Tổng quan về luận án

Công trình luận án tiến sĩ chuyên ngành Việt Nam học mang tên "Không gian lịch sử - văn hóa vùng đất Mô Xoài" của nghiên cứu sinh Đặng Ngọc Hà, dưới sự hướng dẫn khoa học của GS.TS Nguyễn Quang Ngọc (thực hiện tại Viện Việt Nam học và Khoa học phát triển, Đại học Quốc gia Hà Nội, 2021, mã số: 62220113), đại diện cho một bước tiến tiên phong trong việc tiếp cận lịch sử địa phương dưới lăng kính Khu vực học liên ngành. Trong bối cảnh học giới trước đây thường tiếp cận vùng đất phương Nam qua các lát cắt hành chính đơn lẻ, nghiên cứu này đã thiết lập một hệ hình nhận thức mới: giải cấu trúc và tái hiện toàn diện một không gian lịch sử - văn hóa tích hợp, nơi các quy luật tương tác giữa cảnh quan sinh thái, biến thiên nhân khẩu học, xung đột địa - chính trị và thiết chế văn hóa - xã hội cùng vận hành đồng đại và lịch đại.

Khoảng trống học thuật (research gap) cốt lõi mà luận án giải quyết xuất phát từ việc địa danh cổ "Mô Xoài" từng bị mờ nhạt trong ký ức tập thể và thư tịch cận - hiện đại, hoặc chỉ bị quy giản cục bộ về một làng xã đơn lẻ như quan điểm của Phù Lang Trương Bá Phát (1970) khi giới hạn Mô Xoài ở làng Long Hương. Luận án đã lấp đầy khoảng trống này bằng cách chứng minh Mô Xoài là một thực thể không gian liên hoàn, tương đương với địa bàn tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu ngày nay, giữ vai trò "bàn đạp mở cõi" tiên phong trong chiến lược Nam tiến của dân tộc. Hệ thống câu hỏi nghiên cứu và giả thuyết được định hình cụ thể:

  1. Câu hỏi 1: Không gian lịch sử - văn hóa vùng đất Mô Xoài được cấu thành từ những hợp phần/thành tố nào và diện mạo của chúng diễn tiến ra sao qua các thời kỳ?
  2. Câu hỏi 2: Đâu là những đặc trưng cốt lõi tạo nên bản sắc và tính tích hợp sinh thái - nhân văn độc đáo của không gian Mô Xoài?
  3. Câu hỏi 3: Tính liên tục lịch sử và sự chuyển hóa tiếp biến của không gian Mô Xoài đang hiện diện ở mức độ nào trong cấu trúc phát triển hiện đại của tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu?

Khung lý thuyết của công trình tích hợp lý thuyết sản xuất không gian xã hội (Spatial Production Theory), lý thuyết cấu trúc địa - văn hóa và khu vực học (Area Studies). Luận án xác lập phạm vi không gian bao trùm 1.982,48 km² diện tích tự nhiên và 119,13 km bờ biển của tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu, trải dài qua trục thời gian từ thời tiền - sơ sử (văn hóa Đồng Nai, Sa Huỳnh, Óc Eo) qua các mốc bản lề thế kỷ XVII, XVIII, XIX (đặc biệt là cột mốc 1658 và cải cách đạc điền năm 1836) đến đầu thế kỷ XXI.

Literature Review và Positioning

Điểm duyệt tài liệu học thuật cho thấy tiến trình nghiên cứu về Mô Xoài trải qua nhiều giai đoạn với các dòng học thuật đa dạng:

  • Dòng thư tịch cổ và địa chí thời Nguyễn: Lê Quý Đôn trong Phủ biên tạp lục (1776), Trịnh Hoài Đức trong Gia Định thành thông chí (1820), Lê Quang Định trong Hoàng Việt nhất thống dư địa chí (1806) và Quốc sử quán triều Nguyễn trong Đại Nam thực lục đã ghi chép các sự kiện quân sự, dịch trạm và địa danh, khẳng định vị trí "địa đầu Gia Định".
  • Dòng học thuật thực dân và cận đại: G. Aubaret (1863) bước đầu đối chiếu Mô Xoài với địa hạt Bà Rịa; Trương Vĩnh Ký (1875, 1877, 1885) khảo sát địa lý lịch sử Nam Kỳ và vai trò của phủ Phước Tuy; các chuyên khảo Monographie de la Province de Bà - Rịa et de la Ville du Cap Saint - Jacques (1902) và Lê Thanh Tường (1950) cung cấp số liệu thống kê sơ bộ.
  • Dòng học thuật miền Nam giai đoạn 1954-1975: Phan Khoang (Việt sử xứ Đàng Trong, 1967), Đào Duy Anh (Đất nước Việt Nam qua các đời, 1964), Lê Thọ Xuân (1969) và Phù Lang Trương Bá Phát (1970) mở ra các cuộc thảo luận học thuật về cương vực và tiểu quốc cổ.
  • Dòng nghiên cứu khảo cổ và sử học hiện đại sau 1975: Phạm Đức Mạnh (1996) với di tích Bưng Bạc, Bùi Chí Hoàng, Phạm Chí Thân, Nguyễn Khánh Trung Kiên (2012), Trương Đắc Chiến (2017) với di tích Giồng Lớn, cùng Đề án cấp Nhà nước do Phan Huy Lê chủ biên (2017) và nghiên cứu địa bạ của Nguyễn Đình Đầu (1994).

Trọng tâm tranh luận học thuật xoay quanh hai luồng quan điểm đối lập: một bên xem Mô Xoài chỉ là một địa điểm quân sự tạm thời hoặc một trạm dịch thứ cấp dọc đường thiên lý; luồng quan điểm thứ hai (được luận án bảo vệ và nâng tầm) xác định Mô Xoài là một hệ sinh thái không gian hoàn chỉnh, giữ vai trò tiền đồ định hình toàn bộ cấu trúc kinh tế - quân sự của Đàng Trong tại Nam Bộ.

Khi định vị quốc tế, luận án đối thoại trực tiếp với lý thuyết "Địa Trung Hải" của Fernand Braudel (1949) về không gian tương tác biển - lục địa và mô hình "Water Frontier" của Li Tana (2004) cùng Nola Cooke về vùng biên duyên hải Nam Hà. Nghiên cứu cũng mở rộng so sánh với lý thuyết không gian vùng biên (borderland dynamics) của James C. Scott (2009) khi xem xét mối quan hệ giữa cư dân bản địa miền cao (tiểu quốc Mạ, Chơ Ro) với mạng lưới kinh tế thương mại biển của người Việt và người Hoa.

Đóng góp lý thuyết và khung phân tích

Đóng góp cho lý thuyết

Luận án mở rộng lý thuyết cấu trúc không gian văn hóa của Henri Lefebvre và Trần Quốc Vượng thông qua việc thiết lập ba mệnh đề lý thuyết (Theoretical Propositions):

  • Mệnh đề 1 (P1): Không gian lịch sử - văn hóa không phải là một thực thể địa lý tĩnh tại mà là sản phẩm của sự chuyển hóa liên tục giữa cấu trúc tự nhiên (sông, biển, đồi núi) và thực hành xã hội của các lớp cư dân tiếp nối.
  • Mệnh đề 2 (P2): Tiến trình mở cõi Đàng Trong không diễn ra đơn thuần theo đường chân trời lục địa (Nam tiến bộ binh) mà vận hành theo cấu trúc "bàn đạp duyên hải hướng sông" (Maritime-fluvial springboard), lấy Mô Xoài làm điểm tựa tiếp vận logistics chiến lược.
  • Mệnh đề 3 (P3): Sự phân tầng xã hội và quyền sở hữu tư liệu sản xuất tại vùng đất mới Nam Bộ phản ánh mức độ thích ứng sinh thái cao độ, trong đó mô hình kinh tế muối - lúa nước - thương mại biển tạo nên tính đa dung văn hóa bền vững.

Sự chuyển dịch hệ hình (Paradigm Shift) của nghiên cứu nằm ở chỗ thay thế lối tiếp cận miêu tả biên niên sử bằng phương pháp giải cấu trúc không gian đa chiều, liên kết dữ liệu vi mô (micro-level data từ địa bạ làng xã) với chuyển động vĩ mô (macro-level geopolitics của khu vực Đông Nam Á).

Khung phân tích độc đáo

Khung phân tích của luận án tích hợp ba lý thuyết nền tảng: Lý thuyết Không gian xã hội (Social Space Theory), Lý thuyết Địa mạo - Sinh thái nhân văn (Human Ecological Theory) và Lý thuyết Tiếp biến văn hóa (Acculturation Theory).

   ┌─────────────────────────────────────────────────────────────┐
   │         KHUNG PHÂN TÍCH KHÔNG GIAN LỊCH SỬ - VĂN HÓA        │
   └──────────────────────────────┬──────────────────────────────┘
                                  │
      ┌───────────────────────────┴───────────────────────────┐
      ▼                                                       ▼
┌───────────────────────────┐                           ┌───────────────────────────┐
│     HỆ THỐNG THÀNH TỐ     │                           │      CẤU TRÚC 3 LỚP       │
├───────────────────────────┤                           ├───────────────────────────┤
│ 1. Cảnh quan tự nhiên     │◄─────────────────────────►│ 1. Không gian lõi         │
│ 2. Các lớp cư dân         │   Tương tác động lực học  │ 2. Không gian phụ cận     │
│ 3. Diện mạo lịch sử       │                           │ 3. Không gian mở rộng     │
│ 4. Thiết chế văn hóa      │                           │                           │
└───────────────────────────┘                           └───────────────────────────┘

Mô hình phân tích phân định rõ ba cấp độ không gian với các điều kiện biên (boundary conditions) chặt chẽ:

  • Không gian lõi (Core Space): Vùng châu thổ ven sông Dinh với 4 làng cổ trung tâm (Long Hương, Phước Lễ, Long Kiên, Long Xuyên), nơi hội tụ các thiết chế hành chính, đồn lũy, kho lương và chợ đầu mối.
  • Không gian phụ cận (Adjacent Space): Vùng đồng bằng đồi gò ven biển Đất Đỏ, Long Điền, Xuyên Mộc và châu thổ sông Ray (cửa Xích Lam), nơi tập trung canh tác lúa, khai thác ruộng muối và lâm thổ sản.
  • Không gian mở rộng (Extended Space): Bán đảo Vũng Tàu, vịnh Gành Rái (50 km²), vùng cửa biển Thị Vải và hệ thống đảo tiền tiêu Côn Sơn, đóng vai trò cửa ngõ giao thương hải hành quốc tế.

Phương pháp nghiên cứu tiên tiến

Thiết kế nghiên cứu

Luận án vận dụng thế giới quan hiện thực phê phán (Critical Realism) kết hợp với hệ hình diễn giải (Interpretivism) của Khu vực học. Thiết kế nghiên cứu hỗn hợp kết hợp chặt chẽ giữa sử học tư liệu, khảo cổ học thực địa, địa lý lịch sử (Historical GIS), phân tích địa bạ định lượng và nhân học văn hóa.

Thiết kế đa tầng được phân lập thành 3 cấp độ: Cấp độ vĩ mô (Liên vùng Đông Nam Bộ - Nam Trung Bộ - Vịnh Thái Lan), Cấp độ trung mô (Phủ Phước Tuy / Huyện Phước An / Tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu), và Cấp độ vi mô (Từng mảnh ruộng, thửa đất, dòng họ, chủ sở hữu trong 15 thôn làng thời Nguyễn).

Quy trình nghiên cứu rigorous

Quy trình thu thập và xử lý dữ liệu được tiến hành nghiêm ngặt qua 4 bước tam giác hóa (Triangulation):

  • Tam giác hóa nguồn tư liệu: Đối chiếu văn bản Hán - Nôm triều Nguyễn (châu bản, địa bạ 1836), thư tịch phương Tây (bản đồ Taberd 1838, hồ sơ lưu trữ Pháp tại TTLTQG II), và văn bia, gia phả tại thực địa.
  • Tam giác hóa phương pháp: Khảo sát địa mạo cảnh quan kết hợp định vị bản đồ không gian và phân loại cấu trúc địa danh học.
  • Tam giác hóa lý thuyết: Kiểm chứng các dữ kiện lịch sử qua các mô hình phát triển sinh thái kinh tế biển và nhân chủng học.

Về khảo cổ học, nghiên cứu sử dụng dữ liệu khai quật tuyệt đối từ 5 di tích trọng điểm trải dài từ 3.000 năm đến 2.000 năm trước: Gò Cá Sỏi, Gò Cây Me (3.000 BP), Bưng Bạc, Bưng Thơm (2.500 BP), Giồng Lớn (2.000 BP) và thành đá ong Vòng thành Đá Trắng (thế kỷ XIV - XVII).

Data và phân tích

Tập dữ liệu địa bạ năm Minh Mệnh thứ 17 (1836) của huyện Phước An được mã hóa và phân tích định lượng chi tiết:

  • Phân tích toàn bộ diện tích công điền, tư điền, thổ trạch, ruộng muối của các thôn xã thuộc 4 tổng: An Phú Thượng, An Phú Hạ, Phước Hưng Thượng, Phước Hưng Hạ.
  • Khảo sát biến động nhân khẩu qua dữ liệu thống kê thuộc địa: Tổng An Phú Hạ năm 1901 có 16.174 người (chiếm 32,9% dân số toàn tỉnh Bà Rịa là 49.212 người); riêng 4 làng lõi trung tâm chiếm 42% dân số của tổng An Phú Hạ.
  • Định lượng hóa cơ cấu đa sắc tộc tại thôn Phước Lễ năm 1901: người Hoa chiếm 54,08%, người Minh Hương 17,04%, người Pháp 8,89%, người Pháp lai 13,33%, người Campuchia 2,96%, người Ấn Độ 0,74%.
  • Ứng dụng phương pháp phân tích ngữ nghĩa - địa lý đối với 28 bảng phân loại địa danh liên quan đến yếu tố địa hình, yếu tố sông nước, yếu tố biển và văn hóa sản xuất.

Phát hiện đột phá và implications

Những phát hiện then chốt

Luận án mang lại 5 phát hiện mang tính đột phá học thuật với chứng cứ xác thực:

Thứ nhất, tái định vị vai trò địa - chiến lược khởi đầu của Mô Xoài trong công cuộc Nam tiến. Văn bản địa bạ 1836 chứng minh danh xưng "Mô Xoài" được định danh chính thức dưới dạng xứ đất: làng Long Hương ghi rõ "Nhất bản thôn địa phận Mô Xoài xứ nhất xứ" (一本村地分每𣒱處壹處), làng Phước Lễ ghi "Nhất bản thôn địa phận Mô Xoài xứ nhất xứ", làng Long Xuyên ghi "Nhất bản thôn địa phận Mô Xoài, Khách xứ, nhị xứ". Nghiên cứu minh chứng rằng sự kiện quân sự năm 1658 tại Mô Xoài không phải là một xung đột biên viễn ngẫu nhiên mà là bước đi chiến lược được trù tính kỹ lưỡng, đúng như nhận định của danh tướng Nguyễn Cư Trinh:

“Đời trước lập Gia Định, tất trước mở xứ Mỗi Xoài [Mô Xoài], rồi mở xứ Đồng Nai, để cho quân dân hoàn tụ, rồi mở xứ Sài Gòn, thế là lấy ít đánh nhiều, lấn dần như tằm ăn”.

Thứ hai, phát hiện cấu trúc chuyển cư và tiếp biến sinh thái - văn hóa đa tầng. Các tầng văn hóa khảo cổ từ Bưng Bạc đến Giồng Lớn xác lập quá trình dịch chuyển từ miền đồi cao xuống vùng sình lầy ngập mặn. Công trình trích dẫn đánh giá của Bùi Chí Hoàng và cộng sự (2012):

“Có thể nhận thấy tính chậm chạp trong giai đoạn đầu tiên khi cộng đồng cư dân vùng cao tràn tỏa xuống chiếm lĩnh cung biển này [Bà Rịa - Vũng Tàu], họ mang theo những công cụ bằng đá thô sơ, nhưng rất nhanh sau đó, với vị trí địa - văn hóa của một cung biển hướng ngoại, cộng đồng cư dân này đã tiếp xúc mạnh với bên ngoài và từ khoảng 500 năm trước Công nguyên trở về sau, vùng này [Bà Rịa - Vũng Tàu] đã có những bước tiến vượt bậc”.

Thứ ba, làm sáng tỏ vai trò đan xen của tiểu quốc Mạ và cư dân Chơ Ro tiền bản địa. Bằng chứng từ An Nam đại quốc họa đồ (Taberd, 1838) với chỉ dấu "Mọi Bà Rịa" và phế tích Vòng thành Đá Trắng (thế kỷ XIV - XVII) có mảnh sứ Đại Minh Gia Tĩnh niên tạo khẳng định Mô Xoài từng là địa bàn tranh chấp, chuyển tiếp giữa không gian văn hóa Chămpa, Chân Lạp và tiểu quốc Mạ trước khi người Việt xác lập chủ quyền.

Thứ tư, xác lập quy luật liên hoàn sinh thái "Sông - Biển - Lục địa". Mô Xoài sở hữu thế liên hoàn độc nhất vô nhị: sông Dinh (sông Mô Xoài dài 35 km), sông Thị Vải, sông Ray kết nối trực tiếp với cửa biển Tắc Khái (Cửa Lấp), cửa Xích Lam (Lộc An) và vịnh Gành Rái (50 km²). Hệ thống này tạo thành mạng lưới thủy lộ quân sự - thương mại khép kín, biến Mô Xoài thành cửa ngõ phòng thủ và bàn đạp tấn công hiểm yếu trong chiến tranh Tây Sơn - Nguyễn Ánh và biến cố Lê Văn Khôi (1833-1835).

Thứ năm, phân tích cấu trúc kinh tế - xã hội dựa trên kinh tế biển và ruộng muối đặc thù. Số liệu địa bạ năm 1837 cho thấy diện tích ruộng muối (diêm điền) tại An Ngãi, Long Điền chiếm tỷ trọng vượt trội so với các vùng khác ở Nam Bộ, xác lập cơ cấu kinh tế kết hợp nông - ngư - diêm nghiệp độc đáo cùng mạng lưới chợ sông/biển phát triển sớm.

Implications đa chiều

  • Về mặt lý thuyết: Cung cấp một khung mẫu nghiên cứu không gian lịch sử - văn hóa cho ngành Khu vực học Việt Nam, chứng minh tính ưu việt của cách tiếp cận liên ngành trong việc tái hiện diện mạo các tiểu vùng văn hóa.
  • Về phương pháp luận: Thiết lập quy trình xử lý dữ liệu địa bạ Hán - Nôm kết hợp bản đồ học lịch sử và thống kê thuộc địa, có thể nhân rộng cho các nghiên cứu về Nam Bộ và duyên hải miền Trung.
  • Về quy hoạch kinh tế - xã hội hiện đại: Luận giải căn nguyên lịch sử giúp định hướng chiến lược phát triển tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu hiện nay, khẳng định tính biển và vị thế cửa ngõ hàng hải quốc tế (cụm cảng nước sâu Cái Mép - Thị Vải, đô thị dầu khí Vũng Tàu) là sự kế thừa trực tiếp từ logic không gian truyền thống của Mô Xoài.
  • Về bảo tồn di sản: Đề xuất định vị lại các di tích lịch sử như Lũy Phước Tứ, Thành Hưng Phước, Trạm Mô Xoài, Vòng thành Đá Trắng trong quy hoạch du lịch văn hóa liên vùng Đông Nam Bộ.

Limitations và Future Research

Luận án chỉ ra 4 giới hạn nghiên cứu khách quan:

  1. Nguồn di cốt nhân chủng học tại 73 ngôi mộ đất ở di chỉ Giồng Lớn bị tiêu hủy do hiện tượng nước biển dâng và môi trường axit, hạn chế việc giải mã cấu trúc gen (DNA cổ) của lớp cư dân sơ sử.
  2. Dữ liệu địa bạ thời kỳ trước năm 1836 (thế kỷ XVII - XVIII) chủ yếu tồn tại dưới dạng ghi chép tản mát trong thư tịch, thiếu các chuỗi số liệu đạc điền liên tục.
  3. Khảo sát khảo cổ học dưới nước (Underwater Archaeology) tại khu vực ven biển Vũng Tàu và Côn Đảo chưa được triển khai toàn diện để đối chiếu với mạng lưới giao thương cổ.
  4. Nguồn tư liệu truyền miệng (Oral History) của đồng bào Chơ Ro bản địa cần thêm thời gian để phân tích ngôn ngữ học lịch sử chuyên sâu.

Chương trình nghiên cứu tương lai (5 hướng đi):

  • Ứng dụng công nghệ GIS không gian ba chiều (3D Historical GIS) để mô phỏng sự biến đổi đường bờ biển và mạng lưới thủy lộ Mô Xoài qua 500 năm.
  • Khai quật mở rộng và phân tích đồng vị phóng xạ các di chỉ gốm sứ thương mại ven sông Ray và sông Thị Vải.
  • Nghiên cứu so sánh xuyên quốc gia giữa mô hình không gian Mô Xoài với các thương cảng - tiền đồn duyên hải ở Bán đảo Mã Lai và Nam Thái Lan.
  • Khảo cứu sâu hơn về mạng lưới sở hữu đất đai của phụ nữ Nam Bộ thông qua hồ sơ địa bạ 1836 (với tỷ lệ chủ ruộng nữ đáng kể được ghi nhận).
  • Nghiên cứu chuyển đổi sinh thái cảnh quan từ không gian rừng ngập mặn cổ xưa sang hệ thống khu công nghiệp - cảng biển hiện đại tại Thị xã Phú Mỹ.

Tác động và ảnh hưởng

  • Học thuật: Đóng góp một chuyên khảo mẫu mực vào kho tàng nghiên cứu lịch sử Nam Bộ; dự kiến trở thành tài liệu trích dẫn quy chuẩn cho các nghiên cứu về Đàng Trong, địa chí học và văn hóa biển.
  • Kinh tế & Quy hoạch: Cung cấp luận cứ lịch sử - không gian sâu sắc cho các nhà hoạch định chính sách phát triển không gian kinh tế biển, logistics cảng biển và du lịch sinh thái tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu giai đoạn 2025-2050.
  • Xã hội & Giáo dục: Cung cấp khung tri thức chuẩn xác phục vụ biên soạn giáo trình Lịch sử - Địa lý địa phương, bồi đắp căn cước văn hóa và lòng tự hào lịch sử cho cộng đồng cư dân địa phương.
  • Hợp tác quốc tế: Mở ra kênh đối thoại học thuật với các trung tâm nghiên cứu Đông Nam Á học quốc tế về chủ đề biên viễn biển (Maritime Frontiers).

Đối tượng hưởng lợi

  • Nghiên cứu sinh & Giới nghiên cứu trẻ: Tiếp thu một khung phương pháp luận liên ngành sắc bén, cách thức khai phá và xử lý định lượng nguồn tư liệu địa bạ, bản đồ cổ.
  • Các nhà nghiên cứu cấp cao (Senior Academics): Tiếp cận hệ thống tư liệu Hán - Nôm và tư liệu Pháp ngữ được xử lý công phu, làm sâu sắc thêm các luận đề về lịch sử xác lập chủ quyền Nam Bộ.
  • Cơ quan hoạch định chính sách & Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch: Nắm bắt luận cứ khoa học để xây dựng hồ sơ xếp hạng di tích quốc gia, quy hoạch không gian đô thị di sản và định vị thương hiệu địa phương.
  • Doanh nghiệp lữ hành du lịch & phát triển hạ tầng cảng biển: Khai thác các giá trị cảnh quan lịch sử để thiết kế các chuỗi sản phẩm du lịch văn hóa - sinh thái độc đáo.

Câu hỏi chuyên sâu

  1. Đóng góp lý thuyết độc đáo nhất của luận án là gì và đã mở rộng lý thuyết nào? Luận án đã mở rộng Lý thuyết Không gian xã hội của Henri Lefebvre và trường phái Địa lý lịch sử sinh thái bằng cách xây dựng mô hình Không gian lịch sử - văn hóa tích hợp 3 tầng (Lõi - Phụ cận - Mở rộng), chứng minh rằng không gian địa lý không chỉ là sân khấu thụ động mà là một tác nhân kiến tạo nên các quyết sách địa - chính trị và thiết chế kinh tế - xã hội của cư dân Đàng Trong.

  2. Phương pháp nghiên cứu có điểm đổi mới nào so với các công trình đi trước? So với công trình tổng hợp của Nguyễn Đình Đầu (1836) vốn chỉ dừng ở số liệu diện tích vĩ mô, hoặc khảo sát đơn lẻ của Phù Lang Trương Bá Phát (1970), luận án đã thực hiện bước đột phá vi lịch sử (Micro-history): giải mã từng tờ địa bạ gốc năm 1836, bóc tách cấu trúc dòng họ, hiện tượng phụ canh, sở hữu của nữ giới, kết hợp với kỹ thuật đối chiếu bản đồ đa thời gian (1838, 1881, 2020) và dữ liệu khảo cổ học địa tầng học.

  3. Phát hiện nào gây bất ngờ nhất và có dữ liệu nào minh chứng? Phát hiện bất ngờ nhất là tính đa dạng sắc tộc và mức độ đô thị hóa thương mại rất cao tại trung tâm Mô Xoài từ rất sớm: dữ liệu năm 1901 tại làng Phước Lễ cho thấy người ngoại quốc và tộc người thiểu số chiếm tỷ lệ lớn (người Hoa 54,08%, người Pháp và Pháp lai trên 22%), khẳng định Mô Xoài không thuần túy là một làng quê nông nghiệp khép kín mà là một trung tâm thương dịch quốc tế năng động.

  4. Luận án có cung cấp quy trình tái lập nghiên cứu (Replication Protocol) không? Có. Luận án cung cấp bảng mã hóa địa bạ chi tiết, tiêu chí phân loại 28 nhóm địa danh, hệ thống tọa độ các di tích khảo cổ và phương pháp xử lý niên giám thống kê thời Pháp, cho phép các nhà nghiên cứu độc lập kiểm chứng và áp dụng đồng bộ quy trình này cho các không gian lịch sử khác như Cù Lao Giêng, Đồng Nai hay Tây Nam Bộ.

  5. Chương trình nghiên cứu 10 năm tới được phác thảo ra sao? Chương trình 10 năm định hướng tập trung vào việc số hóa toàn bộ hệ thống di sản Hán - Nôm và địa bạ Mô Xoài lên nền tảng GIS cộng đồng, đẩy mạnh khảo cổ học biển tại thềm lục địa Bà Rịa - Vũng Tàu - Côn Đảo, và xuất bản bộ chuyên khảo quốc tế về Hệ sinh thái biển - sông trong lịch sử kinh tế Đông Nam Á.

Kết luận

  1. Khẳng định một cách khoa học rằng Mô Xoài là một không gian lịch sử - văn hóa hoàn chỉnh, tương đương phần đất liền tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu, giữ vai trò tiền đồn khai mở quyết định toàn bộ tiến trình xác lập chủ quyền của người Việt tại Nam Bộ từ năm 1658.
  2. Chứng minh thành công quy luật phát triển dựa trên thế liên hoàn sinh thái độc đáo: Miền núi bán trung du - Thềm phù sa cổ - Mạng lưới sông ngòi - Duyên hải ngập mặn - Biển khơi.
  3. Giải mã toàn diện cấu trúc kinh tế - xã hội cổ truyền qua hệ thống địa bạ 1836, chỉ rõ mối liên kết hữu cơ giữa sản xuất lúa nước, chế biến muối biển, kinh tế thủy hải sản và thương mại cảng thị.
  4. Làm sáng tỏ tính đa tầng lịch sử - nhân văn từ các lớp cư dân bản địa tiền sử (Đồng Nai, Sa Huỳnh, Óc Eo, tiểu quốc Mạ, Chơ Ro) đến sự hội tụ của người Việt, người Hoa và các cộng đồng di dân sau này.
  5. Luận giải sâu sắc tính kế thừa và sự chuyển hóa tất yếu của không gian Mô Xoài xưa thành trung tâm kinh tế biển, dầu khí, du lịch và cảng trung chuyển quốc tế hàng đầu của tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu trong kỷ nguyên công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập toàn cầu.