PHẦN MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Chi trả dịch vụ môi trường (PES) là sự đền đáp có điều kiện cho những người cung cấp dị ch vụ môi trư ờng từ những người tiếp nhận lo ại dị ch vụ này, đây cũng là phương pháp tiếp cận phổ biến ở Châu Á. Trong hơn thập kỷ qua, sự quan tâm và tài trợ của các tổ chức quốc tế đã cho phép thử nghiệm nhiều cơ chế PES khác nhau , đặc biệt chú trọng trong lĩ nh vực bảo vệ lưu vực sông và gi ảm thiểu khí thải cácbon. Ngoại trừ Trung Quốc , do nhà nước đứng ra quản lý , còn lại những nước khác ở Châu Á thì những vấn đề đó được giải quyết dưới dạng các dự án cộng đồng quy mô nhỏ lẻ , phân tán.
Việc triển khai PES ở các quốc gia đang phát triển thường kéo theo các quyết đị nh mang tí nh ưu tiên d ựa trên hệ thống công bằng [38]. Một số quốc gia cho rằng PES là một công cụ thị trường để đảm bảo cho các dị ch vụ môi trường như gi ảm thiểu khí th ải cácbon, bảo vệ lưu vực sông , bảo tồn đa dạng sinh học. Trọng tâm kế hoạch và dự án của các quốc gia này đ ều đề cao tí nh hiệu quả theo cơ chế thị trường [40]. Tuy nhiên, việc vận dụng một cách cứng nhắc phương pháp tiếp cận kiểu này ở các quốc gia đang phát triển có thể làm tăng rủi ro về sinh kế cho người nghèo [37].
Những rủi ro đó có thể không đ ạt được các mục tiêu về môi trường bởi hệ thống PES đưa ra không nhận được sự đồng thuận từ cộng đồng những người không được hưởng lợi từ hệ thống. Vì lý do đó , mặc dù vẫn còn nhiều tranh cãi liệu PES có đưa ra được các giải pháp hữu hiệu để bảo tồn môi trường và xóa đói giảm nghèo hay không , vấn đề sinh kế cần phải được tí nh đến khi xây dựng cơ chế PES. Tại Việt Nam, trong hai thập niên qua, ngành lâm nghiệp Việt Nam đã chứng kiến những thay đổi đáng kể về chính sách và thực tiễn. Từ mô hình quản lý rừng tập trung, với mục tiêu trọng tâm là khai thác tài nguyên, đã Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.vn 2 chuyển đổi thành mô hình lâm nghiệp xã hội hoá, tập trung vào bảo vệ môi trường, phát triển xã hội và thúc đẩy các doanh nghiệp lâm nghiệp địa phương.
Những thay đổi này thể hiện phản ứng của ngành lâm nghiệp trước suy thoái tài nguyên rừng và sự kém hiệu quả của hệ thống quản lý rừng tập trung. Kể từ đầu những năm 1990, thông qua chương trình 327 và sau đó là 5 triệu ha rừng (chương trình 661) do Bộ Nông nghiệp và PTNT triển khai, đã có một số lượng lớn các hộ gia đình và cá nhân nhận khoán hoặc được giao rừng, đất rừng để bảo vệ, trồng rừng, và quản lý dài hạn. Với mức độ tham gia cao của xã hội trong công tác trồng mới và bảo vệ rừng, độ che phủ rừng tăng từ 28,2% năm 1995 lên 36,7% năm 2004. Chương trình 661 được đánh giá là đã có những đóng góp trong việc giảm đói nghèo và cải thiện sinh kế cho khoảng một triệu người dân Việt Nam [6][5].
Tuy nhiên, chi phí cho hoạt động bảo tồn rừng là một gánh nặng tài chính đối với Chính phủ. Trong những chương trình trên, mặc dầu những kết quả về cải thiện dịch vụ môi trường rừng đã đem lại lợi ích cho nhiều người dân và doanh nghiệp ở vùng thượng nguồn và vùng hạ nguồn, xong kinh phí cho bảo tồn và phát triển xã hội phần lớn lại là do ngân sách Nhà nước gánh chịu. Nhằm bảo tồn và phát triển rừng bền vững, chính phủ đã ban hành Quyết định 380/ QĐ- TTg tháng 4 năm 2008 về chính sách thí điểm chi trả dịch vụ môi trường rừng với mục tiêu nhằm tạo cơ sở cho việc xây dựng khung pháp lý về chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng áp dụng trên phạm vi cả nước theo hướng xác định rõ lợi ích, quyền hạn và nghĩa vụ của các đối tượng được chi trả và phải chi trả dịch vụ môi trường rừng, thực hiện xã hội hoá nghề rừng, từng bước tạo lập cơ sở kinh tế bền vững cho sự nghiệp bảo vệ và phát triển rừng, bảo vệ môi trường và các hệ sinh thái, nâng cao chất lượng cung cấp các dịch vụ, đặc biệt là bảo đảm nguồn nước cho sản xuất điện, nước và các hoạt động kinh doanh du lịch [21]. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.vn 3 Chi trả dịch vụ môi trường là một công cụ bảo tồn mới mẻ ở Việt Nam nhằm đảm bảo việc cung cấp các dịch vụ môi trường tích cực thông qua việc chu chuyển tài chính từ những người được hưởng lợi dịch vụ môi trường đến những người cung cấp các dịch vụ này.
Tuy nhiên, làm thế nào để đạt được một chương trình PES bền vững? Cần phải thực hiện những biện pháp gì để đảm bảo nguồn vốn từ PES được chuyển tải một cách hiệu quả thành việc cung cấp bền vững các dịch vụ môi trường và nâng cao sinh kế cho người nghèo? Đó là những vấn đề cấp bách cần phải nghiên cứu. Chính vì những lý do trên, được sự nhất trí của trường Đại học Nông lâm Thái Nguyên, trên cơ sở kế thừa kết quả nghiên cứu của dự án RUPES I, trong khuôn khổ của dự án RUPES II do ICRAF phụ trách, tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Nghiên cứu cơ chế chi trả dịch vụ môi trường rừng tại huyện Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn". Mục tiêu nghiên cứu 2. Mục tiêu tổng thể - Xây dựng được cơ chế chi trả dịch vụ môi trường và các giải pháp phát triển dịch vụ môi trường cho huyện Ba Bể.
- Góp phần nâng cao nhận thức và trách nhiệm quản lý, bảo vệ và phát triển rừng của người dân tại địa phương. Mục tiêu cụ thể - Tìm hiểu được điều kiện tự nhiên kinh tế xã hội và tình hình sản xuất nông lâm nghiệp của người dân tại Ba Bể - Làm rõ được mối quan hệ giữa cảnh quan, việc sử dụng đất với dịch vụ môi trường rừng tại Ba Bể - Xác định được người cung cấp dịch vụ môi trường rừng, người mua dịch vụ môi trường rừng và bên trung gian - Xây dựng được cơ chế chi trả dịch vụ môi trường rừng Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.vn 4 CHƢƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Cơ sở khoa học của đề tài Các hệ sinh thái rừng đóng vai trò hết sức quan trọng đối với con người và đặc biệt là duy trì môi trường sống, đóng góp vào sự phát triển bền vững của mỗi quốc gia và sự tồn tại của trái đất. Rừng không chỉ cung cấp nguyên liệu như gỗ, củi, lâm sản ngoài gỗ cho một số ngành sản xuất mà quan trọng hơn là các lợi ích của rừng trong việc duy trì và bảo vệ môi trường, đó là hạn chế xói mòn, điều tiết nguồn nước, hạn chế lũ lụt, điều hoà khí hậu, các giá trị cảnh quan, bảo tồn đa dạng sinh học.[12] Theo kết quả nghiên cứu của S.Belop (1976) cho thấy: Mỗi năm sinh vật quang tổng hợp trên trái đất đồng hóa khoảng 170 tỷ tấn dioxitcarbon (CO2) để tạo ra khoảng 100 tỷ tấn chất hữu cơ, 115 tỷ tấn O2 tự do - tạo điều kiện cho sự tồn tại và tiến hóa của các dạng sống, các quần thể và các hệ sinh thái trên cơ sở các mối liên kết bởi các quá trình sinh - địa - hóa.
Và nếu như tất cả thực vật trên trái đất đã tạo ra 53 tỷ tấn sinh khối (ở dạng khô tuyệt đối là 67%) thì rừng tạo ra 37 tỷ tấn (chiếm gần 70%). Cùng với đó các cây rừng sẽ thải ra 52,2 tỷ tấn (hay 44%) dưỡng khí để phục vụ cho hô hấp của con người, động vật và sâu bọ trên trái đất trong khoảng 2 năm. Mỗi người một năm cần 4.000 kg O2 tương ứng với lượng oxy do 1.000 m2 cây xanh tạo ra trong một năm[23]. Mặt khác, một ha rừng hàng năm tạo nên sinh khối khoảng 300 - 500 kg, 16 tấn oxy (rừng thông 30 tấn, rừng trồng 3 - 10 tấn)[24].
Vì vậy, trong các hệ sinh thái của sinh quyển thì hệ sinh thái rừng có năng suất cao hơn cả và có một vai trò vô cùng quan trọng với con người, nhưng do nhiều thế kỷ qua do thiếu ý thức, kiến thức, thiếu kinh Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.vn 5 nghiệm hoặc vì những lợi ích trước mắt, việc khai thác các giá trị của rừng một cách “không nghĩ tới tương lai” đã làm cho rừng bị tàn phá, hủy hoại nghiêm trọng, đồng thời cùng với quá trình công nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước đã là một trong những nguyên nhân chính là biến đổi khí hậu[25]. Trong những năm gần đây nhận thức về vai trò của rừng, đặc biệt là giá trị to lớn của dịch vụ môi trường do rừng mang lại đã và đang được thừa nhận trên phương diện quốc tế và ở Việt Nam. Nhằm duy trì những giá trị dịch vụ môi trường của rừng và đảm bảo sự công bằng cho người làm rừng, các cơ chế tài chính về chi trả dịch vụ môi trường rừng đang trở thành một giải pháp hiệu quả ở nhiều quốc gia nhằm đảm bảo nguồn tài chính bền vững cho quản lý bền vững tài nguyên rừng. Bản chất của hoạt động chi trả dịch vụ môi trường là tạo cơ chế khuyến khích và mang lại lợi ích cho những người hiện đang sử dụng các hệ sinh thái có ý nghĩa môi trường để đổi lấy việc họ sử dụng các hệ sinh thái này theo cách bảo vệ hoặc tăng cường các dịch vụ môi trường để phục vụ lợi ích của phần đông dân số.
Với cách làm này thì từng người dân của cộng đồng có thể được hưởng lợi trực tiếp từ dịch vụ họ mang lại. Nói cách khác, những người cung cấp dịch vụ môi trường cần phải được chi trả hoặc bồi hoàn cho những gì họ làm để duy trì chức năng của hệ sinh thái, và những người sử dụng dịch vụ môi trường nên chi trả cho những dịch vụ này [26]. Một số khái niệm cơ bản Ở Việt Nam, thuật ngữ dịch vụ hệ sinh thái được sử dụng phổ biến hơn thuật ngữ dịch vụ môi trường bởi vì dịch vụ môi trường đang được hiểu là theo nghĩa bảo vệ môi trường như các vấn đề ô nhiễm.