Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng cận lâm sàng và đánh giá kết quả điều trị thai ngoài tử cung vỡ bằng phẫu thuật nội soi tại bệnh viện đa khoa bạc liêu năm 2019 2020

Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng và kết quả điều trị thai ngoài tử cung vỡ bằng phẫu thuật nội soi tại Bệnh viện Đa khoa Bạc Liêu năm 2019-2020.

Chuyên ngành

Sản phụ khoa

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận Văn Chuyên Khoa Cấp II

2020

92
4
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CẢM ƠN

LỜI CAM ĐOAN

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1.1. Dịch tễ học thai ngoài tử cung vỡ

1.2. Giải phẫu và sinh lý học buồng trứng và vòi tử cung

1.3. Nguyên nhân - các yếu tố nguy cơ thai ngoài tử cung

1.4. Triệu chứng lâm sàng, cận lâm sàng của thai ngoài tử cung vỡ

1.5. Phương pháp điều trị thai ngoài tử cung vỡ

1.6. Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước về thai ngoài tử cung

2. CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1. Đối tượng nghiên cứu

2.2. Phương pháp nghiên cứu

2.3. Vấn đề y đức của nghiên cứu

3. CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

3.1. Đặc điểm chung của người bệnh bị thai ngoài tử cung vỡ

3.2. Đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng của thai ngoài tử cung vỡ

3.3. Kết quả điều trị

3.4. Đánh giá một số yếu tố liên quan đến kết quả điều trị

4. CHƯƠNG 4: BÀN LUẬN

4.1. Về đặc điểm chung của thai ngoài tử cung vỡ

4.2. Bàn luận về đặc điểm lâm sàng của thai ngoài tử cung vỡ

4.3. Kết quả điều trị trong thai ngoài tử cung vỡ

TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Tóm tắt

I. Tổng Quan Về Nghiên Cứu Thai Ngoài Tử Cung Vỡ

Nghiên cứu về thai ngoài tử cung vỡ là một vấn đề quan trọng trong y học, đặc biệt là trong lĩnh vực sản phụ khoa. Tại Bệnh viện Đa khoa Bạc Liêu, việc áp dụng phẫu thuật nội soi trong điều trị đã mang lại nhiều kết quả khả quan. Theo thống kê, tỷ lệ thai ngoài tử cung đang gia tăng, đe dọa sức khỏe của nhiều phụ nữ. Việc hiểu rõ về đặc điểm lâm sàng và cận lâm sàng của bệnh nhân là cần thiết để cải thiện kết quả điều trị.

1.1. Đặc Điểm Dịch Tễ Học Thai Ngoài Tử Cung

Thai ngoài tử cung chiếm khoảng 1-2% trong tổng số thai nghén. Theo Tổ chức Y tế Thế giới, tỷ lệ tử vong do thai ngoài tử cung cao gấp 10 lần so với sinh thường. Tại Việt Nam, Bệnh viện Đa khoa Bạc Liêu ghi nhận khoảng 150 ca mỗi năm, cho thấy sự cần thiết phải nghiên cứu sâu hơn về vấn đề này.

1.2. Nguyên Nhân Gây Thai Ngoài Tử Cung

Các nguyên nhân chính dẫn đến thai ngoài tử cung bao gồm cấu trúc bất thường của vòi tử cung, rối loạn nội tiết và tiền sử viêm nhiễm. Những yếu tố này làm cản trở sự di chuyển của phôi từ vòi tử cung vào buồng tử cung, dẫn đến tình trạng thai ngoài tử cung.

II. Thách Thức Trong Chẩn Đoán Thai Ngoài Tử Cung

Chẩn đoán sớm thai ngoài tử cung là một thách thức lớn trong y học. Nhiều trường hợp không được phát hiện kịp thời dẫn đến biến chứng nghiêm trọng. Việc nhận diện triệu chứng lâm sàng và cận lâm sàng là rất quan trọng để đưa ra quyết định điều trị kịp thời.

2.1. Triệu Chứng Lâm Sàng Của Thai Ngoài Tử Cung

Triệu chứng lâm sàng của thai ngoài tử cung thường bao gồm đau bụng, chảy máu âm đạo và triệu chứng sốc. Những triệu chứng này có thể dễ dàng bị nhầm lẫn với các tình trạng khác, do đó cần có sự chú ý đặc biệt từ bác sĩ.

2.2. Cận Lâm Sàng Trong Chẩn Đoán

Cận lâm sàng như siêu âm và xét nghiệm β-hCG là những công cụ quan trọng trong chẩn đoán thai ngoài tử cung. Siêu âm có thể giúp xác định vị trí thai, trong khi xét nghiệm β-hCG giúp đánh giá mức độ hormone trong cơ thể.

III. Phương Pháp Phẫu Thuật Nội Soi Trong Điều Trị

Phẫu thuật nội soi là phương pháp chính trong điều trị thai ngoài tử cung vỡ tại Bệnh viện Đa khoa Bạc Liêu. Phương pháp này không chỉ giúp giảm thiểu biến chứng mà còn bảo tồn khả năng sinh sản cho bệnh nhân. Tỷ lệ thành công của phương pháp này đã được ghi nhận là rất cao.

3.1. Quy Trình Phẫu Thuật Nội Soi

Quy trình phẫu thuật nội soi bao gồm việc xác định vị trí thai, cắt bỏ hoặc bảo tồn vòi tử cung tùy thuộc vào tình trạng của bệnh nhân. Phẫu thuật viên cần có kỹ năng cao để đảm bảo an toàn cho bệnh nhân.

3.2. Lợi Ích Của Phẫu Thuật Nội Soi

Phẫu thuật nội soi mang lại nhiều lợi ích như ít đau, thời gian hồi phục nhanh và thẩm mỹ cao. Bệnh nhân có thể trở lại sinh hoạt bình thường sớm hơn so với phương pháp phẫu thuật truyền thống.

IV. Kết Quả Nghiên Cứu Tại Bệnh Viện Đa Khoa Bạc Liêu

Nghiên cứu tại Bệnh viện Đa khoa Bạc Liêu cho thấy tỷ lệ thành công của phẫu thuật nội soi trong điều trị thai ngoài tử cung vỡ đạt 96,1%. Kết quả này cho thấy tính hiệu quả và an toàn của phương pháp này trong điều trị.

4.1. Đánh Giá Kết Quả Điều Trị

Kết quả điều trị cho thấy hầu hết bệnh nhân hồi phục tốt sau phẫu thuật. Tỷ lệ tái phát rất thấp, cho thấy phẫu thuật nội soi là một lựa chọn an toàn và hiệu quả.

4.2. Các Yếu Tố Liên Quan Đến Kết Quả

Nghiên cứu cũng chỉ ra rằng các yếu tố như tuổi tác, tiền sử bệnh lý và thời gian nhập viện có ảnh hưởng đến kết quả điều trị. Việc nắm rõ các yếu tố này giúp cải thiện quy trình điều trị.

V. Kết Luận Về Nghiên Cứu Thai Ngoài Tử Cung Vỡ

Nghiên cứu về thai ngoài tử cung vỡ tại Bệnh viện Đa khoa Bạc Liêu đã cung cấp nhiều thông tin quý giá về đặc điểm lâm sàng và kết quả điều trị. Phẫu thuật nội soi là phương pháp hiệu quả, an toàn và cần được áp dụng rộng rãi hơn trong điều trị.

5.1. Tương Lai Của Nghiên Cứu

Nghiên cứu trong tương lai cần tập trung vào việc cải thiện kỹ thuật phẫu thuật và phát triển các phương pháp điều trị mới nhằm nâng cao hiệu quả điều trị cho bệnh nhân.

5.2. Khuyến Nghị Đối Với Bệnh Nhân

Bệnh nhân cần được tư vấn và theo dõi chặt chẽ sau phẫu thuật để đảm bảo sức khỏe và khả năng sinh sản. Việc giáo dục sức khỏe sinh sản cũng rất quan trọng để giảm thiểu nguy cơ thai ngoài tử cung.

09/07/2025
Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng cận lâm sàng và đánh giá kết quả điều trị thai ngoài tử cung vỡ bằng phẫu thuật nội soi tại bệnh viện đa khoa bạc liêu năm 2019 2020

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Dịch tễ học thai ngoài tử cung vỡ Thai ngoài tử cung chiếm 1-2% thai nghén, có thể xuất hiện ở bất cứ người phụ nữ nào đang ở độ tuổi sinh sản có quan hệ tình dục, gây những tai biến sản khoa đe dọa tính mạng và khả năng sinh sản của người phụ nữ [12]. Đây là nguyên nhân gây tử vong cao nhất trong sản khoa trong 3 tháng đầu thai kỳ (4- 10%). Nguy cơ tử vong do thai ngoài tử cung cao gấp 10 lần so với sinh đường âm đạo và cao hơn 50 lần so với nạo phá thai [10], [43].

Tỷ lệ tử vong giảm trong những năm trở lại đây do chẩn đoán sớm và điều trị sớm, tuy nhiên, tỷ lệ thai ngoài tử cung vẫn có xu hướng tăng lên trên thế giới, tỷ lệ này thay đổi tùy theo tuổi, chủng tộc của từng người bệnh. Song song đó, tỷ lệ thai ngoài tử cung tăng có liên quan mật thiết đến các bệnh viêm nhiễm lây truyền qua đường tình dục, tiền sử nạo phá thai … Dù được mô tả lần đầu tiên vào thế kỷ XI nhưng cho đến giữa thế kỷ XVIII, những phụ nữ bị thai ngoài tử cung hầu như không có cơ may sống sót. John Bard đã báo cáo trường hợp thai ngoài tử cung được can thiệp thành công đầu tiên tại thành phố New York vào năm 1759 [10]. Đầu thế kỷ XX, với sự tiến bộ vượt bậc về gây mê hồi sức, kháng sinh, truyền máu đã góp phần làm giảm tỷ lệ tử vong mẹ.

Trong nửa đầu thế kỉ XX, tần suất tử vong mẹ là khoảng 200-400/10.000 trường hợp thai ngoài tử cung. Năm 1992, tại Hoa Kỳ, số lượng thai ngoài tử cung tăng lên 108.800 trường hợp, tuy nhiên tần suất tử vong giảm từ 35,5/10.000 trường hợp năm 1970 xuống còn 2,6/10.000 trường hợp. Tại Pháp, tần suất thai ngoài tử cung là từ 1- 2/100 trường hợp mang thai. Tại Thụy Điển, trong vòng 15 năm thai ngoài tử cung tăng từ 5,8 lên 11,1/1000 trường hợp mang thai.

Tại Vương quốc Anh, tỷ 4 lệ này tăng từ 3,2 lên 4,3/1000 trường hợp mang thai, trung bình khoảng 11.000 trường hợp/năm và tỷ lệ tử vong là 0,4/1000 trường hợp mang tha [10], [11]. Tại Việt Nam, theo Dương Thị Cương, tần suất thai ngoài tử cung khoảng 1/150 – 1/300 thai nghén [13]. Tương tự nhóm nghiên cứu Nguyễn Hồng Cẩm, Trần Phương Nga 2015 tại Bệnh viện Từ Dũ cho thấy có mới quan hệ nhóm tuổi với TNTC. Trình độ học vấn cấp 3 giảm tỉ lệ TNTC gấp 3 lần (p=0,03).

Về hôn nhân sống với chồng giảm nguy cơ TNTC 0,2 lần (p=0,02). Trái ngược với lầm tưởng hay gặp từ xưa đến giờ, đó là thai ở đoạn kẽ thường phát hiện và vỡ ở tuổi thai khá trễ hơn so với những vị trí khác ở ống dẫn trứng. Nhưng những chứng cứ y học hiện nay cho thấy tuổi thai trung bình thai đoạn kẽ khi phát hiện dao động từ 6,9  0,3 tuần theo nghiên cứu của Ho và cs [44], đến 8  2 tuần trong nghiên cứu của Ikechebelu [46]. Tuổi thai khi chẩn đoán của thai đoạn kẽ tương tự như thai ở vị trí khác của ống dẫn trứng là 6,8- 8,8 tuần [50].

Liên quan đến tuổi thai khi vỡ, theo Tulandi trong 32 ca thai đoạn kẽ có: 14 ca bị vỡ, và tất cả đều <12 tuần [62].2 Giải phẫu và sinh lý học buồng trứng và vòi tử cung 1. Hình thể bên ngoài vòi tử cung: Là vòi tử cung (uterine tube), còn gọi là ống Fallope, một đầu mở vào ổ bụng, một đầu thông với buồng TC. Có hai VTC bắt đầu từ mỗi bên sừng TC kéo dài tới sát thành chậu hông và mở thông với ổ bụng ở sát bề mặt của buồng trứng. VTC nằm giữa hai lá của dây chằng rộng và được treo vào phần còn lại của dây chằng rộng bởi mạc treo VTC.

Người trưởng thành, VTC dài 10- 12 cm, đầu nhỏ ở sát sừng TC rồi to dần về phía tận cùng giống như chiếc kèn trompette. 5 - Vòi tử cung được chia làm bốn đoạn: + Ðoạn kẽ: nằm trong thành TC nên còn gọi là đoạn thành, dài 1 cm, đầu trong là miệng lỗ TC - VTC và đầu ngoài tiếp nối với đoạn eo. Ðây là đoạn có lòng ống hẹp nhất, đường kính 0,1 cm. + Ðoạn eo: tiếp theo đoạn kẽ chạy ngang ra ngoài, dài 3 - 4 cm, đây là vị trí cao nhất của VTC, lòng ống hẹp, đường kính 0,4 cm, lớp cơ dày, do đó khi thăm khám có cảm giác đoạn eo tròn và chắc.

Tại đây những cơn co nhịp nhàng của lớp cơ có xu hướng lan toả về phía TC. Tuy vậy, sự vận chuyển qua eo VTC lại theo 2 chiều ngược nhau: tinh trùng đi ngược về phía đoạn bóng trong khi noãn sau khi thụ tinh đi xuôi về buồng TC. Do lòng ống hẹp, nằm gần thành TC và lớp cơ dày nên đoạn eo khó giãn nở, vì vậy khi trứng làm tổ tại đoạn eo thì VTC sẽ bị vỡ sớm. + Ðoạn bóng: tiếp nối giữa đoạn eo và đoạn phễu hay đoạn loa VTC, đi từ dưới lên trên dọc theo bờ trước của buồng trứng, dài 7 cm, phình to, lòng ống rộng, đường kính 0,8 - 1 2 cm.

Niêm mạc rất dày, đội biểu mô lên tạo thành những nếp gấp lồi lõm. Ðoạn bóng được ví như một cái buồng để tinh trùng và noãn gặp nhau, tạo nên hiện tượng thụ tinh. + Ðoạn loa: là đoạn cuối của ống dẫn trứng, tỏa ra như hình cái phễu, có từ 10-12 tua vòi, mỗi tua dài từ 1-1,5 cm, trong đó có một tua dài nhất dính vào dây chằng vòi buồng trứng. Các tua này có nhiệm vụ hứng lấy noãn khi được phóng ra khỏi buồng trứng trong thời kỳ rụng trứng [8], [11].

Hình ảnh tử cung bình thường Nguồn hình: Atlas giải phẫu người ,2008 1. Hệ thống mạch máu tại vòi tử cung - Động mạch ống dẫn trứng xuất phát từ hai nguồn là động mạch buồng trứng và động mạch tử cung, tiếp nối nhau ở trong mạch treo vòi tạo thành những vòng nối cung cấp máu phong phú cho ống dẫn trứng. - Tĩnh mạch đi kèm theo động mạch của buồng trứng - Bạch mạch chảy vào hệ bạch huyết của buồng trứng - Thần kinh chi phối tách ra từ đám rối buồng trứng, nằm xung quanh động mạch buồng trứng [8], [11]. Sự di chuyển trong vòi tử cung và sinh lý bệnh thai ngoài tử cung 1.

Sự di chuyển trong vòi tử cung - Vận chuyển noãn: trong thời kỳ rụng trứng, tua vòi hướng về buồng trứng, quét lên mặt buồng trứng hứng lấy noãn rồi đẩy vào loa vòi, sau đó qua lỗ bụng ống dẫn trứng vào bóng vòi. Tại đoạn bóng, nếu gặp được tinh trùng sẽ xảy ra hiện tượng thụ tinh. Nếu không gặp được, noãn vẫn tiếp tục di chuyển về buồng tử cung rồi bị tống ra ngoài cùng với chất dịch của tử cung. 7 - Vận chuyển tinh trùng: tại đoạn eo, lớp cơ co bóp ngược dòng hướng lên bóng vòi để đẩy tinh trùng đến gặp noãn để thụ tinh.

Đồng thời tác động của progesterone và prostaglandin làm giãn mềm cơ thắt lỗ tử cung vòi tạo điều kiện thuận lợi cho tinh trùng tiến vào VTC. - Vận chuyển phôi: Thông thường sự thụ tinh diễn ra tại đoạn 1/3 ngoài ống dẫn trứng, sau đó phôi tiếp tục di chuyển trong lòng ống nhờ vào nhu động của ống dẫn trứng để đến và làm tổ tại buồng tử cung. Thời gian di chuyển qua VTC hết 6-7 ngày. Sự vận chuyển của các thành phần qua VTC nhờ 3 yếu tố sau: - Co bóp của tầng cơ VTC là chủ yếu dưới sự ảnh hưởng của estrogen và progesterone.

- Sự chuyển động của các vi nhung mao hướng về phía tử cung - Tác dụng của dòng nước trong lòng VTC hướng từ loa vòi về buồng tử cung [8], [10], [11]. Sự phát triển của phôi trong quá trình di chuyển Nguồn hình: Bộ môn giải phẫu học Trang 222[5] 8 1. Sinh lý bệnh thai ngoài tử cung Nhờ hoạt động của ống dẫn trứng mà trứng đã thụ tinh sẽ di chuyển về buồng tử cung để làm tổ và phát triển. Tuy nhiên, trong quá trình di chuyển nếu vì một lý do nào đó mà phôi bị kẹt lại tại ống dẫn trứng hoặc ở một vị trí nào khác, lúc đó, phôi sẽ gắn vào biểu mô, tiếp tục phát triển và làm tổ tại chỗ gây nên thai ngoài tử cung.

Thai tiếp tục phát triển ngoài buồng tử cung nhưng do ống dẫn trứng không đảm bảo cho sự phát triển của thai nên dễ dẫn đến các biến chứng [8]: - Vỡ vòi tử cung: do gai nhau ăn sâu vào lớp cơ làm thủng ống dẫn trứng hoặc do ống dẫn trứng căng to gây vỡ, đồng thời các nhánh mạch máu cũng bị vỡ gây chảy máu vào ổ bụng. Mức độ chảy máu có thể khác nhau: + Chảy máu ồ ạt, gây ngập tràn máu trong ổ bụng. + Chảy từ từ ít một, đọng lại ở vùng thấp và khu trú lại, tạo thành khối máu tụ - Sẩy thai: Vì thai làm tổ lạc chỗ nên dễ bong ra, gây sẩy thai và chảy máu. + Nếu máu chảy được khu trú trong ống dẫn trứng thì gọi là ứ máu trong ống dẫn trứng, bọc thai còn nhỏ sẽ chết và tiêu đi.

+ Nếu bọc thai bong dần, máu chảy ít một và đọng lại trong túi cùng Doug- las hay ở cạnh tử cung sau đó khu trú lại tạo thành khối máu tụ. + Nếu túi thai sẩy, gây tràn máu ngập ổ bụng [10]. Nguyên nhân - các yếu tố nguy cơ thai ngoài tử cung 1.1 Nguyên nhân thai ngoài tử cung Tất cả các yếu tố ngăn cản hay làm chậm trễ sự di chuyển của trứng từ nơi thụ tinh (1/3 ngoài của vòi tử cung) vào đến buồng tử cung đều có thể là nguyên nhân dẫn đến TNTC. Tuy nhiên, thường có 4 nguyên nhân chính: - Cấu tạo bất thường của VTC ngăn cản sự di chuyển của trứng hoặc phôi.

- Rối loạn cân bằng nội tiết làm thay đổi sự vận chuyển của phôi. 9 - Sự bất thường của phôi. - Những yếu tố khác. Trong những nguyên nhân trên, sự bất thường về cấu trúc cũng như bệnh lý tại VTC là nguyên nhân thường gặp nhất trong thai ngoài tử cung.

Khi bị tổn thương, lòng ống dẫn trứng hẹp lại nhưng vẫn có thể cho phép tinh trùng di chuyển, phôi tiếp tục phát triển nên khi di chuyển đến chỗ hẹp, phôi sẽ dừng lại rồi làm tổ tại chỗ mà gây nên thai ngoài tử cung [10], [11]. Các bất thường và bệnh lý tại VTC bao gồm: - Tổn thương bẩm sinh tại VTC. - Viêm VTC cấp tính: Viêm niêm mạc VTC, viêm tại đoạn kẽ VTC.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Tài liệu "Nghiên Cứu Đặc Điểm Lâm Sàng và Kết Quả Điều Trị Thai Ngoài Tử Cung Vỡ Bằng Phẫu Thuật Nội Soi Tại Bệnh Viện Đa Khoa Bạc Liêu" cung cấp cái nhìn sâu sắc về các đặc điểm lâm sàng của thai ngoài tử cung vỡ và hiệu quả của phương pháp phẫu thuật nội soi trong điều trị. Nghiên cứu này không chỉ giúp các bác sĩ và chuyên gia y tế hiểu rõ hơn về tình trạng này mà còn cung cấp thông tin quý giá cho bệnh nhân và gia đình họ về các lựa chọn điều trị an toàn và hiệu quả.

Để mở rộng kiến thức của bạn về chủ đề này, bạn có thể tham khảo tài liệu 1788 nghiên cứu đặc điểm lâm sàng cận lâm sàng và kết quả điều trị thai ngoài tử cung vỡ bằng phẫu thuật nội soi tại bv đa khoa tp cần thơ, nơi cung cấp thêm thông tin về các nghiên cứu tương tự tại Bệnh viện Đa khoa Cần Thơ. Ngoài ra, bạn cũng có thể tìm hiểu thêm về các khía cạnh di truyền liên quan đến y học qua tài liệu Luận văn nghiên cứu tần suất các alen của 15 locus gen hệ identifiler thuộc quần thể người dân tộc tày ứng dụng trong giám định dna nhân tế bào. Những tài liệu này sẽ giúp bạn có cái nhìn toàn diện hơn về các vấn đề liên quan đến sức khỏe và điều trị.