Tổng quan luận án
Luận án tiến sĩ chuyên ngành Việt Nam học (mã số 62220113) với đề tài "Không gian lịch sử - văn hóa vùng đất Mô Xoài" được nghiên cứu sinh Đặng Ngọc Hà thực hiện tại Viện Việt Nam học và Khoa học phát triển, Đại học Quốc gia Hà Nội dưới sự hướng dẫn khoa học của GS.TS Nguyễn Quang Ngọc, bảo vệ năm 2021.
Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu
Vùng đất Mô Xoài xưa – tương ứng về cơ bản với phần đất liền của tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu ngày nay – là địa bàn được khai phá sớm nhất ở Nam Bộ dưới thời các chúa Nguyễn từ thế kỷ XVII. Tuy nhiên, trong nhận thức học thuật, địa danh dân gian này dần bị phai nhạt và còn nhiều khoảng trống:
- Các nghiên cứu trước đây chủ yếu tiếp cận vùng đất theo từng khía cạnh đơn lẻ như lịch sử, kinh tế, dân tộc, hành chính hoặc địa lý tự nhiên; chưa có công trình nào nghiên cứu một cách hệ thống theo hướng khu vực học với cách tiếp cận không gian lịch sử - văn hóa để tích hợp đầy đủ điều kiện tự nhiên, chủ nhân cư dân, tiến trình lịch sử và đời sống văn hóa.
- Vị trí địa chiến lược và vai trò tiền đồn mở cõi của Mô Xoài trong tiến trình người Việt tiến về phương Nam xác lập chủ quyền miền Gia Định chưa được phân tích toàn diện trong mối tương tác giữa tính biển và tính lục địa, cũng như đóng góp vào cuộc thảo luận học thuật về "cái nhìn từ biển" hay "cái nhìn từ vùng cao".
- Trên bình diện thực tiễn, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu hiện nay là một trung tâm phát triển kinh tế năng động nhưng cần luận cứ khoa học làm rõ tính kế thừa và biến đổi từ nền tảng không gian lịch sử - văn hóa truyền thống phục vụ phát triển bền vững.
Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục tiêu nghiên cứu của luận án gồm hai nội dung chính:
- Nghiên cứu các hợp phần/thành tố cấu thành nhằm nhận diện đặc trưng của vùng đất Mô Xoài với tư cách là một không gian lịch sử - văn hóa.
- Tìm hiểu tính liên tục và sự biến đổi của không gian lịch sử - văn hóa vùng đất Mô Xoài trong quá trình phát triển hiện nay của tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.
Năm nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể:
- Xây dựng hệ cơ sở dữ liệu nghiên cứu tổng hợp từ các nguồn tư liệu thư tịch Hán Nôm, địa bạ, bản đồ cổ, tài liệu lưu trữ và thống kê.
- Nghiên cứu và vận dụng cơ sở lý thuyết về không gian lịch sử - văn hóa định hướng khung phân tích.
- Khảo sát cụ thể từng hợp phần cấu thành: cảnh quan tự nhiên, các lớp dân cư, diện mạo lịch sử và diện mạo văn hóa.
- Phân tích tổng hợp, đánh giá mối quan hệ tương tác giữa các hợp phần để nhận diện hệ thống đặc trưng không gian lịch sử - văn hóa Mô Xoài.
- Phân tích các vấn đề cơ bản trong thực tiễn phát triển hiện nay của tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu để chỉ ra những yếu tố mới và tính kế thừa truyền thống.
Câu hỏi và giả thuyết nghiên cứu
Ba câu hỏi nghiên cứu được đặt ra:
- Không gian lịch sử - văn hóa vùng đất Mô Xoài bao gồm các hợp phần/thành tố gì, nội dung của chúng như thế nào?
- Đặc trưng của không gian lịch sử - văn hóa vùng đất Mô Xoài là gì?
- Sự liên tục của không gian lịch sử - văn hóa vùng đất Mô Xoài còn hiện diện ở tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu với mức độ ra sao?
Ba giả thuyết nghiên cứu tương ứng:
- Mô Xoài là một không gian lịch sử - văn hóa mang những đặc trưng riêng biệt.
- Các đặc trưng đó được kiến tạo từ sự hòa quyện trong mối quan hệ tổng hợp của bốn hợp phần/thành tố: tự nhiên, con người, lịch sử và văn hóa.
- Không gian lịch sử - văn hóa vùng đất Mô Xoài duy trì tính liên tục đến ngày nay, song song với sự xuất hiện của các yếu tố mới trong bối cảnh phát triển của tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Không gian lịch sử - văn hóa của vùng đất Mô Xoài.
- Phạm vi không gian: Vùng đất Mô Xoài, tương đương phần đất liền tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu (gồm thành phố Bà Rịa, thị xã Phú Mỹ, các huyện Long Điền, Đất Đỏ, Xuyên Mộc, Châu Đức; thành phố Vũng Tàu là không gian mở rộng; huyện đảo Côn Đảo được xem xét trong mối liên hệ liên vùng). Vùng lõi/trung tâm là khu vực 4 làng cổ Long Hương, Phước Lễ, Long Kiên, Long Xuyên (nay thuộc thành phố Bà Rịa). Giới hạn tự nhiên: phía Bắc giáp vùng chuyển tiếp Nam Tây Nguyên và Nam Trung Bộ (tỉnh Đồng Nai và Bình Thuận); phía Đông và phía Nam giáp Biển Đông; phía Tây giáp sông Thị Vải (thế kỷ XIX gọi là sông Thị Vãi).
- Phạm vi thời gian: Khảo sát từ khởi nguồn (giai đoạn tiền - sơ sử) đến đầu thế kỷ XXI, trong đó trọng tâm nghiên cứu là giai đoạn từ thế kỷ XVII đến đầu thế kỷ XXI (thế kỷ XVII - XVIII: hình thành; thế kỷ XIX: định hình căn bản; nửa cuối thế kỷ XIX - 1945: cận đại hóa dưới thời Pháp thuộc; sau 1945 đến nay: biến đổi hiện đại).
- Phạm vi nội dung: Tập trung vào 4 hợp phần (cảnh quan tự nhiên, các lớp dân cư, diện mạo lịch sử, diện mạo văn hóa) và hệ thống các đặc trưng tổng thể cùng mối liên hệ kế thừa - biến đổi trong thực tiễn đương đại.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Tác giả luận án phân loại và điểm luận các công trình đi trước theo hai nhóm chính:
Nhóm nghiên cứu tổng thể
- Thời kỳ thuộc Pháp và trước năm 1975: Chuyên khảo tiếng Pháp đầu tiên của Hội nghiên cứu Đông Dương Monographie de la Province de Bà - Rịa et de la Ville du Cap Saint - Jacques (1902); chuyên khảo địa chí của Lê Thanh Tường Monographie de la province de Baria (1950); công trình Địa phương chí tỉnh Phước Tuy (1961) của chính quyền tỉnh Phước Tuy; Địa phương chí 1968 của thị xã Vũng Tàu; biên khảo Vũng Tàu xưa và nay (1970) của Huỳnh Minh; bộ sách Biên Hòa sử lược toàn biên (1971/2014) của Lương Văn Lựu.
- Giai đoạn sau năm 1975: Tập hợp nghiên cứu Bà Rịa - Vũng Tàu đất và người (1999) do Nguyễn Thị Tuyết chủ biên; công trình Địa chí Bà Rịa - Vũng Tàu (2005) do Thạch Phương và Nguyễn Trọng Minh chủ biên; kỷ yếu hội thảo khoa học Từ xứ Mô Xoài xưa đến Bà Rịa - Vũng Tàu ngày nay (2012) do UBND tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu tổ chức; bộ sách Đề án khoa học xã hội cấp nhà nước Vùng đất Nam Bộ - Quá trình hình thành và phát triển (2017) do Phan Huy Lê chủ biên gồm 2 tập tổng quan và 10 tập chuyên khảo.
Nhóm nghiên cứu chuyên ngành
- Địa lý và cảnh quan: Các công trình tổng quan của Lê Bá Thảo (Thiên nhiên Việt Nam, 1977), Vũ Tự Lập (Địa lí tự nhiên Việt Nam, 2012; Tập bản đồ địa lý địa phương Việt Nam, 1996); luận án tiến sĩ của Ngô Văn Phong (2001) về cảnh quan ven biển; sách Bản đảo Vũng Tàu (1974) của Liêu Kim Sanh; các báo cáo địa chất thủy văn của Liên đoàn Địa chất thủy văn miền Nam, Phân viện Vật lý tại TP. Hồ Chí Minh, Viện Kỹ thuật nhiệt đới và Bảo vệ môi trường.
- Lịch sử và khảo cổ học: Các bản dịch và khảo cứu thời Pháp thuộc của Par G. Aubaret (Histoire et description de la basse cochinchine, 1863), H. Aurillac (1870), Maybon và Henri Russier (1909), L. Faque (1910); ba công trình của Trương Vĩnh Ký (Petit cours de géographie de la basse - Cochinchine 1875, Cours D’histoire Annamite 1877, Souvenirs historiques sur Saigon et ses environs 1885); chuyên khảo Việt sử xứ Đàng Trong (1967) của Phan Khoang; các bài viết trên Tập san Sử Địa của Lê Thọ Xuân (1969) và Phù Lang Trương Bá Phát (1970); sách Đất nước Việt Nam qua các đời (1964) của Đào Duy Anh; các công trình khảo cổ học của Phạm Đức Mạnh (Di tích khảo cổ học Bưng Bạc, 1996), Bùi Chí Hoàng, Phạm Chí Thân, Nguyễn Khánh Trung Kiên (Khảo cổ học Bà Rịa - Vũng Tàu từ tiền sử đến sơ sử, 2012), luận án tiến sĩ của Trương Đắc Chiến về di tích Giồng Lớn (2017); bài viết của Nguyễn Đình Thống (2009).
- Kinh tế, văn hóa và xã hội: Các công trình về ngư dân của Trần Hồng Liên (2004), Phan Thị Yến Tuyết (2016); nghiên cứu địa danh của Vương Hồng Sển (1999), Bùi Đức Tịnh (1999), Lê Trung Hoa (2011); nghiên cứu lễ hội, di tích và văn tự Hán Nôm của Bảo tàng Bà Rịa - Vũng Tàu (2004), Đinh Văn Hạnh và Phan An (2004), Phạm Chí Thân (2014).
Khoảng trống luận án lựa chọn giải quyết
Các công trình trước đây cung cấp nguồn dữ liệu phong phú nhưng tồn tại một số hạn chế: hoặc chỉ mô tả địa chí tĩnh, hoặc tiếp cận lịch sử thuần túy, hoặc khu biệt phạm vi Mô Xoài ở diện hẹp (như Phù Lang Trương Bá Phát chỉ đồng nhất Mô Xoài với một làng Long Hương). Chưa có công trình nào tích hợp liên ngành theo lý thuyết không gian lịch sử - văn hóa để làm rõ cấu trúc 4 hợp phần, vị trí địa chiến lược mở cõi, tính cửa ngõ giao thông liên hoàn đường thủy - đường bộ, quan hệ sở hữu ruộng đất vi mô qua địa bạ 1836, cùng tính kế thừa không gian trong sự phát triển đương đại của tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Khung lý thuyết và khái niệm
Luận án vận dụng lý thuyết khu vực học (Area Studies) kết hợp lý thuyết về không gian văn hóa, vùng văn hóa và không gian xã hội. Khái niệm "Không gian lịch sử - văn hóa" được xác định là một cấu trúc động tích hợp đa chiều, bao gồm 4 hợp phần/thành tố nền tảng:
- Cảnh quan tự nhiên: Không gian vật lý nền tảng, tạo dựng môi trường sinh tồn và tài nguyên sinh kế.
- Các lớp dân cư: Chủ thể con người sáng tạo và tương tác xã hội qua nhiều giai đoạn lịch sử.
- Diện mạo lịch sử: Quá trình hình thành, xác lập chủ quyền, các biến cố chính trị - quân sự định hình vùng đất.
- Diện mạo văn hóa: Văn hóa sản xuất (nông nghiệp, muối, biển), thương mại, tổ chức hành chính, thôn làng, địa danh và đời sống tâm linh, lễ hội.
Phương pháp nghiên cứu thực tế
Luận án áp dụng phương pháp nghiên cứu định tính dựa trên tiếp cận liên ngành Việt Nam học:
- Phương pháp phân tích và phê phán sử liệu: Khai thác, xử lý các nguồn thư tịch Hán Nôm kinh điển (Phủ biên tạp lục, Gia Định thành thông chí, Đại Nam thực lục, Hoàng Việt nhất thống dư địa chí, Khâm định Đại Nam hội điển sự lệ).
- Phương pháp văn bản học và bóc tách địa bạ: Khai thác vi mô từng tờ địa bạ lập năm Minh Mệnh thứ 17 (1836) của các làng thuộc huyện Phước An, phủ Phước Tuy để phân tích quy mô điền thổ, cơ cấu sở hữu tư nhân, chủ ruộng nữ, sở hữu dòng họ và phụ canh.
- Phương pháp bản đồ học và không gian: Đối chiếu hệ thống bản đồ qua các thời kỳ (Phước Tuy phủ đồ 1838, An Nam đại quốc họa đồ 1838, bản đồ địa hạt Bà Rịa Plan topographique de L’arrondissement de Baria 1881, bản đồ quân sự và viễn thám hiện đại) để định vị ranh giới, dịch trạm, đồn lũy và mạng lưới giao thông thủy - bộ.
- Phương pháp thống kê lịch sử và xử lý số liệu thứ cấp: Thu thập, chuẩn hóa các bảng thống kê dân số, đinh điền, cơ cấu tộc người, cơ cấu kinh tế từ thời thuộc Pháp (1901, 1936), thời kỳ 1954-1975 và Niên giám thống kê tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu giai đoạn 2010-2019.
Nguồn tư liệu nghiên cứu
- Nguồn tư liệu Hán Nôm và thư tịch cổ: Địa bạ năm 1836 của các thôn làng huyện Phước An; các bộ chính sử triều Nguyễn và tác phẩm địa chí kinh điển.
- Nguồn tư liệu lưu trữ: Tài liệu hành chính, dân số, kinh tế thời Pháp thuộc và thời kỳ Việt Nam Cộng hòa tại Trung tâm Lưu trữ Quốc gia.
- Nguồn tư liệu khảo cổ học: Báo cáo khai quật tại Bưng Bạc, Bưng Thơm, Giồng Lớn, Gò Cá Sỏi, Gò Cây Me, Vòng thành Đá Trắng.
- Nguồn số liệu thống kê hiện đại: Niên giám thống kê tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu các năm 2017, 2019 và số liệu Tổng điều tra dân số năm 2009, 2019.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Tổng quan địa bàn nghiên cứu, lịch sử nghiên cứu vấn đề, nguồn tài liệu, cơ sở lí luận và phương pháp nghiên cứu
Chương 1 thiết lập khung lý thuyết, lịch sử nghiên cứu và khảo sát hai hợp phần nền tảng là cảnh quan tự nhiên và các lớp dân cư:
- Phạm vi địa bàn: Xác định Mô Xoài là danh xưng dân gian từ thế kỷ XVII. Phân tích địa bạ năm 1836 khẳng định 4 thôn thuộc tổng An Phú Hạ mang xuất xứ "xứ Mô Xoài" gồm Long Hương, Phước Lễ, Long Kiên và Long Xuyên. Vùng trung tâm này mở rộng tương đương toàn bộ không gian hành chính huyện Phước An thời Nguyễn (nay là phần đất liền tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu).
- Cảnh quan tự nhiên: Địa hình chuyển tiếp gồm 3 dạng chính (miền đồi núi thấp, bậc thềm phù sa cổ, đồng bằng ven biển) với 9 nhóm đất (82.539 ha đất đỏ vàng, 19.463 ha đất phèn, 11.133 ha đất đen, 8.198 ha đất phù sa). Khí hậu nội chí tuyến với lượng mưa trung bình 1.100 - 1.300 mm/năm và trên 2.000 giờ nắng/năm.
| Chỉ tiêu tự nhiên |
Năm 2010 |
Năm 2014 |
Năm 2016 |
Năm 2018 |
Năm 2019 |
| Nhiệt độ trung bình (°C) |
28,14 |
27,79 |
28,16 |
27,94 |
28,17 |
| Số giờ nắng (giờ) |
2.502,7 |
2.569,6 |
2.457,7 |
2.593,2 |
2.651,3 |
| Lượng mưa (mm) |
1.144,3 |
1.258,8 |
1.298,2 |
1.171,9 |
1.116,9 |
| Độ ẩm trung bình (%) |
79,58 |
77,71 |
78,27 |
77,96 |
76,72 |
- Hệ thống liên hoàn sông - biển - lục địa: Mạng lưới 4 hệ thống sông chính: sông Thị Vải (dài 30 km, lòng sâu làm ranh giới phía Tây), sông Dinh/sông Mô Xoài (dài 35 km, lưu vực trên 500 km²), sông Ray/sông Xích Lam và sông Bà Đáp; hai cửa biển trọng yếu là Cửa Lấp (Tắc Khái) và Cửa Lộc An (Xích Lam); vịnh Gành Rái rộng 50 km² án ngữ cửa ngõ đường thủy vào Gia Định.
- Các lớp dân cư tiền - sơ sử và bản địa: Dấu tích định cư liên tục qua các di tích khảo cổ học:
| Tên di tích khảo cổ |
Địa điểm hành chính |
Niên đại xác định |
| Gò Cá Sỏi |
Thị xã Phú Mỹ |
3.000 năm cách ngày nay |
| Gò Cây Me |
Thị xã Phú Mỹ |
3.000 năm cách ngày nay |
| Bưng Bạc |
Thành phố Bà Rịa |
2.500 năm cách ngày nay |
| Bưng Thơm |
Huyện Đất Đỏ |
2.500 năm cách ngày nay |
| Giồng Lớn |
Thành phố Vũng Tàu |
2.000 năm cách ngày nay |
Lớp cư dân tiền sử mang nhân chủng Indonésien thuộc ngữ hệ Mã Lai - Đa Đảo cổ; tiếp nối là cư dân tiểu quốc Mạ ("Mọi Bà Rịa"), người Chơ Ro và dấu tích Vòng thành Đá Trắng (thế kỷ XIV - XVII).
- Người Việt và các cộng đồng đến sau: Người Việt định cư từ thế kỷ XVII. Năm 1796, tổng Phước An có 751 đinh (~3.755 dân). Đến giữa thế kỷ XIX, dân số ước tính dưới 25.000 người. Thống kê năm 1901 cho thấy tỉnh Bà Rịa có 49.212 người, riêng tổng An Phú Hạ đạt 16.174 người (chiếm 32,9%). Năm 1936, dân số tỉnh đạt 59.390 người (tổng An Phú Thượng chiếm 25,0%, An Phú Hạ chiếm 21,3%).
| Thành phần dân cư tại thôn Phước Lễ (năm 1901) |
Số lượng (người) |
Tỉ lệ (%) |
| Người Hoa |
73 |
54,08 |
| Người Minh Hương |
23 |
17,04 |
| Người Pháp lai |
18 |
13,33 |
| Người Pháp |
12 |
8,89 |
| Người Campuchia (Khmer) |
4 |
2,96 |
| Người châu Á khác không rõ quốc tịch |
4 |
2,96 |
| Người Ấn Độ |
1 |
0,74 |
| Tổng cộng |
135 |
100,0 |
Chương 2: Diện mạo lịch sử
Chương 2 phục dựng tiến trình lịch sử và vị thế địa chính trị của Mô Xoài qua các thời kỳ:
- Khởi nguồn từ hai nền văn hóa Đồng Nai và Sa Huỳnh: Dấu tích khảo cổ khẳng định Mô Xoài là địa bàn giao thoa văn hóa tiền - sơ sử và là không gian cư trú của cư dân bản địa vùng ven biển Đông Nam Bộ.
- Vùng biên quan yếu giữa Chămpa và Chân Lạp: Sau thời kỳ Phù Nam và văn hóa Óc Eo, Mô Xoài trở thành vùng đệm tranh chấp ảnh hưởng giữa vương quốc Chămpa, tiểu quốc Mạ và Chân Lạp trước thế kỷ XVII.
- Vùng đất đầu tiên ở Nam Bộ được khai phá dưới thời các chúa Nguyễn: Sự kiện năm 1658 khi chúa Nguyễn đem quân đánh bại quân Chân Lạp tại Mô Xoài mở đầu việc xác lập chủ quyền của Đàng Trong tại Nam Bộ. Năm 1674, quân chúa Nguyễn dựng lũy Mô Xoài (lũy Phước Tứ) tạo bàn đạp tiến chiếm Sài Gòn. Luận án làm rõ tư tưởng chiến lược của Nguyễn Cư Trinh: muốn lập Gia Định tất phải mở xứ Mô Xoài trước để quy tụ quân dân rồi mới tiến sang Đồng Nai, Sài Gòn theo kế sách "tằm ăn dâu".
- Vị trí quân sự chiến lược: Mô Xoài là địa bàn đồn trú của đạo Mô Xoài (sau đổi là đạo Hưng Phước), đồn Phước Giang. Đây là chiến trường tranh chấp ác liệt giữa quân Tây Sơn và lực lượng Nguyễn Ánh cuối thế kỷ XVIII, cũng như địa bàn diễn ra các hoạt động quân sự trong cuộc nổi dậy Lê Văn Khôi đầu thế kỷ XIX.
- Cửa ngõ giao thông của Nam Bộ: Hình thành mạng lưới giao thông liên hoàn gồm đường sông (sông Dinh, sông Thị Vải, sông Cỏ May), đường biển (cửa Cần Giờ, vịnh Gành Rái, Cửa Lấp, Cửa Lộc An) và đường bộ (hệ thống dịch trạm Mô Xoài/Biên Long trên đường thiên lý nối kinh đô Huế với Nam Bộ).
Chương 3: Diện mạo văn hóa
Chương 3 khảo sát diện mạo văn hóa vật chất, tổ chức xã hội và văn hóa tinh thần:
- Khai thác biển và hoạt động thương mại: Hoạt động đánh bắt hải sản và đặc biệt là nghề sản xuất muối biển truyền thống quy mô lớn tại các vùng đất trũng ngập mặn (thống kê ruộng muối năm 1837; mạng lưới chợ phiên thế kỷ XIX kết nối vùng biển với vùng đồi núi nội địa).
- Tương tác sản xuất - xã hội qua tư liệu địa bạ năm 1836: Khảo cứu vi mô cơ cấu ruộng đất huyện Phước An cho thấy diện tích ruộng đất tư nhân chiếm ưu thế tuyệt đối. Phân tích chi tiết sự phân bố chủ ruộng tư nhân, quyền sở hữu của phụ nữ, cơ cấu sở hữu dòng họ và tầng lớp chủ ruộng phụ canh di động từ các địa phương lân cận.
- Tổ chức không gian hành chính, thôn làng và công cộng: Khảo sát sự biến đổi mạng lưới làng xã từ các thôn làng huyện Phước An đầu thế kỷ XIX, năm 1836, hạt tham biện Bà Rịa cuối thế kỷ XIX đến tỉnh Bà Rịa đầu thế kỷ XX.
- Hệ thống địa danh học lịch sử: Phân loại và giải mã nguồn gốc địa danh phản ánh cảnh quan địa hình tự nhiên (núi, giồng, bưng), yếu tố sông nước, biển đảo, các tiền tố ước vọng "Phước", "Long" (Phước Lễ, Phước Hải, Long Hương, Long Điền) và các địa danh gắn với văn hóa sản xuất nông nghiệp, diêm nghiệp.
Chương 4: Đặc trưng không gian lịch sử - văn hóa vùng đất Mô Xoài
Chương 4 tổng hợp các phát hiện nghiên cứu thành hệ thống đặc trưng và khảo sát tính liên tục trong thực tiễn:
- Hệ thống các đặc trưng cơ bản:
- Cảnh quan tự nhiên đa dạng: Tích hợp đồi núi thấp, thềm phù sa cổ, đầm lầy và dải đồng bằng cồn cát ven biển.
- Vị thế địa - chính trị trọng yếu: Cửa ngõ án ngữ tuyến hàng hải, tiền đồn quân sự và bàn đạp mở cõi Nam Bộ.
- Tiến trình phát triển chịu sự chi phối mạnh của cả tính biển và tính lục địa: Sự gắn kết hữu cơ giữa kinh tế nông nghiệp phù sa cổ với kinh tế biển (muối, thủy sản, thương cảng).
- Tính đa tầng về lịch sử và dân cư: Chồng xếp các lớp cư dân tiền sử, bản địa (Mạ, Chơ Ro), người Việt, người Hoa, người Chăm, người Pháp.
- Tính đa dạng về văn hóa với nhiều lớp không gian và tiểu vùng văn hóa: Cấu trúc 3 lớp không gian (lõi trung tâm phù sa cổ, vành đai ven biển, vùng đồi núi phía Bắc) và các tiểu vùng văn hóa đặc thù.
- Truyền thống và biến đổi trong bối cảnh tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu hiện nay:
- Biến đổi cảnh quan và sử dụng đất: Chuyển dịch mạnh từ đất nông nghiệp sang đất công nghiệp, dịch vụ và đô thị.
- Tính biển quyết định xu thế phát triển: Kinh tế biển giữ vai trò chủ đạo thông qua ngành dầu khí, hệ thống cảng biển nước sâu Cái Mép - Thị Vải, dịch vụ logistics và đội tàu khai thác hải sản xa bờ.
- Kế thừa không gian hành chính: Sự tiếp nối trực tiếp địa giới và tên gọi các đơn vị hành chính từ thế kỷ XIX (Bà Rịa, Long Điền, Đất Đỏ, Xuyên Mộc, Châu Đức).
- Biến động dân cư và tôn giáo: Tăng trưởng dân số cơ học nhanh chóng qua các làn sóng di dân phát triển dầu khí và đô thị hóa; cơ cấu tôn giáo đa dạng (Công giáo, Phật giáo, Cao Đài).
- Tài nguyên văn hóa và di sản du lịch: Phát huy hệ thống di tích lịch sử quốc gia, di sản văn hóa phi vật thể ven biển phục vụ phát triển du lịch biển đảo.
Kết quả và những đóng góp mới
Đóng góp mới về lý luận và cách tiếp cận
- Luận án là công trình nghiên cứu đầu tiên vận dụng nhất quán hướng tiếp cận không gian lịch sử - văn hóa của khu vực học vào một địa bàn cụ thể ở Nam Bộ.
- Xác lập khung phân tích liên ngành tích hợp 4 hợp phần (tự nhiên, cư dân, lịch sử, văn hóa) để nhận diện bản sắc và cấu trúc động của một tiểu vùng văn hóa trong mối tương tác giữa tính biển và tính lục địa.
Đóng góp mới về nội dung khoa học
- Chứng minh và định vị không gian vùng đất Mô Xoài xưa tương đương phần đất liền tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu ngày nay, trong đó xác định vùng lõi trung tâm gồm 4 làng cổ (Long Hương, Phước Lễ, Long Kiên, Long Xuyên) trên địa bàn thành phố Bà Rịa.
- Làm rõ cơ sở địa chiến lược của việc chúa Nguyễn lựa chọn Mô Xoài làm điểm khởi đầu cho toàn bộ tiến trình khai phá và xác lập chủ quyền tại Nam Bộ từ năm 1658 theo chiến lược "tằm ăn dâu".
- Khai thác sâu sắc vai trò của mạng lưới giao thông liên hoàn thủy - bộ (sông Dinh, sông Thị Vải, Cửa Lấp, trạm Mô Xoài) tạo nên tính chất cửa ngõ quân sự và thương mại của Nam Bộ trong các thế kỷ XVII - XIX.
- Giải mã cơ cấu kinh tế - xã hội vi mô qua tài liệu địa bạ năm 1836, chỉ ra đặc điểm sở hữu tư nhân chiếm ưu thế, vai trò sở hữu của phụ nữ và nghề sản xuất muối biển truyền thống.
Đóng góp mới về nguồn tư liệu
- Khai thác trực tiếp và phân tích chi tiết từng văn bản địa bạ năm Minh Mệnh thứ 17 (1836) của huyện Phước An, vượt qua mức độ thống kê diện tích tổng thể của các công trình công bố trước đó.
- Bổ sung và đối chiếu các nguồn bản đồ lịch sử quý hiếm (Phước Tuy phủ đồ 1838, An Nam đại quốc họa đồ 1838 của Taberd, bản đồ địa hạt Bà Rịa năm 1881 của Pháp).
- Khai thác hệ thống hồ sơ lưu trữ hành chính, thống kê dân số, tôn giáo thời Pháp thuộc và thời kỳ 1954-1975 tại các Trung tâm Lưu trữ Quốc gia.
Kiến nghị và giải pháp đề xuất
- Vận dụng các đặc trưng không gian lịch sử - văn hóa truyền thống làm luận cứ khoa học cho quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.
- Định hướng phát huy tối đa lợi thế kinh tế biển gắn liền với bảo tồn tài nguyên sinh thái ven biển và không gian văn hóa di sản.
- Sử dụng kết quả nghiên cứu làm tài liệu chuẩn xác phục vụ công tác giáo dục lịch sử, văn hóa địa phương và giảng dạy chuyên ngành Việt Nam học, Khu vực học tại các trường đại học.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Hạn chế
- Do đặc điểm địa tầng và nước biển dâng, các cuộc khai quật tại di chỉ Giồng Lớn không thu thập được di cốt người, khiến việc xác định tuyệt đối về nhân chủng học của lớp cư dân tiền sử tại chỗ phải dựa vào suy luận gián tiếp từ mẫu xương cốt thời kỳ văn hóa Óc Eo trên toàn Nam Bộ.
- Nguồn tư liệu thư tịch Hán Nôm ghi chép trực tiếp về Mô Xoài trong các thế kỷ XVII - XVIII còn tương đối thưa thớt, chủ yếu là các sự kiện quân sự lớn, thiếu vắng các tài liệu mô tả chi tiết đời sống thường nhật của cư dân thời kỳ đầu.
- Ranh giới hành chính các thôn làng cổ có sự biến động, phân tách và sáp nhập phức tạp qua các thời kỳ (thời Nguyễn, Pháp thuộc, 1954-1975, sau 1975) gây khó khăn cho việc đối chiếu tuyệt đối tọa độ địa lý của một số làng cổ ngoài vùng trung tâm.
Hướng nghiên cứu tiếp
- Tiếp tục mở rộng khai quật khảo cổ học tại các vùng đầm lầy, ven biển và hải đảo (Côn Đảo) nhằm tìm kiếm thêm bằng chứng về mối liên hệ nhân chủng và văn hóa giữa cư dân tiền sử với các tộc người bản địa (Chơ Ro, Mạ).
- Đẩy mạnh sưu tầm và khai thác các nguồn tư liệu văn bia Hán Nôm, hương ước, gia phả các dòng họ tiền hiền, hậu hiền tại địa phương để làm sáng tỏ hơn bức tranh cộng cư làng xã thế kỷ XVII - XVIII.
Giá trị tham khảo
- Đối với nghiên cứu sinh, học viên và giảng viên: Là tài liệu tham khảo giá trị về phương pháp luận nghiên cứu khu vực học, kỹ năng xử lý liên ngành giữa sử học, địa bạ học Hán Nôm, bản đồ học lịch sử và nhân học văn hóa.
- Đối với các nhà nghiên cứu lịch sử và văn hóa Nam Bộ: Cung cấp cơ sở dữ liệu xác thực về quá trình mở cõi Đàng Trong, địa danh học lịch sử, cơ cấu ruộng đất thế kỷ XIX và đặc trưng ngư dân vùng duyên hải Đông Nam Bộ.
- Đối với các nhà hoạch định chính sách tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu: Cung cấp luận cứ khoa học lịch sử phục vụ công tác quy hoạch không gian đô thị, phân vùng kinh tế biển, bảo tồn di sản văn hóa và xây dựng chiến lược phát triển du lịch bền vững.
Câu hỏi thường gặp
1. Tên gọi Mô Xoài xuất hiện sớm nhất trong thư tịch nào và gắn với sự kiện lịch sử gì?
Tên gọi Mô Xoài được ghi nhận sớm nhất trong tác phẩm Phủ biên tạp lục của Lê Quý Đôn (nửa cuối thế kỷ XVIII). Sự kiện lịch sử sớm nhất gắn với địa danh này diễn ra vào năm 1658, khi chúa Nguyễn sai quân tiến đến Mô Xoài đánh bại quân Chân Lạp để bảo vệ cư dân người Việt định cư khai phá. Sự kiện này tiếp tục được ghi chép và xác định cụ thể trong Gia Định thành thông chí của Trịnh Hoài Đức và Đại Nam thực lục của Quốc sử quán triều Nguyễn.
2. Địa bạ năm Minh Mệnh thứ 17 (1836) xác nhận những làng nào thuộc vùng trung tâm Mô Xoài?
Địa bạ năm 1836 của tổng An Phú Hạ, huyện Phước An ghi chép rõ ràng địa phận đất đai của 4 thôn làng thuộc "xứ Mô Xoài":
- Thôn Long Hương: "Nhất bản thôn địa phận Mô Xoài xứ nhất xứ"
- Thôn Phước Lễ: "Nhất bản thôn địa phận Mô Xoài xứ nhất xứ"
- Thôn Long Kiên: "Nhất bản thôn địa phận Mô Xoài xứ"
- Thôn Long Xuyên: "Nhất bản thôn địa phận Mô Xoài, Khách xứ, nhị xứ"
Bốn thôn cổ này hiện nay phân bố trên địa bàn các phường, xã thuộc thành phố Bà Rịa, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.
3. Cư dân bản địa sinh sống tại Mô Xoài trước thế kỷ XVII gồm những thành phần nào?
Trước khi người Việt vào khai phá vào thế kỷ XVII, vùng đất Mô Xoài đã có hai lớp cư dân sinh sống lâu đời:
- Lớp cư dân thời tiền - sơ sử (cách ngày nay 3.000 - 2.000 năm) để lại dấu tích tại các di chỉ khảo cổ Gò Cá Sỏi, Gò Cây Me, Bưng Bạc, Bưng Thơm, Giồng Lớn.
- Lớp cư dân các tộc người thiểu số bản địa thuộc tiểu quốc Mạ, người "Mọi Bà Rịa" (ghi nhận trên An Nam đại quốc họa đồ 1838), trong đó cộng đồng người Chơ Ro là hậu duệ bản địa còn cư trú đông đảo tại các huyện Châu Đức, Xuyên Mộc hiện nay.
4. Vì sao danh tướng Nguyễn Cư Trinh khẳng định phải mở xứ Mô Xoài đầu tiên trong chiến lược tiến về Nam Bộ?
Nguyễn Cư Trinh tâu với chúa Nguyễn Phúc Khoát rằng: "Đời trước lập Gia Định, tất trước mở xứ Mỗi Xoài [Mô Xoài], rồi mở xứ Đồng Nai, để cho quân dân hoàn tụ, rồi mở xứ Sài Gòn, thế là lấy ít đánh nhiều, lấn dần như tằm ăn". Mô Xoài được chọn làm điểm khởi đầu vì có vị trí địa đầu giáp ranh Bình Thuận, sở hữu thềm phù sa cổ màu mỡ thuận lợi quy tụ dân cư sản xuất nông nghiệp, đồng thời có hệ thống đường biển (vịnh Gành Rái, Cửa Lấp) và đường sông (sông Dinh, sông Thị Vải) liên hoàn làm bàn đạp quân sự vững chắc tiến sâu vào Đồng Nai và Sài Gòn.
Kết luận
Luận án tiến sĩ của tác giả Đặng Ngọc Hà là công trình nghiên cứu khu vực học liên ngành phục dựng diện mạo không gian lịch sử - văn hóa vùng đất Mô Xoài từ nguồn gốc tiền - sơ sử đến tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu hiện đại. Bằng việc phân tích sâu sắc bốn hợp phần tự nhiên, dân cư, lịch sử và văn hóa, luận án đã làm sáng tỏ vai trò tiền đồn mở cõi và tính chất cửa ngõ giao thương của vùng đất trong tiến trình xác lập chủ quyền Nam Bộ dưới thời các chúa Nguyễn. Công trình không chỉ đóng góp mới về mặt tư liệu địa bạ Hán Nôm và khung phân tích lý luận mà còn cung cấp hệ thống luận cứ khoa học thực tiễn phục vụ công tác quy hoạch phát triển kinh tế biển và bảo tồn di sản văn hóa bền vững cho tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.