Chương 1: Khái quát chung về trách nhiệm bồi thường thiệt hại do hành vi làm ô nhiễm môi trường nước. Chương 2: Thực trạng pháp luật về trách nhiệm bồi thường thiệt hại do hành vi làm ô nhiễm môi trường nước và thực tiễn áp dụng Chương 3: Định hướng và kiến nghị hoàn thiện pháp luật về bồi thường thiệt hại do hành vi làm ô nhiễm môi trường nước. KHÁI QUAT CHUNG VE TRÁCH NHIỆM BOI THUONG THIET HAI DO HANH VI LAM Ô NHIEM MOI TRUONG NUOC 1. Khái niệm va đặc điểm về hành vi lam 6 nhiễm môi trường nước 1.
Khái niệm hành vi làm ô nhiễm môi trường nước Dưới góc độ pháp luật, hiện nay các quy định về nước được sử dụng nhiều thuật ngữ khác nhau, nhưng phổ biến nhất là thuật ngữ: môi trường nước, tài nguyên nước và nguồn nước. Trong luận văn này khi đề cập đến môi trường nước cũng bao hàm các khía cạnh trên. Tác giả cho rằng môi trường nước là môi trường sống của các cá thé sống đưới nước và các cá thé khác chịu sự ảnh hưởng va phụ thuộc vao nước. Ô nhiễm môi trường nước là sự thay đổi theo chiều xấu đi các tính chất vật lý, hoá học, sinh học của nước, với sự xuất hiện các ch Ất lạ ở thể lỏng, rắn làm cho nguồn nước trở nên độc hại với con người và sinh vật, làm giảm mức độ đa dạng sinh vật trong nước và ảnh hưởng đến các cá thể sống chịu sự tác động bởi môi trường nước.
Hiến chương châu Âu về tài nguyên nước cho rằng “O nhiễm nước là sự biến đổi nói chung do con người đối với chất lượng nước, làm nhiễm ban nước và gây nguy hiểm cho con người, cho công nghiệp, nông nghiệp, nuôi cá, nghỉ ngơi, giải trí, cho động vật nuôi và các loài hoang da" [43]. Luật BVMT năm 2014 tại khoản 6 Điều 3 đã định nghĩa “ô nhiễm môi trường là sự biến đổi của các thành phần môi trường không phù hợp với tiêu chuẩn môi trường, gây ảnh hưởng xấu đến con người, sinh vật.” Nhưng khái niệm này đã có sự thay đổi trong Luật BVMT năm 2020, “Ô nhiễm môi trường là sự biễn đỗi tính chất vật lý, hóa học, sinh học của thành phần môi trường không phù hợp với quy chuẩn kỹ thuật môi trường, tiêu chuân môi trường gây ảnh hưởng xấu đến sức khỏe con người, sinh vat và tự nhiên” [19, Điều 3. Ô nhiễm nước có nguồn gốc tự nhiên là do mưa, tuyết tan, gió bão, lũ lụt đưa vào môi trường nước chất thai ban, các sinh vật và vi sinh vật có hại ké ca xác chết của chúng. Làm ONMTN được tiếp cận là ô nhiễm nước có nguồn gốc nhân tạo, do quá trình thải các chất độc hại chủ yếu dưới dạng lỏng như các chất thải sinh hoạt, công nghiệp, nông nghiệp, giao thông vào môi trường nước của các chủ thé trong xã hội.
Vì vậy, hành vi lam ONMTN được xem xét dưới góc độ là hành vi vi phạm pháp luật bảo vệ môi trường nước. Một hành vi bị coi là vi phạm pháp luật là “hành vi trái pháp luật, có lỗi, do chủ thé có năng lực trách nhiệm pháp lý thực hiện, xâm hại các quan hệ xã hội được pháp luật bảo vệ. Hành vi lam ONMTN là hành vi vi phạm pháp luật bảo vệ môi trường nước, trực tiếp hoặc gián tiếp xâm phạm trật tự xã hội mà pháp luật được thiết kế để bảo vệ môi trường nước. Trật tự xã hội ấy được thé hiện ở các giá trị cơ bản như sự an toàn về thân thể (tính mạng, sức khỏe), tài sản của các cá nhân, tổ chức trong xã hội và bao gồm lợi ích chung của cộng đồng.
Hành vi làm ONMTN luôn là hành vi gây thiệt hại hoặc có khả năng gây thiệt hại cho xã hội. Bởi nếu không gây thiệt hại cho xã hội, nói chung, hành vi đó không bị coi là VPPL. Trong nhiều trường hợp cho thấy, nhiều hành vi lam ONMTN đã dẫn đến thiệt hai mà không thé bu đắp và không thé khôi phục được như làm tuyệt chủng những loài sinh vật nhất định, làm tuyệt chủng những nguồn gen nhất định. trường được xác định là những dạng vi phạm pháp luật về bảo vệ môi trường.
Từ cách hiểu của pháp luật BVMT nước của Việt Nam trên có thé hiểu rằng hành vi làm ONMTN là hành vi vi phạm pháp luật do tổ chức, cá nhân thực hiện trái các yêu câu, các chuẩn mực mà pháp luật bao vệ môi trường nước quy định mà gây ảnh hưởng xấu đến sức khỏe con người, sinh vật và tự nhiên. Hành vi vi phạm pháp luật môi trường nước bao gồm hành vi làm/gây ONMTN, gây suy thoái môi trường nước, gây ra các sự cố môi trường nước. Nhưng trong phạm vi luận văn, tác giả chủ yếu tập trung vào Hành vi làm ONMTN được hiểu theo nghĩa hẹp của luận văn tập trung nghiên cứu là hành vi phát thải ra môi trường những chất gây hại cho môi trường như thải dầu mỡ, hóa chất độc hại, chất phóng xạ vượt quá tiêu chuẩn cho phép; các chất thải, xác động vật, thực vật, vi khuẩn, ký sinh trùng độc hại gây ra dịch bệnh cho người và gia súc hoặc các yếu tố độc hại khác. Đặc điểm của hành vi làm ô nhiễm môi trường nước Cách tiếp cận hành vi làm ONMTN là hành vi VPPL.
Vi vậy, hành vi làm ONMTN có đặc điểm chung của hành vi vi phạm pháp luật và có đặc điểm riêng sau: Thứ nhất, hành vi làm ONMTN là hành vi trái pháp luật, gây ra hậu quả xấu cho môi trường nước và các cá thé sống phụ thuộc vào nước. Hoạt động gìn giữ và bảo vệ môi trường nước trong bối cảnh hiện nay là một trong những chức năng cơ bản và quan trọng nhất của nhà nước trong giai đoạn hiện nay. Đề thực hiện chức năng này, Nhà nước phải ban hành các qui phạm mệnh lệnh với nội dung nghiêm cắm các hành vi làm ONMTN. Nếu hành vi làm ONMTN gây ra hậu quả tiêu cực tới môi trường nước, các loài sinh vật sống, và đặc biệt là con người sẽ bị coi là hành vi trái pháp luật về bảo vệ môi trường nước.
Do đó, chủ thé vi phạm sẽ chịu trách nhiệm pháp lí đối với hành vi làm ONMTN. Trách nhiệm pháp lí có thể là trách nhiệm hành chính, trách nhiệm hình sự và trách nhiệm dân sự. Thứ hai, hành vi làm ONMTN thường gây ra thiệt hại về môi trường. Thiệt hại về môi trường không chỉ thiệt hại về tài sản, tính mạng, sức khỏe của các cá nhân, tổ chức do môi trường nước bị ô nhiễm mà còn thiệt hại cho môi trường tự nhiên, đó là sự suy giảm chức năng, tính hữu ích của môi trường.
Quan điểm này được thể hiện qua Luật BVMT năm 2005, năm 2014 và hiện nay là năm 2020 (khoản 1 Điều 130). Theo đó loại thiệt hại về sức 10 khỏe, tính mạng của con người, tài sản và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân do hậu quả của việc suy giảm chức năng, tính hữu ích của môi trường là thiệt hại gián tiếp chỉ xảy ra khi đã có thiệt hại đối với môi trường nước. Thứ ba, hành vi làn ONMTN không can chứa đựng lỗi của chủ thể thực hiện hành vi vẫn làm phát sinh trách nhiệm BTTH. Lỗi của chủ thể là trạng thái tâm lí phản ánh thái độ tiêu cực của một chủ thé đối với hành vi trái pháp luật (làm ONMTN) của chủ thé đó và hậu quả của hành vi làm ONMTN [20, tr.
Yếu tổ lỗi luôn được đặt ra khi có hành vi trái pháp luật. Nếu một chủ thể gây ONMTN mà có lỗi thì chủ thể đó phải chịu trách nhiệm pháp lí (trách nhiệm BTTH) đối với hành vi này. Nếu việc thực hiện hành vi mà không có lỗi thi chủ thé không phải chịu trách nhiệm BTTH. Trong khoa học pháp lí, đối với hành vi làm ONMTN, yếu tổ lỗi không phải là yếu tố bắt buộc dé phát sinh trách nhiệm BTTH do làm ONMTN.
Việc chủ thể thực hiện hành vi làm ONMTN mà không có lỗi nhưng phải BTTH là loại trách nhiệm dân sự, là loại trách nhiệm của chủ thể thực hiện hanh vi lam ONMTN đối với nạn nhân của hành vi đó. Đây là một đặc điểm quan trọng để xác định trách nhiệm pháp lí đối với chủ thể có hành vi làm ONMTN, nhằm phân biệt trách nhiệm BTTH đối với hành vi làm ONMTN với các loại trách nhiệm pháp lí khác. Thứ tu, hành vi làm ONMTN thưởng gây ra thiệt hại trên diện rộng với số lượng người bị thiệt hại lớn. Thực tế cho thay, các hành vi gây ONMTN thường gây thiệt hại trên diện rộng, với số lượng người bị thiệt hại không chỉ trong phạm vi một địa phương (cấp xã, cấp huyện, cấp tỉnh) mà trong phạm vi thuộc dòng chảy của con sông, dòng hải lưu.
Điều này dẫn đến khó khăn cho việc xác định thiệt hại, giám định thiệt hại và liên quan đến nhiều cơ quan có thâm quyền khác nhau. Vì vậy, việc xách định trách nhiệm pháp lý, đặc biệt là trách nhiệm BTTH do hành vi làm ONMTN thường tốn kém, phức tạp, đòi hỏi tính chuyên môn và khoa học công nghệ cao. 11 Thứ năm, hành vi làm ONMTN trong nhiều trường hợp được thực hiện bởi nhiều chủ thé. Do hiện nay các khu, cụm công nghiệp của Việt Nam đều được hình thành quanh lưu vực các con sông lớn, gần biển.
Điều này vừa tạo ra thuận lợi cho các doanh nghiệp trong việc vận tải hàng hóa, sử dụng nguồn tài nguyên nước, cũng đồng thời là khu vực mà các cơ sở sản xuất kinh doanh, các DN trì hoãn việc đầu tư hệ thống xử lý nước thải mà xả thải thăng ra môi trường nước qua các hệ thống cống thoát nước. Khi có thiệt hại xảy ra cho các cá nhân, tổ chức hoặc cho môi trường nước thường là khi hành vi làm ONMTN đã diễn ra trong thời gian dai và được thực hiện bởi nhiều chủ kinh doanh quanh lưu vực sông. Điều này tác động đến việc xác định “tỷ lệ” của thiệt hại do hành vi làm ONMTN được thực hiện bởi nhiều chủ thé. Nếu không xác định được thì trách nhiệm của các chủ thể là như nhau.
Khái quát chung về trách nhiệm bồi thường thiệt hại do hành vi làm ô nhiễm môi trường nước 1. Khái niệm và đặc điểm về trách nhiệm bồi thường thiệt hại do hành vi lam 6 nhiễm môi trường nước 1. Khái niệm trách nhiệm bôi thường thiệt hại do hành vi làm ô nhiễm môi trường nước Trách nhiệm BTTH do hành vi làm ONMTN là một loại trách nhiệm BTTH ngoài hợp đồng [22, tr.