Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Giải phẫu và sinh lý cổ tử cung 1. Đặc điểm cấu tạo Cổ tử cung (CTC) là phần dưới của tử cung, nằm dưới vùng eo tử cung lộ vào trong âm đạo, có hình trụ, dài 2,5 cm và rộng 2 - 2,5 cm; có 2 lỗ: lỗ trong và lỗ ngoài. CTC có rất ít cơ, chỉ có rất ít thớ chạy dọc ở gần ngoại vi.
Mô cơ chỉ chứa 6,4% tổ chức mô ở 1/3 dưới của CTC, 18% ở 1/3 giữa và 68,8% ở eo tử cung. CTC dễ xoá, mở trong chuyển dạ là do phần còn lại của CTC là tổ chức liên kết với thành phần chủ yếu là các sợi tạo keo được tạo ra từ phân tử proteoglycan và các sợi chun, đặc tính là có thể bị kéo căng ra trong một thời gian rồi nhanh chóng trở lại hình dạng và kích thước ban đầu. CTC ngoài thời kỳ có thai chứa 80% nước, 20% còn lại trong đó chứa 85% là collagen, elastin chiếm 0,9% - 2,4% ngoài ra còn có fibronectin và một số chất khác [70]. CTC của người chưa đẻ hình trụ tròn đều, mật độ chắc, lỗ ngoài CTC tròn.
Sau khi sinh nở, CTC dẹt theo chiều trước sau, mềm hơn, lỗ ngoài CTC rộng ra, hình thành nên môi trước và môi sau. Cực trên CTC là lỗ trong CTC nằm ỏ vùng eo tử cung(TC). Giữa lỗ trong và lỗ ngoài CTC là buồng CTC hay ống CTC. Nó có dạng gần hình thoi nằm dọc, dẹt theo chiều trước sau và rộng nhất ở giữa CTC.
Hai gờ chạy dọc trên các thành trước và sau của nó tách ra các nếp lá co nhỏ, chạy chếch lên trên và sang bên như cành của một cái cây. Những nếp trên các thành đối nhau cài vào nhau để đóng kín ống CTC, có thể ép tạo thành một buồng ảo. Các tác giả cho rằng càng sinh đẻ càng nhiều CTC càng ngắn. Nhưng có nghiên cứu lại cho rằng sau sinh đẻ 4 CTC thay đổi chủ yếu theo chiều rộng, rất ít thay đổi chiều dài.
Chiều dài CTC ổn định vào khoảng 25 mm [45], [70]. Thay đổi của cổ tử cung khi có thai Bình thường CTC rất chắc, khi có thai CTC mềm ra là do tổ chức liên kết ở CTC tăng sinh và giữ nước, mềm từ ngoại vi đến trung tâm. Vị trí và hướng của CTC không thay đổi. Khi thai đủ tháng CTC càng mềm mại nên dễ dàng xoá ngắn và mở ra.
Thay đổi này chính là hiện tượng “chín muồi CTC” giúp cho khởi đầu cuộc chuyển dạ thuận lợi. Quá trình chín muồi của CTC bắt đầu từ 3 tháng cuối nhưng đôi khi rất nhanh, chỉ vài giờ khi có cơn co tử cung Thời điểm 20 - 25 tuần CTC có độ dài lớn nhất. Chiều dài CTC giảm dần và rõ rệt sau 32 tuần, CTC co ngắn nhưng không ngắn hơn độ dài thời điểm 14 – 19 tuần [70]. Thay đổi cổ tử cung khi chuyển dạ Sự giãn và mở CTC là điều kiện tiên quyết và cần thiết cho việc sinh qua đường âm đạo.
Trước khi bắt đầu chuyển dạ, CTC có sự gia tăng đáng kể hàm lượng nước và sự biến đổi các chất nền dẫn đến làm mềm mô cơ cổ tử cung- quá trình này được gọi là chín muồi CTC. Khi quá trình chín muồi CTC hoàn thành thì CTC sẽ giãn và mở ra dần dần tương ứng với tần số, cường độ cơn co tử cung, cuối cùng là thúc đẩy thai nhi sổ ra ngoài âm hộ của sản phụ [3], [41]. Sinh lý của chín muồi cổ tử cung TC chứa khoảng 10 – 15% lượng cơ trơn với tỷ lệ giảm dần từ đáy TC đến CTC. Mô đệm CTC chủ yếu là mô liên kết tạo bởi các bó sợi collagen và glycosaminoglycan cùng với phân tử proteoglycan nằm xen kẽ giữa các sợi collagen [50].
Vào những tuần cuối của thai kỳ CTC thay đổi cấu trúc mạnh mẽ với biểu hiện mềm ra và dẻo hơn. Sự thay đổi này là do có sự thay đổi số lượng glycosaminoglycan thể hiện qua sự tăng tập trung acid hyaluronic và 5 giảm tập trung chondroitin sulfate. Acid hyaluronic là chất ưa nước do đó khi lượng acid này tập trung nhiều ở CTC sẽ làm tăng thu hút các phân tử nước đến CTC làm cho CTC mềm ra. Bên cạnh đó sự giảm tập trung chất chondroitin sulfate lại phá hủy cầu nối giữa các sợi collagen làm cho liên kết giữa các sợi collagen lỏng lẻo và làm tăng sự collagen hóa ở CTC dẫn tới chín muồi CTC [66].
Cơ chế gây chín muồi CTC cho đến nay vẫn chưa sáng tỏ nhưng nhiều nghiên cứu đã tìm thấy có sự tác động của các hormon nội tiết lên quá trình chín muồi CTC như sự thay đổi tỷ lệ estrogen tăng và progesteron giảm vào giai đoạn thai đủ tháng trong đó estrogen thúc đẩy chín muồi CTC bằng cách tăng quá trình collagen hóa trong khi lượng progesteron giảm làm tăng quá trình chín muồi CTC. Prostaglandin điều hòa thành phần hỗn hợp ngoại tế bào và có khả năng cắt đứt liên kết giữa các bó collagen và làm tăng lượng acid hyaluronic ở dưới niêm mạc CTC, tăng lượng nước ở CTC [53]. Sự giãn, mở cổ tử cung trong chuyển dạ. Khi chuyển dạ xuất hiện CTC có sự thay đổi về độ dài và mật độ CTC gọi là hiện tượng xóa mở CTC: Sự xóa: CTC khi chưa chuyển dạ có hình trụ với lỗ trong và lỗ ngoài rõ ràng.
Xóa là hiện tượng rút ngắn các thớ cơ dọc của CTC làm kéo lỗ trong CTC lên và làm CTC ngắn lại, mỏng dần đi. Sự mở: Dưới tác dụng của cơn co TC, áp lực buồng ối tăng lên làm đầu ối căng phồng, chính điều này làm nong dần CTC là cho lỗ ngoài CTC từ từ giãn rộng 1 cm đến khi mở hết là 10 cm. Ở người sinh con so CTC xóa hết mới bắt đầu mở, còn ở người sinh con rạ thì hiện tượng xóa mở diễn ra đồng thời. Trong một cuộc chuyển dạ bình thường, pha tiềm tàng có thể kéo dài đến 8 giờ với người sinh con so và 6 giờ với người sinh con rạ.
Ở pha tích cực, tốc độ mở CTC trung bình là 1 cm/ giờ [3], [41]. Đánh giá độ mềm mở cổ tử cung khi có thai Năm 1964 Bishop đã nêu lên một chỉ số lâm sàng gọi là "chỉ số khung chậu để KPCD có chọn lọc" mà cho tới nay vẫn còn được sử dụng rộng rãi để đánh giá mức độ mềm, mở CTC. Mục đích của việc áp dụng chỉ số Bishop là đánh giá độ chín muồi CTC để có thể KPCD thành công; tiên lượng sự đáp ứng điều trị những trường hợp có khả năng đẻ non tháng; dự đoán ngày đẻ ở giai đoạn cuối của thời kỳ thai nghén. Để tính chỉ số Bishop, người ta thăm khám âm đạo để xác định 5 yếu tố: độ mở CTC, độ xóa CTC, vị trí của ngôi thai, mật độ CTC, tư thế CTC.
Chỉ số Bishop tăng dần theo thời gian gần đến ngày chuyển dạ. Bình thường thời điểm 22 ngày trước khi đẻ chỉ số Bishop bằng 1 và tăng dần đến 11 ở thời điểm chuyển dạ. Chỉ số Bishop 9 là điều kiện tốt để KPCD thành công đến 100% và cuộc chuyển dạ thường kéo dài dưới 4 giờ. Chỉ số Bishop càng thấp tỷ lệ thất bại trong KPCD càng cao [82].
Khái niệm Chuyển dạ là quá trình sinh lý làm cho thai và phần phụ của thai được đưa ra khỏi đường sinh dục của người mẹ. Cơn co tử cung là động lực chính của cuộc chuyển dạ, tạo nên hiện tượng xóa, mở CTC, thành lập đoạn dưới tử cung, đồng thời đẩy thai và rau từ trong buồng tử cung ra ngoài [3], [41]. Các giai đoạn của một cuộc chuyển dạ Quá trình chuyển dạ đẻ được chia làm 3 giai đoạn, thời gian của mỗi giai đoạn dài ngắn khác nhau. Giai đoạn 1: Giai đoạn xóa mở CTC, được tính từ khi bắt đầu có dấu hiệu chuyển dạ tới khi CTC mở hết.
Giai đoạn này được chia làm 2 giai đoạn nhỏ gọi là 2 pha: 7 + Pha tiềm tàng (Latent phase): CTC mở từ 0 – 3 cm. + Pha tích cực (Active phase): CTC mở 4 – 10 cm. Đây là giai đoạn kéo dài nhất và khó khăn nhất của cuộc chuyển dạ. Mục tiêu trước tiên của các phương pháp KPCD là tác động làm thế nào để CTC có thể xóa và mở hết một cách dễ dàng, trong đó việc tác động vào pha tiềm tàng là khó khăn nhất.
Giai đoạn 2: Giai đoạn sổ thai, tính từ khi CTC mở hết đến khi thai sổ. Giai đoạn 3: Giai đoạn sổ rau, tính từ khi thai sổ ra ngoài đến khi rau bong và sổ hoàn toàn ra ngoài cùng màng rau. Thời gian chuyển dạ trung bình ở người con so từ 16 - 20 giờ, ở người con rạ thời gian chuyển dạ đẻ ngắn hơn, trung bình từ 8 - 12 giờ. Các cuộc chuyển dạ quá 24 giờ gọi là chuyển dạ kéo dài [3], [41].
Cơ chế chuyển dạ Cho đến nay cơ chế phát sinh chuyển dạ còn chưa rõ ràng và đầy đủ, tuy nhiên một số giả thuyết được đa số chấp nhận. Vai trò của các hormone steroid: estrogen và progesteron Trong quá trình thai nghén, các chất estrogen tăng lên nhiều làm tăng sự phát triển của lớp cơ tử cung, làm tăng tính thích của các sợi cơ trơn của tử cung và tốc độ lan truyền của hoạt động điện. Cơ tử cung trở nên mẫn cảm hơn với các tác nhân gây cơn co tử cung, đặc biệt là đối với oxytocin. Estrogen làm tăng sự phát triển của lớp cơ tử cung và làm thuận lợi cho việc tổng hợp các Prostaglandin.
Estrogen cũng có thể đóng vai trò trong việc làm chín muồi CTC [44]. Progesteron có tác dụng ức chế với co bóp tử cung. Trước đây, người ta vẫn cho rằng nồng độ progesteron giảm ở giai đoạn cuối thời kỳ thai nghén, nó làm thay đổi tỷ lệ estrogen/progesteron là tác nhân KPCD. Người ta nhận thấy, nồng độ estrogen trong nước ối tăng lên tại thời 8 điểm 15 - 20 ngày trước khi xuất hiện chuyển dạ, kèm theo sự sụt giảm nồng độ progesteron làm thay đổi tỷ lệ progesteron/estrogen dẫn tới tăng sản xuất các PGE2, PGF2α.
Các prostaglandin này và estrogen có tác dụng tăng sản xuất các receptor của oxytocin và prostaglandin, gây khởi phát chuyển dạ [44], [70]. Vai trò của prostaglandin Tác dụng của prostaglandin làm co bóp tử cung nhịp nhàng. Sự tổng hợp prostaglandin ngày càng tăng trong quá trình có thai và có nồng độ cao trong dịch ối, màng rụng và CTC vào thời kỳ đầu giai đoạn chuyển dạ. Các prostaglandin tác động lên các mô liên kết ở CTC làm CTC chín muồi bằng cách gây giảm số lượng collagen ở CTC.