Tổng quan luận án
Sự cần thiết của nghiên cứu xuất phát từ bối cảnh thực tiễn các cuộc khủng hoảng và vụ bê bối tài chính quy mô lớn trên thế giới từ đầu thập niên 1990 như Enron, WorldCom, Parmalat, Hyundai, Lehman Brothers, cùng các sự việc vi phạm công bố thông tin tài chính tại các công ty niêm yết ở Việt Nam kể từ khi thị trường chứng khoán vận hành từ năm 2000 như Bông Bạch Tuyết, Dược Viễn Đông, Vinashin. Các kết quả nghiên cứu học thuật của Kristina (2012) và Beasley cùng cộng sự (2000) chỉ ra rằng một trong những nguyên nhân chủ yếu dẫn đến các sự cố tài chính bắt nguồn từ hành vi gian lận thông tin báo cáo tài chính, sự suy yếu của bộ máy quản trị, giá trị đạo đức, phạm vi vận hành của kiểm soát nội bộ và hạn chế trong kinh nghiệm xét đoán của kiểm toán viên độc lập khi đánh giá gian lận để lập kế hoạch kiểm toán. Khoảng trống nghiên cứu được tác giả xác định là tại Việt Nam còn thiếu vắng các công trình nghiên cứu thực nghiệm kiểm định mối quan hệ tương hỗ giữa việc đánh giá kiểm soát nội bộ, rủi ro gian lận và việc lập kế hoạch kiểm toán báo cáo tài chính nhằm cung cấp bằng chứng cho việc nâng cao chất lượng kiểm toán và tính minh bạch thông tin tài chính.
Mục đích nghiên cứu chính của luận án là kiểm định mối quan hệ giữa việc đánh giá kiểm soát nội bộ, đánh giá các nhân tố rủi ro gian lận, gian lận và việc lập kế hoạch kiểm toán. Tác giả cụ thể hóa mục đích nghiên cứu thành 6 câu hỏi nghiên cứu:
- Kiểm toán viên có thực hiện đánh giá kiểm soát nội bộ trong quá trình thực hiện kiểm toán báo cáo tài chính không?
- Kiểm soát nội bộ yếu kém có phải là nguyên nhân chính dẫn tới các gian lận trong báo cáo tài chính tại các doanh nghiệp không?
- Kiểm soát nội bộ trong các doanh nghiệp Việt Nam hiện nay có ngăn ngừa được các nguy cơ có thể xảy ra gian lận trong báo cáo tài chính không?
- Việc đánh giá các thành phần của kiểm soát nội bộ có ảnh hưởng tới việc lập kế hoạch kiểm toán báo cáo tài chính không?
- Các kiểm toán viên đang đánh giá mức độ quan trọng của các nhân tố rủi ro có thể dẫn tới gian lận như thế nào?
- Kiểm toán viên có sửa đổi lập kế hoạch kiểm toán tương ứng với các nhân tố rủi ro có thể dẫn tới gian lận được đánh giá không?
Đối tượng nghiên cứu của luận án là mối quan hệ giữa kiểm soát nội bộ, rủi ro gian lận (bao gồm hành vi gian lận và các nhân tố rủi ro dẫn tới gian lận) và lập kế hoạch kiểm toán trong quy trình kiểm toán báo cáo tài chính. Trọng tâm xem xét là hành vi đánh giá cá nhân và xét đoán chuyên môn của các kiểm toán viên độc lập trong thực tế hành nghề. Phạm vi nghiên cứu về không gian tập trung vào các kiểm toán viên đang hành nghề tại các doanh nghiệp kiểm toán ở Việt Nam, bao gồm: các chi nhánh công ty kiểm toán quốc tế (như Ernst & Young), các công ty kiểm toán Việt Nam thuộc hãng kiểm toán quốc tế (như DTL), và các công ty kiểm toán độc lập của Việt Nam (IFC, Đại Dương, Thăng Long, Thủ Đô) cùng sự tham gia của Hội Kiểm toán viên hành nghề Việt Nam (VACPA). Phạm vi về thời gian và pháp lý gắn liền với giai đoạn áp dụng hệ thống Chuẩn mực kiểm toán Việt Nam mới theo Thông tư 214/2012/TT-BTC và mốc hoàn thành nghiên cứu vào năm 2015.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Trong luận án, tác giả thực hiện điểm luận có hệ thống các công trình nghiên cứu trong nước và quốc tế liên quan đến ba trụ cột nghiên cứu:
Về kiểm soát và kiểm soát nội bộ: Tác giả dẫn chứng quan điểm của Merchant (1985), Simon (1995), Anthony và Govindarajan (2004), Garrison và Noreen (2000), Nguyễn Quang Quynh (2008), Nguyễn Thị Phương Hoa (2011), Chua cùng cộng sự (1989), Stoner và Wankei (1986). Quá trình tiến hóa của các khuôn khổ kiểm soát được tổng thuật từ thời kỳ kiểm tra nội bộ thập niên 1930 (Sawyer cùng cộng sự, 2003; Heier cùng cộng sự, 2005) đến định nghĩa mở rộng của AICPA (1992), Báo cáo COSO (1992), Báo cáo SAC của Viện Kiểm toán viên Nội bộ IIA (1977), COBIT của ISACA và ITGI (1996, 2000) và Chuẩn mực kiểm toán quốc tế ISA 315 do IFAC/IAASB ban hành năm 2003 (Colbert và Bowen, 1996; Colbert cùng cộng sự, 2005).
Về mối quan hệ giữa kiểm soát nội bộ và gian lận: Tác giả điểm lại nghiên cứu của Kadir (2012) khẳng định kiểm soát nội bộ được thiết kế nhằm giảm thiểu nguy cơ xảy ra gian lận; Roth và Espersen (2003) phân tích hệ thống kiểm soát nội bộ và gian lận tại các ngân hàng ở Iran; Abiola (2009) kiểm định thực nghiệm tác động của kiểm soát nội bộ đến chức năng ngăn chặn và phát hiện gian lận trong hệ thống ngân hàng tại Nigeria; Kristina (2012) chứng minh các sai phạm tài chính là hệ quả của sự suy yếu trong văn hóa doanh nghiệp và phạm vi kiểm soát nội bộ.
Về lập kế hoạch kiểm toán và xét đoán chuyên môn: Nghiên cứu của Terrell (1974), Mautz và Mini (1966), Tabor (1980) về thông tin kiểm soát nội bộ và việc sửa đổi chương trình kiểm toán; William cùng cộng sự (2001) trong tài liệu kiểm toán hiện đại xác định bốn quyết định then chốt khi lập kế hoạch (nội dung, thời gian, phạm vi và nhân sự); Beasley cùng cộng sự (2000) về kinh nghiệm đánh giá rủi ro gian lận của kiểm toán viên; Trotman (1988), Hogarth (1980), Ashton và Ashton (1982) về bản chất xét đoán chuyên môn như một hành vi ra quyết định; Kahneman và Tversky (1974) về lý thuyết xét đoán ra quyết định chủ quan dựa trên các nguyên tắc kinh nghiệm.
Khoảng trống nghiên cứu mà luận án lựa chọn giải quyết là việc tích hợp đồng thời 5 thành phần kiểm soát nội bộ theo mô hình COSO (1992), các nhân tố của tam giác gian lận theo Cressey (1953) cùng các chuẩn mực SAS 82, SAS 99, VSA 240, VSA 300, VSA 315 vào một mô hình kiểm định thực nghiệm tại thị trường kiểm toán Việt Nam. Luận án kiểm tra trực tiếp liệu kiểm toán viên hành nghề tại Việt Nam có thực sự chuyển hóa kết quả đánh giá kiểm soát nội bộ và nhận diện rủi ro gian lận thành các quyết định điều chỉnh kế hoạch kiểm toán tương ứng hay không.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Luận án xây dựng trên nền tảng ba lý thuyết và khung phân tích chính thống:
- Khuôn mẫu kiểm soát nội bộ hợp nhất của COSO (1992): Định nghĩa kiểm soát nội bộ là một quá trình chịu ảnh hưởng bởi Ban Giám đốc, các nhà quản trị và các nhân viên trong đơn vị, được thiết lập nhằm cung cấp sự đảm bảo hợp lý để đạt ba nhóm mục tiêu (hiệu quả, hiệu lực hoạt động; sự tin cậy của báo cáo tài chính; tuân thủ luật pháp và quy định). Hệ thống gồm 5 thành phần: Môi trường kiểm soát, Đánh giá rủi ro, Hoạt động kiểm soát, Thông tin và truyền thông, Giám sát.
- Mô hình tam giác gian lận của Cressey (1950, 1953) và các chuẩn mực kiểm toán (SAS 82, SAS 99, ISA 240, VSA 240): Giải thích ba nhân tố cấu thành rủi ro gian lận gồm: Động cơ hoặc áp lực (sức ép tài chính, chỉ tiêu kinh doanh), Cơ hội (sự lỏng lẻo của kiểm soát nội bộ, quản lý giám sát yếu kém) và Thái độ biện minh cho hành vi gian lận.
- Lý thuyết về xét đoán ra quyết định chủ quan (Heuristics) của Kahneman và Tversky (1974): Nhận diện các thiên lệch khi cá nhân ra quyết định trong điều kiện không chắc chắn dựa trên kinh nghiệm, bao gồm: tính tương tự của các sự kiện sẵn có (Representativeness), tính sẵn có để dùng (Availability), và sự neo tham chiếu cùng điều chỉnh (Anchoring and adjustment).
Dưới đây là bảng so sánh tóm tắt các cơ sở thiết lập kiểm soát nội bộ được tác giả hệ thống hóa trong luận án (Bảng 1.2):
| Nội dung |
COSO (1992) |
COBIT (1996, 2000) |
SAC - IIA (1977) |
AICPA (SAS 55, 78, 94) |
| Đối tượng quan tâm chính |
Các nhà quản lý |
Các nhà quản lý, người sử dụng và KTV công nghệ thông tin |
Các kiểm toán viên nội bộ |
Các kiểm toán viên độc lập |
| Bản chất xem xét |
Một quá trình |
Tập hợp chính sách, thủ tục, thực hành và cơ cấu tổ chức |
Tập hợp các quy trình, nhiệm vụ, hoạt động, phân hệ và con người |
Một quá trình |
| Mục tiêu kiểm soát |
Báo cáo tài chính tin cậy; Hoạt động hiệu lực, hiệu quả; Tuân thủ pháp luật và quy định |
Báo cáo tài chính tin cậy; Hoạt động hiệu lực, hiệu quả; Tuân thủ quy định; Bảo mật, an toàn và tính có ích của thông tin |
Báo cáo tài chính tin cậy; Hoạt động hiệu lực, hiệu quả; Tuân thủ luật pháp và các quy định |
Báo cáo tài chính tin cậy; Hoạt động hiệu lực, hiệu quả; Tuân thủ pháp luật và các quy định |
| Phạm vi áp dụng |
Tổng thể toàn bộ doanh nghiệp |
Hệ thống công nghệ thông tin |
Môi trường tin học và công nghệ thông tin |
Quy trình lập và trình bày báo cáo tài chính |
| Trách nhiệm thiết lập |
Các nhà quản lý |
Các nhà quản lý |
Các nhà quản lý |
Các nhà quản lý |
Phương pháp nghiên cứu thực tế của luận án theo hướng tiếp cận hỗn hợp (Mixed methods), chia thành hai giai đoạn:
- Nghiên cứu định tính: Tác giả tiến hành phỏng vấn sâu các chuyên gia kiểm toán, cán bộ quản lý thuộc Hội Kiểm toán viên hành nghề Việt Nam (VACPA) và các kiểm toán viên giàu kinh nghiệm tại 6 doanh nghiệp kiểm toán (Ernst & Young, DTL, IFC, Đại Dương, Thăng Long, Thủ Đô). Kết quả định tính được sử dụng để điều chỉnh, bổ sung các biến quan sát và hoàn thiện bản câu hỏi khảo sát cho 6 thang đo biến số: Môi trường kiểm soát (Bảng 3.2), Đánh giá rủi ro (Bảng 3.3), Thông tin - truyền thông (Bảng 3.4), Hoạt động kiểm soát (Bảng 3.5), Giám sát kiểm soát (Bảng 3.6), Lập kế hoạch kiểm toán (Bảng 3.7) và Danh mục các nhân tố rủi ro dẫn tới gian lận (Bảng 3.8).
- Nghiên cứu định lượng: Chia làm 2 bước:
- Nghiên cứu sơ bộ: Thực hiện trên một nhóm mẫu nhỏ nhằm đánh giá sơ bộ độ tin cậy thang đo thông qua hệ số Cronbach's Alpha (Bảng 3.9), loại bỏ các biến quan sát không đạt yêu cầu.
- Nghiên cứu chính thức: Thu thập dữ liệu qua phiếu khảo sát gửi tới các kiểm toán viên đang hành nghề tại Việt Nam. Dữ liệu được xử lý bằng các kỹ thuật thống kê mô tả mẫu (Bảng 4.1), kiểm định độ tin cậy Cronbach's Alpha (Bảng 4.2), phân tích nhân tố khám phá EFA (Bảng 4.3), kiểm định t-test cho các giả thuyết về hành vi đánh giá của kiểm toán viên (Bảng 4.6 đến Bảng 4.10) và phân tích hồi quy tuyến tính đa biến (Bảng 4.11).
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Lý luận chung về kiểm soát nội bộ, rủi ro gian lận và lập kế hoạch kiểm toán
Chương 1 hệ thống hóa cơ sở lý luận về quản lý và kiểm soát trong tổ chức. Tác giả phân tích các khái niệm kiểm soát theo quan điểm quản trị học, phân loại kiểm soát theo mức độ ảnh hưởng (trực tiếp, tổng quát), theo nội dung (tổ chức, kế toán), theo thời điểm (trước, trong, sau thực hiện) và theo quan hệ chủ thể - khách thể (kiểm soát bên ngoài, kiểm soát nội bộ). Tác giả so sánh chi tiết các khuôn khổ kiểm soát nội bộ quốc tế (COSO 1992, COSO ERM 2004, COBIT, SAC, SAS 55/78/94) và khẳng định việc lựa chọn mô hình 5 thành phần của COSO làm khung lý thuyết nền tảng cho luận án. Tiếp đó, chương 1 làm rõ khái niệm gian lận báo cáo tài chính và biển thủ tài sản theo SAS 82, SAS 99; phân tích mô hình tam giác gian lận của Cressey (áp lực, cơ hội, biện minh); phân định trách nhiệm ngăn ngừa, phát hiện gian lận của Ban Giám đốc và trách nhiệm duy trì thái độ hoài nghi nghề nghiệp, thu thập bằng chứng của kiểm toán viên độc lập theo ISA/VSA 240. Về lập kế hoạch kiểm toán, tác giả đối chiếu quy định phân cấp lập kế hoạch theo VSA 300 cũ (kế hoạch chiến lược, kế hoạch tổng thể, chương trình kiểm toán) với VSA 300 mới ban hành theo Thông tư 214/2012/TT-BTC (chiến lược kiểm toán tổng thể và kế hoạch kiểm toán), đồng thời tổng hợp 4 quyết định lập kế hoạch của William cùng cộng sự (2001). Cuối cùng, chương 1 phân tích bản chất xét đoán chuyên môn trong kiểm toán (Trotman, 1988; Hogarth, 1980) và vận dụng lý thuyết ra quyết định chủ quan của Kahneman và Tversky (1974) để giải thích cơ chế tư duy của kiểm toán viên khi xử lý thông tin kiểm soát nội bộ và rủi ro gian lận.
Chương 2: Tổng quan nghiên cứu và phát triển giả thuyết
Chương 2 tập trung tổng thuật các công trình nghiên cứu thực nghiệm trong và ngoài nước về mối tương quan giữa ba nhóm biến số chính: kiểm soát nội bộ, rủi ro gian lận và lập kế hoạch kiểm toán. Tác giả xây dựng mô hình nghiên cứu lý thuyết và phát triển hệ thống các giả thuyết nghiên cứu xoay quanh: tác động của kiểm soát nội bộ đối với nguy cơ phát sinh gian lận báo cáo tài chính; mức độ tham gia thực tế của kiểm toán viên trong việc đánh giá từng thành phần kiểm soát nội bộ (môi trường kiểm soát, đánh giá rủi ro, thông tin truyền thông, hoạt động kiểm soát, giám sát); mức độ ảnh hưởng của kết quả đánh giá kiểm soát nội bộ tới các quyết định lập kế hoạch kiểm toán (xác định nội dung, lịch trình, phạm vi thủ tục kiểm toán và bố trí nhân sự); và mức độ nhận diện các nhân tố rủi ro gian lận cùng phản ứng sửa đổi kế hoạch kiểm toán tương ứng của kiểm toán viên. Tác giả cũng minh họa mô hình tư duy thông qua khái niệm tam giác kiểm toán độc lập (Hình 2.1).
Chương 3: Phương pháp nghiên cứu
Chương 3 trình bày chi tiết quy trình thiết kế nghiên cứu từ nghiên cứu định tính đến nghiên cứu định lượng. Tác giả mô tả các bước phỏng vấn chuyên gia VACPA và kiểm toán viên tại các doanh nghiệp kiểm toán E&Y, DTL, IFC, Đại Dương, Thăng Long, Thủ Đô để chuẩn hóa danh mục biến quan sát. Chương này chi tiết hóa cấu trúc 6 bảng thang đo định lượng (Bảng 3.2 đến Bảng 3.7) tương ứng với 5 thành phần kiểm soát nội bộ và biến lập kế hoạch kiểm toán, cùng bảng danh mục các nhân tố rủi ro có thể dẫn tới gian lận (Bảng 3.8). Tác giả trình bày quy trình thử nghiệm thang đo sơ bộ, kỹ thuật phân tích hệ số tin cậy Cronbach's Alpha và công bố kết quả đánh giá thang đo định lượng sơ bộ tại Bảng 3.9, làm căn cứ thiết lập phiếu khảo sát chính thức cho giai đoạn tiếp theo.
Chương 4: Kiểm định giả thuyết và kết quả nghiên cứu
Chương 4 công bố kết quả xử lý dữ liệu khảo sát từ mẫu kiểm toán viên hành nghề thực tế tại Việt Nam (Bảng 4.1). Kết quả kiểm định chất lượng thang đo cho thấy các thang đo đạt độ tin cậy nội tại qua Cronbach's Alpha (Bảng 4.2) và đạt giá trị hội tụ, giá trị phân biệt thông qua phân tích nhân tố khám phá EFA (Bảng 4.3). Về kết quả kiểm định giả thuyết:
- Kết quả khảo sát tại Bảng 4.4 và Bảng 4.5 xác nhận đa số kiểm toán viên đồng thuận rằng hệ thống kiểm soát nội bộ yếu kém là nguyên nhân chính dẫn đến sai sót và gian lận báo cáo tài chính trong doanh nghiệp, đồng thời một hệ thống kiểm soát nội bộ vững mạnh có khả năng ngăn chặn hữu hiệu các nguy cơ gian lận.
- Các kết quả kiểm định giả thuyết đơn lẻ tại các Bảng 4.6, 4.7, 4.8, 4.9 và 4.10 chỉ ra rằng kiểm toán viên tại Việt Nam trên thực tế đều có thực hiện thủ tục tìm hiểu và đánh giá cả 5 thành phần của kiểm soát nội bộ (môi trường kiểm soát, đánh giá rủi ro, thông tin truyền thông, hoạt động kiểm soát, giám sát).
- Tuy nhiên, kết quả phân tích mô hình hồi quy đa biến tổng hợp tại Bảng 4.11 cho thấy việc đánh giá kiểm soát nội bộ chưa tác động mạnh mẽ và tương xứng đến quyết định lập kế hoạch kiểm toán. Việc đánh giá của kiểm toán viên đôi khi chỉ dừng lại ở mức độ thủ tục tuân thủ quy trình kiểm toán mẫu mà chưa thực sự liên kết chặt chẽ để điều chỉnh nội dung, lịch trình và phạm vi thử nghiệm cơ bản.
- Kết quả khảo sát Bảng 4.12 xác định mức độ quan trọng mà kiểm toán viên gán cho từng nhân tố rủi ro dẫn tới gian lận, đồng thời phản ánh kiểm toán viên còn dè dặt hoặc chưa sửa đổi kế hoạch kiểm toán một cách toàn diện khi phát hiện các nhân tố rủi ro gian lận.
Chương 5: Phân tích kết quả nghiên cứu và khuyến nghị
Chương 5 phân tích sâu sắc các hạn chế thực tế của kiểm soát nội bộ trong các doanh nghiệp tại Việt Nam dựa trên kết quả khảo sát: tồn tại trong môi trường kiểm soát (Bảng 5.1), tồn tại trong đánh giá rủi ro (Bảng 5.2), tồn tại trong hệ thống thông tin truyền thông (Bảng 5.3), tồn tại trong hoạt động kiểm soát (Bảng 5.4), và tồn tại trong công tác giám sát (Bảng 5.5). Chương này cũng mổ xẻ những hạn chế trong nghiệp vụ của kiểm toán viên khi đánh giá kiểm soát nội bộ và đánh giá các nhân tố rủi ro gian lận làm cơ sở lập kế hoạch kiểm toán. Tác giả phân tích các nguyên nhân chủ quan và khách quan, nhấn mạnh sự ảnh hưởng của thói quen xét đoán chủ quan theo kinh nghiệm (Heuristics) và sự thiếu hụt quy định pháp lý bắt buộc. Từ đó, chương 5 đưa ra hệ thống khuyến nghị chia làm 3 nhóm đối tượng: (1) Đối với đơn vị được kiểm toán; (2) Đối với doanh nghiệp kiểm toán và các kiểm toán viên hành nghề; (3) Đối với cơ quan quản lý chức năng.
Kết quả và những đóng góp mới
Những đóng góp mới của luận án được tác giả tự xác định trên cả hai phương diện:
Về mặt lý luận:
- Luận án làm rõ cơ chế tác động và mối quan hệ giữa việc đánh giá từng thành phần kiểm soát nội bộ (theo khuôn mẫu COSO) với việc ra quyết định lập kế hoạch kiểm toán báo cáo tài chính của kiểm toán viên độc lập.
- Xây dựng và kiểm định thành công hệ thống thang đo gồm 6 biến số phù hợp với bối cảnh kiểm toán tại Việt Nam thông qua nghiên cứu định tính và 2 bước nghiên cứu định lượng: Môi trường kiểm soát; Đánh giá rủi ro; Các hoạt động kiểm soát; Hệ thống thông tin truyền thông; Giám sát kiểm soát nội bộ; và Lập kế hoạch kiểm toán.
- Khám phá và giải thích mối quan hệ giữa nhận thức, đánh giá các nhân tố rủi ro có thể dẫn tới gian lận (dựa trên mô hình tam giác gian lận) với quyết định sửa đổi kế hoạch kiểm toán.
Về mặt thực tiễn:
- Cung cấp bằng chứng thực nghiệm xác nhận kiểm toán viên độc lập tại Việt Nam hiện nay có thực hiện việc đánh giá kiểm soát nội bộ trong quá trình thực hiện kiểm toán báo cáo tài chính.
- Chỉ ra thực trạng việc đánh giá kiểm soát nội bộ của kiểm toán viên hiện nay chưa thực sự được coi là cơ sở trọng yếu để lập kế hoạch chương trình kiểm toán; việc đánh giá kiểm soát nội bộ đôi khi chỉ mang tính thủ tục hình thức và chưa có sự kết nối trực tiếp với việc xác định phạm vi của các thủ tục kiểm toán tiếp theo.
- Khẳng định sự thiếu hụt và yếu kém của kiểm soát nội bộ là nguyên nhân trực tiếp dẫn tới các sai phạm, gian lận báo cáo tài chính trong các doanh nghiệp tại Việt Nam.
- Chứng minh doanh nghiệp có hệ thống kiểm soát nội bộ được thiết kế và vận hành hữu hiệu có thể ngăn chặn được các nguy cơ xảy ra sai sót và gian lận trong quá trình lập, trình bày báo cáo tài chính.
Các khuyến nghị và giải pháp đề xuất từ luận án:
- Đối với doanh nghiệp được kiểm toán: Cần nâng cao nhận thức của Ban Giám đốc và Ban quản trị về vai trò của kiểm soát nội bộ; hoàn thiện môi trường kiểm soát, chuẩn hóa hệ thống văn bản quy chế, xây dựng quy trình nhận diện và quản trị rủi ro, tách bạch trách nhiệm và duy trì chức năng kiểm toán nội bộ độc lập.
- Đối với doanh nghiệp kiểm toán và kiểm toán viên: Doanh nghiệp kiểm toán cần xây dựng sổ tay hướng dẫn chi tiết quy trình chuyển hóa kết quả đánh giá kiểm soát nội bộ thành các điều chỉnh cụ thể trên chương trình kiểm toán; thường xuyên đào tạo kiểm toán viên kỹ năng xét đoán chuyên môn, thái độ hoài nghi nghề nghiệp và phương pháp nhận diện các dấu hiệu tam giác gian lận; tránh việc thực hiện đánh giá kiểm soát nội bộ một cách hình thức.
- Đối với cơ quan quản lý chức năng (Bộ Tài chính, Ủy ban Chứng khoán Nhà nước): Cần nghiên cứu ban hành các quy định pháp lý bắt buộc các doanh nghiệp (đặc biệt là công ty niêm yết, công ty đại chúng) phải duy trì, tự đánh giá và công bố báo cáo về tính hữu hiệu của hệ thống kiểm soát nội bộ thường niên trên báo cáo tài chính; đồng thời hoàn thiện hệ thống hướng dẫn áp dụng chuẩn mực kiểm toán VSA 300, 315 và 240.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Hạn chế nghiên cứu được tác giả ghi nhận dựa trên phạm vi và điều kiện thực hiện luận án:
- Phạm vi khảo sát tập trung chủ yếu vào các kiểm toán viên đang làm việc tại các công ty kiểm toán tại Việt Nam tham gia trả lời phiếu câu hỏi, quy mô mẫu có thể chưa bao phủ toàn bộ các phân khúc kiểm toán viên trên thị trường.
- Các đánh giá về kiểm soát nội bộ và rủi ro gian lận dựa trên cảm nhận, xét đoán chủ quan của cá nhân kiểm toán viên thông qua khảo sát bảng hỏi, điều này chịu sự chi phối nhất định bởi các thiên lệch nhận thức theo lý thuyết xét đoán chủ quan (Kahneman và Tversky, 1974).
- Hướng nghiên cứu tiếp theo có thể mở rộng khảo sát đối với các nhà quản trị, giám đốc tài chính của các doanh nghiệp được kiểm toán để có góc nhìn đa chiều; đồng thời đi sâu nghiên cứu định lượng tác động của kiểm soát nội bộ trong môi trường ứng dụng công nghệ thông tin phức tạp theo khuôn khổ COBIT.
Giá trị tham khảo
Luận án là tài liệu tham khảo chuyên khảo hữu ích cho nhiều nhóm đối tượng:
- Nghiên cứu sinh, học viên cao học và giảng viên chuyên ngành Kế toán - Kiểm toán: Có thể tham khảo cơ sở lý thuyết tổng hợp về COSO, COBIT, SAC, lý thuyết xét đoán Heuristics của Kahneman & Tversky, cùng bộ công cụ thang đo 6 biến số đã được kiểm định độ tin cậy qua EFA và Cronbach's Alpha trong bối cảnh Việt Nam.
- Kiểm toán viên và các công ty kiểm toán độc lập: Phần phân tích hạn chế thực tiễn trong Chương 4 và Chương 5 cung cấp góc nhìn thực chứng để các công ty rà soát lại phương pháp luận kiểm toán, đảm bảo việc tìm hiểu kiểm soát nội bộ được kết nối thực chất vào việc xác định cỡ mẫu, thời gian và phạm vi kiểm tra chi tiết.
- Các nhà quản trị doanh nghiệp: Tham khảo 5 bảng tổng hợp tồn tại của kiểm soát nội bộ (Bảng 5.1 đến 5.5) để tự đánh giá và hoàn thiện hệ thống kiểm soát nội bộ tại đơn vị mình nhằm phòng ngừa rủi ro gian lận.
- Các nhà hoạch định chính sách tại Bộ Tài chính và Ủy ban Chứng khoán Nhà nước: Cung cấp luận cứ thực tiễn để xây dựng quy chế bắt buộc giải trình về hệ thống kiểm soát nội bộ đối với các đơn vị có lợi ích công chúng.
Câu hỏi thường gặp
1. Kiểm toán viên tại Việt Nam có thực hiện đánh giá kiểm soát nội bộ trong quá trình kiểm toán báo cáo tài chính không?
Có. Kết quả kiểm định thống kê tại các Bảng 4.6 đến 4.10 của luận án khẳng định kiểm toán viên hành nghề tại Việt Nam đều thực hiện các thủ tục đánh giá cả 5 thành phần kiểm soát nội bộ của đơn vị được kiểm toán theo yêu cầu của chuẩn mực nghề nghiệp.
2. Đánh giá kiểm soát nội bộ có thực sự quyết định việc lập kế hoạch kiểm toán của kiểm toán viên không?
Kết quả phân tích mô hình hồi quy ở Bảng 4.11 cho thấy việc đánh giá kiểm soát nội bộ chưa thực sự trở thành căn cứ trọng yếu để kiểm toán viên điều chỉnh kế hoạch kiểm toán. Trong thực tế hành nghề, công tác đánh giá kiểm soát nội bộ đôi khi chỉ mang tính thủ tục hình thức nhằm hoàn thiện hồ sơ kiểm toán mẫu mà chưa có sự gắn kết trực tiếp với việc thu hẹp hoặc mở rộng phạm vi các thử nghiệm cơ bản.
3. Khung lý thuyết nào được luận án sử dụng để giải thích hành vi xét đoán của kiểm toán viên?
Luận án sử dụng Lý thuyết về xét đoán ra quyết định chủ quan của Kahneman và Tversky (1974), bao gồm ba quy tắc kinh nghiệm: tính tương tự của các sự kiện sẵn có (Representativeness), tính sẵn có để dùng (Availability), và sự neo tham chiếu cùng điều chỉnh (Anchoring and adjustment). Lý thuyết này giải thích vì sao kiểm toán viên thường dựa vào kinh nghiệm kiểm toán quá khứ để đưa ra quyết định trong điều kiện thiếu hụt thông tin.
4. Luận án kết luận như thế nào về vai trò của kiểm soát nội bộ đối với rủi ro gian lận báo cáo tài chính?
Kết quả khảo sát tại Bảng 4.4 và 4.5 xác nhận rằng sự yếu kém, thiếu hụt của kiểm soát nội bộ là nguyên nhân trực tiếp dẫn tới gian lận báo cáo tài chính trong các doanh nghiệp tại Việt Nam. Ngược lại, một hệ thống kiểm soát nội bộ được thiết kế và vận hành hữu hiệu có khả năng ngăn chặn và giảm thiểu đáng kể nguy cơ xảy ra sai sót trọng yếu và gian lận.
5. Luận án đề xuất giải pháp chính sách trọng tâm nào đối với cơ quan quản lý nhà nước?
Luận án kiến nghị Bộ Tài chính và Ủy ban Chứng khoán Nhà nước cần xây dựng và ban hành quy định pháp lý bắt buộc các doanh nghiệp (đặc biệt là công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán) phải lập, trình bày và duy trì báo cáo đánh giá tính hữu hiệu của hệ thống kiểm soát nội bộ hàng năm đính kèm báo cáo tài chính.
Kết luận
Luận án tiến sĩ của tác giả đã hệ thống hóa toàn diện các lý thuyết nền tảng về kiểm soát nội bộ theo COSO, tam giác gian lận của Cressey và lý thuyết xét đoán ra quyết định chủ quan của Kahneman và Tversky trong kiểm toán báo cáo tài chính. Thông qua phương pháp nghiên cứu hỗn hợp kết hợp phỏng vấn định tính và khảo sát định lượng kiểm toán viên tại Việt Nam, luận án đã làm rõ thực trạng đánh giá kiểm soát nội bộ, nhận diện rủi ro gian lận và sự hạn chế trong việc kết nối kết quả đánh giá vào quá trình lập kế hoạch kiểm toán. Công trình cung cấp hệ thống thang đo thực nghiệm được kiểm định cùng các khuyến nghị có cơ sở khoa học nhằm nâng cao chất lượng kiểm toán độc lập và hoàn thiện hệ thống kiểm soát nội bộ trong các doanh nghiệp Việt Nam.