tiêu ở vùng cao, ai được phép hoạt động ở khu rừng nào, bao nhiêu súc vật có thể chăn thả ở những đồng cỏ riêng, kỹ thuật canh tác nào được chấp nhận” (John Ambler, 1996).1 Louise Grenier (1998) lại xem “Kiến thức bản địa là vốn kiến thức duy nhất, truyền thống và của một địa phương, tồn tại và phát triển dưới các điều kiện cụ thể của những người dân bản địa trong một khu vực địa lý nhất định.
Sự phát triển của hệ thống kiến thức bản địa trong tất cả các khía cạnh của cuộc sống, kể cả việc quản lý môi trường tự nhiên, từ lâu đã là một vấn đề sống còn đối với những con người đã sáng tạo ra chúng. Các hệ thống kiến thức bản địa cũng có tính động, kiến thức mới liên tục được bổ sung. Các hệ thống này luôn đổi mới trong lòng nó và cũng sẽ tiếp nhận, sử dụng và thích nghi với kiến thức bên ngoài nhằm phù hợp với điều kiện của địa phương” [40]. Theo Ngân hàng thế giới (World Bank), một trong những thể chế kinh tế quyền lực nhất trên thế giới hiện nay thì Tri thức bản địa là tri thức địa phương, là nền tảng cơ bản cho việc thiết lập các quyết định liên quan đến địa phương trên mọi lĩnh vực của cuộc sống đương đại bao gồm quản lý các nguồn tài nguyên thiên nhiên, dinh dưỡng, thức ăn, y tế, giáo dục và trong các hoạt động xã hội và cộng 1 Kinh nghiệm nghiên cứu phát triển miền núi: Một số nét khái quát từ châu Á, Báo cáo tại Hội thảo khoa học “Sử dụng hợp lý tài nguyên thiên nhiên và bảo vệ môi trường vùng Bình - Trị - Thiên, Huế, 25 đến 29-3- 1996 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.
Tri thức bản địa còn có cung cấp các chiến lược nhằm giải quyết các vấn đề đặt ra cho cộng đồng dân cư địa phương (World Bank, 1998) Định nghĩa kiến thức bản địa theo quan điểm kiến thức kỹ thuật bản địa là Hệ thống kiến thức bản địa là bao gồm tổ hợp kiến thức, kỹ năng, công nghệ hiện tồn tại và phát triển trong một phạm vi nhất định mang tính đặc hữu của một dân tộc, cộng đồng địa phương trong vùng địa lý nhất định. Hệ thống kiến thức bản địa của một dân tộc được trao truyền trong cộng đồng trải qua thử thách thời gian và vẫn duy trì phát triển (CEFIKS). Như vậy trong cách tiếp cận này, kiến thức bản địa được xem xét trên cơ sở hệ thống kiến thức kỹ thuật bản địa bao gồm tổ hợp kiến thức, kỹ năng, công nghệ hiện tồn tại.