Tổng quan nghiên cứu

Khu vực miền núi phía Bắc Việt Nam bao gồm 15 tỉnh với diện tích tự nhiên khoảng 11 triệu ha, chiếm một phần ba diện tích cả nước và là nơi cư trú của hơn 12,3 triệu người thuộc các cộng đồng dân tộc thiểu số. Trong bối cảnh diện tích rừng tự nhiên tuy có gia tăng nhưng chất lượng sinh thái và tính đa dạng sinh học tiếp tục bị đe dọa, việc quản lý rừng bền vững trở thành yêu cầu cấp thiết. Vườn Quốc gia Tam Đảo với tổng quy mô 36.883 ha trải rộng trên địa bàn 3 tỉnh Vĩnh Phúc, Thái Nguyên và Tuyên Quang, là kho tàng đa dạng sinh học đặc hữu nhưng đang chịu áp lực nhân sinh to lớn từ 148.706 cư dân sinh sống tại vùng đệm.

Vấn đề cốt lõi nảy sinh khi đời sống kinh tế của cộng đồng dân tộc Sán Dìu tại địa phương phụ thuộc chặt chẽ vào tài nguyên rừng, trong khi các quy chế quản lý bảo vệ rừng hiện đại chưa phát huy tối đa vai trò của người bản địa. Mục tiêu của nghiên cứu là điều tra, hệ thống hóa nguồn kiến thức bản địa của người Sán Dìu trong bảo vệ rừng đầu nguồn, khai thác lâm sản ngoài gỗ và bảo tồn văn hóa truyền thống tại xã Minh Quang, huyện Tam Đảo, tỉnh Vĩnh Phúc. Phạm vi không gian tập trung tại vùng đệm Vườn Quốc gia Tam Đảo với dữ liệu thu thập thực địa toàn diện năm 2015. Công trình mang ý nghĩa thực tiễn sâu sắc khi cung cấp căn cứ khoa học giúp nâng cao hiệu lực bảo vệ 17.295 ha phân khu bảo vệ nghiêm ngặt và 17.286 ha phân khu phục hồi sinh thái thông qua giải pháp đồng quản lý rừng.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu vận dụng lý thuyết hệ thống kiến thức bản địa do Warren (1991) và Louise Grenier (1998) phát triển, nhấn mạnh tri thức bản địa là phức hệ kinh nghiệm thích nghi sinh thái được trao truyền qua nhiều thế hệ. Khung phân tích đối sánh giữa kiến thức bản địa và kiến thức hàn lâm của G. Schonberger được sử dụng để làm rõ tính chất truyền khẩu, tiếp cận tổng thể và nghiệm sinh thực tiễn của cộng đồng. Đề tài tích hợp lý thuyết quản lý tài nguyên dựa vào cộng đồng và sinh thái nhân văn nhằm giải thích sự tương tác giữa tập quán canh tác và bảo tồn.

Năm khái niệm then chốt được chuẩn hóa bao gồm: kiến thức bản địa, quản lý rừng bền vững, lâm sản ngoài gỗ, phân khu phục hồi sinh thái và thiết chế tự quản thôn bản. Hệ thống hóa các công trình quốc tế từ 124 quốc gia cùng các nghiên cứu trong nước của Ngô Đức Thịnh và Hoàng Xuân Tý cho thấy tri thức bản địa về 4 lĩnh vực chính (tự nhiên, con người, sản xuất và quản lý xã hội) đóng vai trò quyết định trong việc bảo đảm cân bằng sinh thái rừng.

Phương pháp nghiên cứu

Dữ liệu thứ cấp được tổng hợp đa tầng từ 4 cấp quản lý hành chính gồm cấp tỉnh (Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Ban Quản lý Vườn Quốc gia Tam Đảo), cấp huyện (Ủy ban nhân dân huyện Tam Đảo), cấp xã (Ủy ban nhân dân xã Minh Quang) và cấp thôn bản.

Nghiên cứu thực hiện điều tra xã hội học với quy mô cỡ mẫu gồm 90 hộ gia đình người Sán Dìu tại 04 thôn thuộc xã Minh Quang: thôn Bản Long (20 hộ), thôn Phô Cóc (30 hộ), thôn Quang Minh (27 hộ) và thôn Xạ Hương (13 hộ). Phương pháp chọn mẫu áp dụng là chọn mẫu có chủ đích kết hợp phân tầng, ưu tiên các hộ gia đình bám rừng, phụ thuộc trực tiếp vào lâm sản và các đối tượng có uy tín như già làng, trưởng bản, phụ nữ nhiều kinh nghiệm. Lý do lựa chọn phương pháp phân tích đánh giá nhanh nông thôn có sự tham gia (PRA) kết hợp phỏng vấn bán định hướng và xử lý thống kê bằng phần mềm SPSS và Excel là nhằm lượng hóa chính xác các chiều cạnh sinh kế, bảo đảm độ tin cậy khi liên kết giữa số liệu định lượng với kinh nghiệm định tính thực tế. Toàn bộ quy trình khảo sát thực địa và tham vấn chuyên gia lâm nghiệp được thực hiện hoàn tất trong năm 2015.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Khảo sát thực địa chỉ ra 4 phát hiện quan trọng về thực trạng ứng dụng tri thức bản địa của người Sán Dìu tại Vườn Quốc gia Tam Đảo:

  • Thứ nhất, 100% các khe suối và mạch nước đầu nguồn đổ về các công trình thủy lợi lớn như hồ Xạ Hương và hồ Làng Hà được cộng đồng khoanh vùng bảo vệ theo luật tục nghiêm ngặt, duy trì lưu lượng dòng chảy mùa kiệt đạt khoảng 0,10 đến 0,20 tỷ m3 nước cho đồng bằng trung du.
  • Thứ hai, đồng bào nắm giữ kinh nghiệm khai thác bền vững hơn 60 loài cây thuốc quý trong tổng số khoảng 2.000 loài thực vật của vườn quốc gia, áp dụng kỹ thuật thu hái luân phiên vỏ, rễ và chừa lại cây mẹ tái sinh.
  • Thứ ba, áp lực sinh kế đè nặng lên tài nguyên khi bình quân đất canh tác chỉ đạt 776 m2/người và năng suất lúa bình quân 35-40 tạ/ha/năm không đáp ứng đủ lương thực, dẫn đến việc hơn 55% hộ dân vẫn phải dựa vào rừng để thu nhặt củi khô và khai thác phụ liệu mưu sinh.
  • Thứ tư, kho tàng văn hóa phi vật thể như câu lạc bộ hát Soọng cô và trang phục truyền thống có tính gắn kết cộng đồng cao, chiếm tỷ lệ lớn trong cộng đồng dân tộc thiểu số (chiếm 37% tổng dân số vùng đệm gồm 8 dân tộc cùng chung sống).

Thảo luận kết quả

Nguyên nhân chính dẫn đến sự phụ thuộc vào rừng là do địa hình vùng núi hiểm trở với độ dốc phổ biến 16-35 độ, hạn chế quỹ đất nông nghiệp chỉ chiếm 4,38% tổng diện tích tự nhiên. Tỷ lệ gia tăng dân số tự nhiên 1,66%/năm làm tăng thêm mật độ dân số vùng đệm lên mức 204 người/km2. Dữ liệu nghiên cứu có thể được trực quan hóa hiệu quả qua biểu đồ hình tròn thể hiện cơ cấu nguồn thu nhập hộ gia đình và bảng ma trận đối chiếu mức độ khai thác giữa các nhóm lâm sản ngoài gỗ (gỗ, củi, măng, dược liệu).

So sánh với các nghiên cứu trước đây tại vùng núi phía Bắc và Tây Nguyên của Lê Trọng Cúc hay Phạm Quang Hoan, tri thức của người Sán Dìu có nét tương đồng về sự hòa hợp tự nhiên nhưng vượt trội ở kỹ thuật dẫn thủy nhập điền và kinh nghiệm chế biến dược liệu tại chỗ. Việc thiếu cơ chế đồng quản lý chính thức đã làm suy giảm vai trò của các thiết chế tự quản truyền thống trước làn sóng thị trường hóa.

Đề xuất và khuyến nghị

  • Triển khai giao khoán quản lý bảo vệ rừng gắn với chi trả dịch vụ môi trường rừng: Ban Quản lý Vườn Quốc gia Tam Đảo chủ trì phối hợp với Ủy ban nhân dân xã Minh Quang tiến hành rà soát, giao khoán 100% diện tích 16.552,58 ha đất lâm nghiệp vùng đệm cho các hộ gia đình bản địa quản lý, nâng mức thu nhập từ nghề rừng lên thêm 25-30% trong giai đoạn 2016-2020.
  • Tư liệu hóa và quy hoạch vùng bảo tồn nguồn gen cây thuốc nam: Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn phối hợp Sở Khoa học và Công nghệ tỉnh Vĩnh Phúc xây dựng danh mục chuẩn hóa 64 loài thực vật quý hiếm và 42 loài đặc hữu, thành lập trung tâm ươm giống dược liệu bản địa với diện tích 10-20 ha trước năm 2022.
  • Thể chế hóa luật tục vào hương ước và quy chế bảo vệ rừng cấp thôn: Ủy ban nhân dân huyện Tam Đảo chỉ đạo 23 xã vùng đệm lồng ghép tri thức giữ rừng đầu nguồn của đồng bào Sán Dìu vào hương ước của 100% thôn bản, đặt mục tiêu kéo giảm từ 50% đến 60% số vụ xâm hại rừng trái phép trong vòng 24 tháng.
  • Xây dựng mô hình du lịch sinh thái gắn kết di sản văn hóa Sán Dìu: Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Vĩnh Phúc phối hợp các công ty lữ hành tổ chức các tour trải nghiệm hát Soọng cô, văn hóa ẩm thực và nghề thuốc dân gian tại xã Minh Quang, phấn đấu thu hút trên 15.000 lượt khách mỗi năm và tạo sinh kế phi nông nghiệp cho 35% lao động địa phương đến năm 2025.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

  • Ban Quản lý các vườn quốc gia và khu bảo tồn thiên nhiên: Vận dụng làm tài liệu hướng dẫn khung để xây dựng quy chế phối hợp đồng quản lý rừng có sự tham gia của người dân bản địa, giảm thiểu xung đột tài nguyên hiệu quả.
  • Cán bộ hoạch định chính sách dân tộc và lâm nghiệp: Khai thác các căn cứ thực tiễn để ban hành cơ chế giao đất lâm nghiệp, hoàn thiện chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng cho 53 dân tộc thiểu số tại các tỉnh miền núi.
  • Giảng viên, học viên cao học và sinh viên chuyên ngành Quản lý tài nguyên rừng, Lâm học, Dân tộc học: Sử dụng như một nghiên cứu điển hình về phương pháp đánh giá nhanh nông thôn (PRA), xử lý số liệu phỏng vấn 90 mẫu và kỹ thuật tích hợp tri thức bản địa vào bảo tồn đa dạng sinh học.
  • Các tổ chức phi chính phủ và cơ quan phát triển nông thôn: Tham khảo khung giải pháp để thiết kế các dự án phát triển sinh kế bền vững, bảo tồn văn hóa tộc người và phát triển chuỗi giá trị nông lâm sản bản địa tại vùng đệm các khu rừng đặc dụng.

Câu hỏi thường gặp

  • Kiến thức bản địa của người Sán Dìu đóng vai trò cụ thể như thế nào trong bảo vệ nguồn nước? Người Sán Dìu áp dụng luật tục cấm chặt phá cây tại các khu rừng đầu nguồn xung quanh 2 hệ thống sông chính là sông Phó Đáy và sông Công. Nhờ đó, thảm thực vật được giữ nguyên vẹn giúp duy trì dòng chảy ổn định quanh năm cho các hồ đập lớn như hồ Xạ Hương và Đại Lải, giảm thiểu xói mòn trong mùa mưa lũ kéo dài từ tháng 4 đến tháng 10.

  • Nguyên nhân cốt lõi khiến người dân vùng đệm Vườn Quốc gia Tam Đảo vẫn khai thác rừng trái phép là gì? Nguyên nhân chủ yếu xuất phát từ việc thiếu đất sản xuất khi bình quân đất canh tác chỉ có 776 m2/người và năng suất lúa chỉ đạt 35-40 tạ/ha/năm không đủ lương thực cho 29.400 hộ gia đình. Tỷ lệ tăng dân số 1,66%/năm và mật độ 204 người/km2 đã tạo áp lực khiến người dân phải vào rừng lấy củi và măng để bù đắp thu nhập.

  • Phương pháp điều tra xã hội học trong luận văn được tiến hành tại các địa bàn nào? Tác giả đã phỏng vấn trực tiếp 90 hộ gia đình người Sán Dìu tại 04 thôn thuộc xã Minh Quang, huyện Tam Đảo bao gồm: thôn Bản Long (20 hộ), thôn Phô Cóc (30 hộ), thôn Quang Minh (27 hộ) và thôn Xạ Hương (13 hộ). Mẫu điều tra tập trung vào các già làng, trưởng bản và người có uy tín để thu thập thông tin chuẩn xác.

  • Hệ thực vật Vườn Quốc gia Tam Đảo có giá trị đặc biệt gì đối với tri thức y dược bản địa? Vườn Quốc gia Tam Đảo lưu giữ khoảng 2.000 loài thực vật, trong đó có 42 loài đặc hữu và 64 loài quý hiếm. Đồng bào Sán Dìu đã đúc kết và sử dụng thành thạo hơn 60 loài cây thuốc quý trong rừng để chữa bệnh dân gian, hình thành nên bản sắc nghề thuốc truyền thống cần được bảo tồn và nhân rộng.

  • Làm cách nào để kết hợp hiệu quả giữa tri thức bản địa và quản lý nhà nước về rừng? Giải pháp then chốt là chuyển từ phương thức quản lý đơn phương sang cơ chế đồng quản lý rừng. Nhà nước cần công nhận các quy ước, hương ước truyền thống của người Sán Dìu, đồng thời giao khoán 16.552,58 ha đất lâm nghiệp cho người dân gắn với chi trả dịch vụ môi trường rừng nhằm dung hòa mục tiêu bảo tồn với lợi ích sinh kế.

Kết luận

  • Luận văn hệ thống hóa toàn diện cơ sở lý luận và thực tiễn về tri thức bản địa của người Sán Dìu tại vùng đệm Vườn Quốc gia Tam Đảo rộng 36.883 ha.
  • Công trình chỉ rõ mối liên kết mật thiết giữa tập quán bảo vệ rừng đầu nguồn, bảo tồn hơn 60 loài cây thuốc và văn hóa hát Soọng cô với công tác quản lý rừng bền vững.
  • Đề tài lượng hóa áp lực sinh kế từ mật độ dân số 204 người/km2 và bình quân đất canh tác 776 m2/người, làm cơ sở khoa học cho các giải pháp can thiệp.
  • Đưa ra hệ thống 4 nhóm giải pháp đột phá, trọng tâm là giao khoán đất lâm nghiệp và thương mại hóa dược liệu bản địa trong lộ trình 2016-2025.
  • Nghiên cứu là tài liệu tham khảo giá trị dành cho các nhà quản lý, nhà nghiên cứu và tổ chức phát triển đang tìm kiếm mô hình cân bằng giữa bảo tồn đa dạng sinh học và nâng cao đời sống cộng đồng dân tộc thiểu số tại Việt Nam.