Chương 1. Cơ sở khoa học về công tác Kiểm soát chi vốn đầu tư x y dựng cơ bản từ Ng n sách Nhà nước qua Kho bạc Nhà nước Chương 2. Thực trạng công tác Kiểm soát chi vốn đầu tư x y dựng cơ bản từ Ng n sách Nhà nước qua Kho bạc Nhà nước tỉnh Thừa Thiên Huế Chương 3. Giải pháp hoàn thiện công tác Kiểm soát chi vốn đầu tư x y dựng cơ bản từ Ng n sách Nhà nước qua Kho bạc Nhà nước Thừa Thiên Huế 5 CHƢƠNG 1.
CƠ SỞ KHOA HỌC VỀ KIỂM SOÁT CHI VỐN ĐẦU TƢ XÂY DỰNG CƠ BẢN TỪ NGÂN SÁCH NHÀ NƢỚC QUA KHO BẠC NHÀ NƢỚC 1. MỘT SỐ KHÁI NIỆM LIÊN QUAN VÀ VAI TRÒ KIỂM SOÁT CHI VỐN ĐẦU TƢ XÂY DỰNG CƠ BẢN TỪ NGÂN SÁCH NHÀ NƢỚC 1. Khái niệm về vốn Từ điển kinh tế hiện đại có giải thích: "Capital - tƣ bản/vốn: một từ d ng để chỉ một yếu tố sản xuất do hệ thống kinh tế tạo ra. Hàng hoá tƣ liệu vốn là hàng hoá đƣợc sản xuất để sử dụng nhƣ yếu tố đầu vào cho quá trình sản xuất sau.
Vì vậy, tƣ bản này có thể phân biệt đƣợc với đất đai và sức lao động, những thứ không đƣợc coi là do hệ thống kinh tế tạo ra" [1]. Có quan niệm cho rằng vốn có nghĩa là nguồn lực cho sản xuất. Muốn tiến hành tái sản xuất cần chi phí về đất đai, tài chính (vốn) và lao động. Ngƣời ta thƣờng nói: "Lao động là vốn quý".
Nhƣng sức lao động chỉ trở thành vốn khi nó đƣợc sử dụng để sản xuất ra các yếu tố đầu vào cho quá trình tái sản xuất. Vậy vốn là biểu hiện bằng tiền tất cả các nguồn lực đã bỏ ra để đầu tƣ. Các nguồn lực có thể là của cải vật chất, là tài nguyên thiên nhiên, là sức lao động, là các tài sản vật chất khác. Khái niệm về vốn đầu tƣ xây dựng cơ bản Tuỳ theo phạm vi nghiên cứu mà hình thành nên những khái niệm khác nhau về đầu tƣ và vốn đầu tƣ.
Với mỗi phạm vi đầu tƣ lại có một loại vốn đầu tƣ tƣơng ứng [4]. Đầu tƣ theo nghĩa rộng có nghĩa là sự hy sinh các nguồn lực ở hiện tại để tiến hành các hoạt động nào đó nhằm đem lại cho nhà đầu tƣ các kết quả nhất định trong tƣơng lai mà kết quả này thƣờng phải lớn hơn các chi phí về các nguồn lực đã bỏ ra. Nguồn lực bỏ ra có thể là tiền, là tài nguyên thiên nhiên, là tài sản vật chất khác hoặc sức lao động. Sự biểu hiện bằng tiền tất cả các nguồn lực đã bỏ ra trên đây gọi là vốn đầu tƣ.
Những kết quả của đầu tƣ đem lại là sự tăng thêm tài sản tài chính (tiền vốn), tài sản vật chất (nhà máy, đƣờng xá, của cải vật chất khác), tài sản trí tuệ 6 (trình độ văn hoá, chuyên môn, khoa học kỹ thuật,. của ngƣời dân). Các kết quả đã đạt đƣợc của đầu tƣ đem lại góp phần tăng thêm năng lực sản xuất của xã hội. Theo nghĩa hẹp, đầu tƣ chỉ bao gồm những hoạt động sử dụng các nguồn lực ở hiện tại nhằm đem lại cho nhà đầu tƣ hoặc xã hội kết quả trong tƣơng lai lớn hơn các nguồn lực đã sử dụng để đạt đƣợc kết quả đó.
Nhƣ vậy, nếu xem xét trên giác độ đầu tƣ thì đầu tƣ là những hoạt động sử dụng các nguồn lực hiện có để làm tăng thêm các tài s ản vật chất, nguồn nhân lực và trí tuệ để cải thiện mức sống của dân cƣ ho ặc để duy trì khả năng hoạt động của các tài sản và nguồn lực sẵn có. Tƣơng ứng với phạm vi đầu tƣ này có phạm trù vốn đầu tƣ xây dựng cơ bản. Về thực chất vốn đầu tƣ xây dựng cơ bản chỉ bao gồm những chi phí làm tăng thêm giá trị tài sản cố định. Nhƣ vậy, vốn đầu tƣ xây dựng cơ bản gồm 2 bộ phận hợp thành: vốn đầu tƣ để mua sắm hoặc xây dựng mới TSCĐ mà ta quen gọi là vốn đầu tƣ xây dựng cơ bản và chi phí cho sửa chữa lớn TSCĐ.
Về nội dung chỉ tiêu: vốn đầu tƣ xây dựng cơ bản và chi phí cho sửa chữa lớn TSCĐ bao gồm chi phí cho việc thăm dò, khảo sát và quy ho ạch xây dựng chuẩn bị cho việc đầu tƣ; chi phí thiết kế công trình; chi phí xây dựng; chi phí mua sắm, lắp đặt máy móc, thiết bị và những chi phí khác thuộc nguồn vốn đầu tƣ XDCB; chi phí cho việc sửa chữa lớn nhà cửa, vật kiến trúc và máy móc thiết bị, sửa chữa lớn các TSCĐ khác. Vốn đầu tƣ xây dựng cơ bản là một thuật ngữ đã đƣợc sử dụng khá quen thuộc ở nƣớc ta với nội dung bao hàm những chi phí bằng tiền để xây dựng mới, mở rộng, xây dựng lại hoặc khôi phục năng lực sản xuất của tài sản cố định trong nền kinh tế. Khái niệm chi đầu tƣ xây dựng cơ bản từ ngân sách nhà nƣớc - "Chi ngân sách Nhà nƣớc bao gồm: các khoản chi phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh, bảo đảm hoạt động của bộ máy Nhà nƣớc; chi trả nợ của Nhà nƣớc; chi viện trợ và các khoản chi khác theo quy định của pháp luật" [16]. Nhƣ vậy, chi đầu tƣ XDCB từ nguồn vốn NSNN là khoản chi tài chính nhà nƣớc đƣợc đầu tƣ cho các công trình thuộc kết cấu hạ tầng (cầu cống, bến cảng, sân bay, hệ thống thuỷ lợi, năng lƣợng, viễn thông…) các công trình kinh tế có tính chất 7 chiến lƣợc, các công trình và dự án phát triển văn hóa xã hội trọng điểm, phúc lợi công cộng, các công trình của các doanh nghiệp Nhà nƣớc đầu tƣ theo kế hoạch đƣợc duyệt, các dự án quy hoạch vùng và lãnh thổ, nhằm hình thành thế cân đối cho nền kinh tế, tạo ra tiền đề kích thích qúa trình vận động vốn của doanh nghiệp và tƣ nhân nhằm mục đích tăng trƣởng kinh tế và nâng cao đời sống vật chất, tinh thần cho ngƣời dân.
Thực chất chi đầu tƣ xây dựng cơ bản của NSNN là quá trình phân phối và sử dụng một phần vốn tiền tệ từ quỹ NSNN để đầu tƣ tái sản xuất tài sản cố định nhằm từng bƣớc tăng cƣờng, hoàn thiện và hiện đại hóa cơ sở vật chất kỹ thuật và năng lực sản xuất phục vụ của nền kinh tế quốc dân 1. Khái niệm về Kiểm soát chi vốn đầu tƣ xây dựng cơ bản Kiểm soát là bao gồm các hoạt động giám sát quá trình thực hiện, so sánh với các tiêu chuẩn và chọn ra cách thức đúng. Bản chất cơ bản của kiểm soát còn đƣợc hiểu rõ hơn trong các giai đoạn chủ yếu của toàn bộ quá trình quản lý từ việc lập kế hoạch và xây dựng các mục tiêu có liên quan [3]. Do vậy kiểm soát không thể tồn tại nếu không có các mục tiêu.
Chức năng kiểm soát tồn tại nhƣ một “khâu” độc lập của quá trình quản lý nhƣng đồng thời lại là một bộ phận chủ yếu của quá trình đó. Chức năng này đƣợc thể hiện khác nhau tùy thuộc vào cơ chế kinh tế, cấp quản lý và loại hình cụ thể. Các loại hình kiểm soát: - Căn cứ theo nội dung của kiểm soát: kiểm soát hành chính và kiểm soát kế toán. - Căn cứ vào mục tiêu của kiểm soát: kiểm soát ngăn ngừa, kiểm soát phát hiện và kiểm soát điều chỉnh.
- Căn cứ vào thời điểm thực hiện trong quá trình tác nghiệp: kiểm soát trƣớc, kiểm soát hiện hành và kiểm soát sau. Kiểm soát chi là công cụ quản lý để đảm bảo đồng tiền bỏ ra hợp lý nhất, tiết kiệm nhất với mục đích cuối cùng là sử dụng tối ƣu hiệu quả sử dụng nguồn vốn. Vì vậy để đảm bảo sử dụng nguồn vốn đầu tƣ hiệu quả thì công tác kiểm soát đƣợc thực hiện thƣờng xuyên, liên tục trong suốt quá trình đ ầu tƣ xây dựng dự án, từ giai 8 đoạn chuẩn bị đầu tƣ, thực hiện đầu tƣ đến kết thúc đầu tƣ đƣa dự án hoàn thành vào khai thác sử dụng. Vậy Kiểm soát chivốn đầu tư XDCB là việc kiểm tra, xem xét các căn cứ, điều kiện cần và đủ theo quy định của Nhà nước để xuất quỹ NSNN chi trả theo yêu cầu của chủ đầu tư các khoản kinh phí thực hiện dự án, đồng thời phát hiện và ngăn chặn các khoản chi trái với quy định hiện hành.Phân loại chi đầu tƣ xây dựng cơ bản theo yêu cầu nhiệm vụ của Kiểm soát chi Theo yêu cầu nhiệm vụ Kiểm soát chi, có thể phân loại chi đầu tƣ XDCB theo một số tiêu thức sau [16]: a.Theo cấu thành vốn đầu tư: - Chi về xây dựng: Là những khoản chi để xây dựng các công trình kiến trúc trong các ngành kinh tế quốc dân, nhƣ nhà máy, hầm mỏ, bệnh viện, trƣờng học,.
kể cả giá trị và chi phí lắp đặt các thiết bị gắn với công trình xây dựng nhƣ hệ thống cấp thoát nƣớc, hệ thống chiếu sáng. - Chi về lắp đặt: Là những khoản chi để lắp đặt các thiết bị dây chuyền công nghệ. Nhƣ vậy, các chi phí về tiền công lắp đặt, chi phí về vật liệu phụ và chi phí chạy thử có tải và không tải máy móc thiết bị hợp thành chi phí về lắp đặt. - Chi về mua sắm máy móc thiết bị: Là những khoản chi hợp thành giá trị của máy móc thiết bị mua sắm, nhƣ chi phí giao dịch; giá trị máy móc thiết bị ghi trên hoá đơn; chi phí vận chuyển, bốc dỡ,.
Chi về mua sắm máy móc thiết bị có ý nghĩa quyết định đến việc làm tăng thêm năng lực sản xuất của nền kinh tế quốc dân. Trong điều kiện phát triển nhƣ vũ bão của khoa học, công nghệ hiện nay, khoản chi này ngày càng tăng lên trong tổng chi đầu tƣ XDCB. - Chi xây dựng cơ bản khác: Là những khoản chi nhằm đảm bảo điều kiện cho quá trình xây dựng các công trình, nhƣ chi phí chuẩn bị đầu tƣ, chi phí khảo sát thiết kế, chi phí xây dựng đƣờng giao thông, lán trại tạm thời phục vụ thi công, phi phí đền b đất đai, hoa màu trên mặt bằng thực hiện dự án, chi cho bộ máy quản lý của đơn vị chủ đầu tƣ, chi phí thuê chuyên gia, tƣ vấn, giám sát xây dựng công trình,. Khoản chi này thƣờng chiếm tỷ trọng nhỏ trong chi đầu tƣ XDCB.