CHƯƠNG 1: TỒNG QUAN NGHIÊN CỨU 1. Các nghiên cứu về khoảng cách kỳ vọng trong kiểm toán Số lượng các nghiên cứu liên quan đến khoảng cách kỳ vọng trong kiểm toán là rất lớn với các phương pháp đánh giá, phạm vi, đối tượng, chủ thể, mục tiêu. Để đánh giá khái quát các nghiên cứu này, tác giả dựa trên tiêu chí mà He (2010) đã đưa ra, bao gồm: chủ thể, đối tượng, và khác biệt. Về “đối tượng” trong các nghiên cứu lại có sự giao thoa lẫn nhau như trách nhiệm kiểm toán viên và mức độ bảo đảm của nghề nghiệp, thông điệp truyền tải qua báo cáo kiểm toán và mức độ đảm bảo.
Mặt khác, về “khác biệt” được nêu trong các nghiên cứu cũng sử dụng rất nhiều thuật ngữ, như sự khác biệt giữa kỳ vọng – nhận thức, kỳ vọng – kỳ vọng, niềm tin – nhận thức và rất khó đánh giá xem thuật ngữ nào là phù hợp nhất. Chính vì vậy, tác giả lựa chọn tiêu chí “chủ thể” để hệ thống hóa lại các nghiên cứu trước đây về khoảng cách kỳ vọng trong kiểm toán. Các chủ thể được đề cập trong các nghiên cứu là rất phong phú như kiểm toán viên, xã hội, công chúng, người sử dụng báo cáo, người hưởng lợi từ dịch vụ kiểm toán… Tuy nhiên, các nghiên cứu về khoảng cách kỳ vọng trong kiểm toán nếu dựa vào tiêu chí “chủ thể” có thể được chia thành 2 nhóm chính bao gồm: (1) các nghiên cứu đánh giá khoảng cách kỳ vọng giữa kiểm toán viên và người sử dụng thông tin và (2) các nghiên cứu đánh giá khoảng cách kỳ vọng chỉ từ phía một chủ thể duy nhất là người sử dụng thông tin. Vì giữa các chủ thể có kiến thức, kinh nghiệm, lợi ích khác nhau nên việc xem xét các nghiên cứu dựa trên tiêu chí này có thể giúp luận án đối chiếu so sánh kết quả giữa các quốc gia hay giữa các thời điểm khác nhau một cách hợp lý.
Mặt khác, các nghiên cứu tiền nhiệm về khoảng cách kỳ vọng trong kiểm toán tập trung vào một số nội dung chính bao gồm: các nghiên cứu chứng minh sự tồn tại khoảng cách kỳ vọng trong kiểm toán, các nghiên cứu về mô hình cấu trúc của khoảng cách kỳ vọng cũng như các nghiên cứu nhằm xây dựng phương pháp đo lường mức độ của khoảng cách kỳ vọng. Các nghiên cứu chứng minh sự tồn tại của khoảng cách kỳ vọng trong kiểm toán 1. Các nghiên cứu chứng minh sự tồn tại của khoảng cách kỳ vọng trong kiểm toán giữa người sử dụng thông tin và kiểm toán viên LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 8 Hầu hết các nghiên cứu đặc biệt là các nghiên cứu thực nghiệm về khoảng cách kỳ vọng trong kiểm toán đều lựa chọn chủ thể bao gồm người sử dụng thông tin và kiểm toán viên vì phương pháp nghiên cứu để xác minh sự tồn tại và đo lường mức độ của sự khác biệt giữa hai chủ thể là không quá phức tạp. Mặt khác, việc xem xét khoảng cách kỳ vọng xuất phát từ cả 2 chủ thể cũng giúp các nhà nghiên cứu đưa ra các giải pháp thu hẹp khoảng cách này trong thực tiễn hiệu quả hơn.
Tuy nhiên, theo Porter (1993), việc đánh giá khoảng cách kỳ vọng dựa trên quan điểm của cả kiểm toán viên là người thực hiện kiểm toán sẽ khiến kết quả nghiên cứu mất đi tính khách quan. Xem xét các nghiên cứu thực nghiệm về khoảng cách kỳ vọng trong kiểm toán giữa kiểm toán viên và người sử dụng thông tin, các lĩnh vực điển hình phát sinh sự khác biệt bao gồm: trách nhiệm của kiểm toán viên, thông tin truyền tải trên báo cáo kiểm toán, mức độ đảm bảo của kiểm toán. Khoảng cách kỳ vọng liên quan đến các trách nhiệm của kiểm toán viên Kết quả các nghiên cứu thực nghiệm cho thấy thường tồn tại khoảng cách kỳ vọng liên quan đến trách nhiệm của kiểm toán viên trong việc phát hiện và báo cáo các gian lận, duy trì hệ thống sổ sách kế toán, sự hữu hiệu của hệ thống kiểm soát nội bộ trong đơn vị được kiểm toán. Ủy ban Cohen (1978) đã lưu ý rằng khác biệt trong nhận thức giữa người sử dụng thông tin và kiểm toán viên liên quan đến trách nhiệm phát hiện gian lận của kiểm toán viên là khác biệt đáng kể nhất trong các khía cạnh tồn tại khoảng cách kỳ vọng.
Ủy ban Cohen (1978) cho thấy một tỷ lệ đáng kể những người sử dụng thông tin xếp hạng việc phát hiện gian lận là một trong những mục tiêu quan trọng nhất của kiểm toán. Ủy ban Cohen (1978) trích dẫn nghiên cứu của Arthur và Co được thực hiện năm 1974 với kết quả 68% cổ đông, 55% các nhà phân tích và môi giới chứng khoán cho rằng chức năng quan trọng nhất của kiểm toán độc lập chính là phát hiện gian lận. Tương tự, Robinson và Lyttle (1991) cũng tin rằng khác biệt đáng kể nhất liên quan đến việc phát hiện và báo cáo các gian lận. Nghiên cứu của Gramling và cộng sự (1996) tại Mỹ đưa ra kết quả 86% người được hỏi không có kinh nghiệm kiểm toán đồng ý rằng kiểm toán viên nên phát hiện tất cả các gian lận, trong khi chỉ có 24% kiểm toán viên được hỏi đồng ý với quan điểm này.
Trong nghiên cứu của Monroe và Woodliff (1993) tại Australia, các sinh viên được điều tra tin rằng kiểm toán viên có trách nhiệm hơn nhà quản lý doanh nghiệp trong việc phát hiện và ngăn chặn gian lận. Kết quả này đã được củng LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 9 cố thêm bởi nghiên cứu của Gay và cộng sự (1998), 74% sinh viên được hỏi chưa hoàn thành môn học kiểm toán đã đồng ý với quan điểm kiểm toán viên chịu trách nhiệm phát hiện gian lận. Mặc dù đã có rất nhiều chuẩn mực hay đạo luật được ban hành quy định rõ trách nhiệm của nhà quản lý doanh nghiệp đối với gian lận hoặc sai sót trọng yếu nhưng các nghiên cứu thực nghiệm được thực hiện sau khi các quy định này được ban hành vẫn cho thấy sự tồn tại của khoảng cách kỳ vọng liên quan đến trách nhiệm này của kiểm toán viên. Tại Mỹ, theo nghiên cứu của McEnroe và Martens (2001), mặc dù các chuẩn mực đã được ban hành để làm rõ trách nhiệm của kiểm toán viên liên quan đến việc phát hiện gian lận nhưng không hiệu quả vì công chúng không tiếp cận những chuẩn mực này.
Một số nghiên cứu khác cũng đề cập tới trách nhiệm của kiểm toán viên trong phát hiện và ngăn chặn các gian lận tại đơn vị được kiểm toán dựa trên các nhóm khảo sát bao gồm kiểm toán viên và người sử dụng thông tin đã đưa ra kết quả cho thấy sự tồn tại khoảng cách kỳ vọng ở khía cạnh này như nghiên cứu của Best và cộng sự (2001) tại Singapore, Fadzly và Ahmad (2004) tại Malaysia, Dixon và cộng sự (2006) tại Ai Cập, Onulaka (2014) tại Nigeria, Kose và Erdogan (2015) tại Turkey, Salifu và Mahama (2015) tại Ghana, Azagaku và Aku (2018) tại Nigeria, Akther và Xu (2020) tại Bangladesh… Như vậy, khoảng cách kỳ vọng liên quan đến trách nhiệm phát hiện gian lận của kiểm toán viên vẫn tồn tại trong thực tiễn. Bên cạnh trách nhiệm phát hiện gian lận, trách nhiệm báo cáo gian lận cũng là một vấn đề tồn tại sự khác biệt trong kỳ vọng giữa người sử dụng và kiểm toán viên. Các chuẩn mực kiểm toán cho rằng việc tiết lộ các gian lận cho bên khác ngoài nhà quản lý và ủy ban kiểm toán của đơn vị được kiểm toán thường không phải là trách nhiệm của kiểm toán viên và sẽ bị loại trừ bởi nghĩa vụ bảo mật thông tin cũng như quy định pháp lý. Tuy nhiên, một số lượng lớn người sử dụng thông tin lại mong muốn kiểm toán viên chấp nhận nghĩa vụ báo cáo với cơ quan quản lý trong trường hợp lợi ích công chúng bị đe dọa.
Quan điểm này cũng có phần hợp lệ vì lợi ích của công chúng là tối quan trọng và không nên bị xâm phạm. Gay và cộng sự (1998) đã tiến hành một cuộc điều tra tại Úc nhằm đánh giá nhận thức của người sử dụng báo cáo tài chính về trách nhiệm của kiểm toán viên đối với việc ngăn chặn, phát hiện và báo cáo các hành vi gian lận và bất hợp pháp. Kết quả cho thấy 68,9% người sử dụng tin rằng các kiểm toán viên được yêu cầu báo cáo nghi ngờ gian lận cho cơ quan chính phủ. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 10 Trách nhiệm phát hiện và báo cáo các gian lận của kiểm toán viên là vấn đề gây tranh cãi nhất mà giới nghề nghiệp kiểm toán trên toàn thế giới phải đối mặt.
Tuy nhiên, từ kết quả của các nghiên cứu có thể dễ dàng nhận thấy rằng người sử dụng thông tin như các chính trị gia, nhà phân tích tài chính, công chúng đều mong muốn kiểm toán viên phát hiện và báo cáo gian lận trong khi đó theo quy định của chuẩn mực kiểm toán, mục tiêu của kiểm toán cũng như quy trình kiểm toán không được thiết kế để phục vụ cho mục đích này. Các nhà nghiên cứu cũng cho rằng một trong các nguyên nhân của sự khác biệt là công chúng không đánh giá đúng bản chất và hạn chế vốn có của kiểm toán trong phát hiện gian lận. Mặt khác, do ban đầu, dịch vụ kiểm toán cung cấp dịch vụ đảm bảo tuyệt đối với việc phát hiện và ngăn chặn gian lận là mục tiêu chính, sau đó chuyển sang cung cấp dịch vụ đảm bảo hợp lý với ý kiến trung thực, hợp lý của báo cáo tài chính là mục tiêu chính nên có sự kỳ vọng quá mức của người sử dụng thông tin đối với trách nhiệm kiểm toán viên (Salehi và cộng sự, 2009). Một số nghiên cứu thực nghiệm cũng chỉ ra rằng trách nhiệm của kiểm toán viên đối với hệ thống sổ kế toán của khách hàng kiểm toán cũng là một lĩnh vực tồn tại khoảng cách kỳ vọng trong kiểm toán ở mức độ đáng kể.
Theo Ủy ban Cohen (1978), trách nhiệm trực tiếp đối với báo cáo tài chính thuộc về ban giám đốc. Trách nhiệm của kiểm toán viên là kiểm toán và đưa ra ý kiến về các thông tin trên báo cáo tài chính. Ủy ban Cohen (1978) lưu ý rằng việc phân chia trách nhiệm này gần đây đang bị thách thức khi có đề xuất cho rằng kiểm toán viên nên chịu trách nhiệm tất cả hoặc một phần đáng kể việc duy trì hệ thống sổ sách kế toán của đơn vị được kiểm toán.