Tổng quan luận án
Hoạt động kiểm toán độc lập (KTĐL) giữ vai trò then chốt trong việc kiểm tra, xác nhận tính trung thực và hợp lý của báo cáo tài chính (BCTC), cung cấp thông tin tài chính tin cậy cho các nhà đầu tư, tổ chức tín dụng và cơ quan quản lý nhà nước. Trong bối cảnh nền kinh tế thị trường và thị trường chứng khoán phát triển, chất lượng kiểm toán (CLKT) là yếu tố quyết định uy tín của doanh nghiệp kiểm toán (DNKT) và niềm tin của công chúng. Tuy nhiên, các hạn chế về năng lực kiểm toán viên (KTV), sự cạnh tranh hạ giá phí và sự phát triển quá nhanh về số lượng DNKT đã dẫn đến nguy cơ suy giảm CLKT. Mặc dù khung khổ pháp lý đã có bước chuyển với việc ban hành Luật KTĐL số 67/2011/QH12 (có hiệu lực từ 01/01/2012) và Nghị định số 17/2012/NĐ-CP, công tác kiểm soát CLKT tại Việt Nam vẫn tồn tại nhiều bất cập ở cả góc độ kiểm soát nội bộ lẫn giám sát bên ngoài. Khoảng trống nghiên cứu đặt ra là cần một công trình khoa học hệ thống hóa toàn diện cả về lý luận và thực tiễn, phân tích đồng thời kiểm soát cơ cấu (hệ thống) và kiểm soát kỹ thuật (hoạt động) của KTĐL.
Mục tiêu nghiên cứu của luận án được xác định gồm ba nội dung:
- Nghiên cứu, làm rõ cơ sở lý luận về kiểm soát CLKT của KTĐL, CLKT, các yếu tố ảnh hưởng đến CLKT và kinh nghiệm kiểm soát CLKT tại một số quốc gia trên thế giới.
- Đánh giá thực trạng kiểm soát CLKT của KTĐL tại Việt Nam giai đoạn từ khi hình thành đến nay, chỉ rõ các kết quả đạt được, hạn chế, bất cập và phân tích nguyên nhân của thực trạng.
- Đề xuất các quan điểm, nguyên tắc và hệ thống giải pháp hoàn thiện kiểm soát CLKT phù hợp với thực tiễn tổ chức và hoạt động của KTĐL ở Việt Nam đến năm 2020.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận án:
- Đối tượng nghiên cứu: Những vấn đề lý luận và thực tiễn về CLKT và kiểm soát CLKT; các quy định, hướng dẫn kiểm soát CLKT của Bộ Tài chính (Vụ Chế độ Kế toán và Kiểm toán), Ủy ban Chứng khoán Nhà nước (UBCK), Hội Kiểm toán viên hành nghề Việt Nam (VACPA) và các DNKT; mô hình kiểm soát CLKT tại một số quốc gia.
- Phạm vi nội dung và không gian: Hoạt động kiểm soát CLKT của các DNKT tại Việt Nam, tập trung vào mảng kiểm toán BCTC, không đi sâu vào kiểm soát CLKT đối với kiểm toán quyết toán vốn đầu tư dự án hoàn thành.
- Phạm vi thời gian: Khảo sát quá trình từ khi KTĐL thành lập tại Việt Nam (năm 1991), tập trung đánh giá sâu giai đoạn 2007 - 2013.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Luận án đã tổng quan các công trình nghiên cứu tiêu biểu trong nước và quốc tế liên quan trực tiếp đến đề tài:
Các công trình trong nước:
- Luận án tiến sĩ của Trần Khánh Lâm (2011), Xây dựng cơ chế kiểm soát chất lượng cho hoạt động kiểm toán độc lập tại Việt Nam, Đại học Kinh tế TP. Hồ Chí Minh: Nghiên cứu xây dựng cơ chế, nội dung, phương pháp kiểm soát CLKT đối với DNKT dựa trên khảo sát hơn 100 công ty kiểm toán. Công trình chủ yếu tiếp cận dưới góc độ cơ quan quản lý nghề nghiệp và được thực hiện trước thời điểm ban hành Luật KTĐL 2011, chưa đi sâu giải quyết triệt để các nguyên nhân bên trong DNKT.
- Luận án tiến sĩ của Hoàng Phú Thọ (2011), Kiểm soát chất lượng kiểm toán của kiểm toán Nhà Nước - Thực trạng và giải pháp hoàn thiện, Học viện Tài chính: Phân tích cơ chế kiểm soát của Kiểm toán Nhà nước. Do đặc thù kiểm toán nhà nước có tính tuân thủ pháp luật công quyền, cơ cấu tổ chức và quy trình khác biệt nên không thể áp dụng hoàn toàn vào KTĐL.
- Đề tài khoa học cấp Bộ của Vương Đình Huệ (chủ nhiệm, 2001), Hoàn thiện cơ chế kiểm soát chất lượng hoạt động kiểm toán độc lập ở Việt Nam, Bộ Tài chính: Đặt nền móng lý luận ban đầu về kiểm tra chất lượng dịch vụ KTĐL nhưng diễn ra ở giai đoạn đầu, trước khi hệ thống pháp luật kiểm toán hoàn thiện.
- Sách chuyên khảo của Trần Thị Giang Tân (2009), Kiểm soát chất lượng từ bên ngoài đối với hoạt động kiểm toán độc lập, Nxb Tài chính: Đi sâu vào cơ sở lý luận ngoại kiểm và kinh nghiệm quốc tế tại Pháp, Hoa Kỳ nhưng chưa bao quát thực trạng nội kiểm bên trong DNKT.
- Giáo trình và tài liệu nghiệp vụ của Thịnh Văn Vinh và Giang Thị Xuyến (chủ biên, 2012), Tổ chức quá trình kiểm toán BCTC, Nxb Tài chính: Trình bày quy trình tổ chức kiểm toán nhưng giới hạn ở khía cạnh thực hiện kỹ thuật, chưa làm rõ hệ thống kiểm soát CLKT.
Các nghiên cứu quốc tế:
- Luận án phân tích mô hình quản lý nghề nghiệp tự quản và kiểm soát chất lượng tại Australia với vai trò của CPA Australia, ICAA, IPA và cơ quan quản lý nhà nước ASIC (Ủy ban Chứng khoán và Đầu tư Australia). Trong đó, CPA Australia thực hiện chu kỳ rà soát chất lượng hội viên 3 năm/lần và cho phép thời hạn 5 tháng để khắc phục sai sót.
- Mô hình kiểm soát tại Hoa Kỳ thông qua Hội đồng Giám sát Kế toán Công ty Đại chúng (PCAOB) đối với các công ty niêm yết và Viện Kế toán Công chứng Hoa Kỳ (AICPA) đối với các công ty phi niêm yết.
- Các nghiên cứu lý thuyết nền tảng: Meyer và Rowan (1977) về cấu trúc thể chế và trách nhiệm giải trình xã hội; Smith và cộng sự (2009) về mô hình đánh giá CLKT qua 3 nhóm nhân tố đầu vào (input), quá trình (process) và đầu ra (output); Mautz và Sharaf (1961) về mối quan hệ thân thuộc làm suy giảm tính độc lập; Goldman và Barlev (1974) về tác động của dịch vụ phi kiểm toán; DeAngelo (1981) về mối liên hệ giữa quy mô DNKT, chi phí kiểm toán và sự suy giảm chất lượng khi hạ giá phí (lowballing); cùng các nghiên cứu thực nghiệm của Francis và Simon (1987, 1988), Ettredge và Greenberg (1990), Kwon (1996), Wooten (2003).
Vị trí của luận án:
Kế thừa các nghiên cứu đi trước, luận án giải quyết khoảng trống học thuật bằng cách xây dựng một hệ thống lý luận và thực tiễn hoàn chỉnh về kiểm soát CLKT của KTĐL tại Việt Nam. Luận án kết hợp đồng bộ giữa kiểm soát từ bên trong (nội kiểm) và kiểm soát từ bên ngoài (ngoại kiểm), phân định rõ kiểm soát cơ cấu (hệ thống) và kiểm soát kỹ thuật (hoạt động) trong bối cảnh thực thi Luật KTĐL năm 2011.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Luận án xây dựng khung lý thuyết dựa trên các khái niệm chuẩn mực về kiểm toán, chất lượng và kiểm soát chất lượng:
- Khái niệm kiểm toán: Quá trình do người độc lập, có năng lực chuyên môn tiến hành nhằm thu thập, đánh giá bằng chứng về các thông tin có thể lượng hóa của một thực thể kinh tế, nhằm xác định và báo cáo mức độ phù hợp giữa thông tin đó với các chuẩn mực đã được thiết lập.
- Khái niệm CLKT: Theo Chuẩn mực kiểm toán quốc tế số 220 (ISA 220) và hệ thống Chuẩn mực kiểm toán Việt Nam, CLKT là mức độ thỏa mãn của các đối tượng sử dụng kết quả kiểm toán về tính khách quan, trung thực và độ tin cậy của ý kiến kiểm toán, đồng thời thỏa mãn mong muốn của đơn vị được kiểm toán về các ý kiến tư vấn nâng cao hiệu quả hoạt động với giá phí và thời gian hợp lý.
- Khung phân tích kiểm soát CLKT: Luận án phân loại kiểm soát CLKT thành hai cấp độ và hai phương thức:
- Cấp độ chủ thể: Kiểm soát bên trong (nội bộ DNKT tự thiết lập bộ máy, quy chế, soát xét hồ sơ) và kiểm soát bên ngoài (cơ quan quản lý nhà nước và hiệp hội nghề nghiệp thực hiện kiểm tra định kỳ, đột xuất).
- Phương thức nội dung: Kiểm soát hệ thống (cơ cấu tổ chức, chính sách nhân sự, phân cấp phân nhiệm, quy trình mẫu) và kiểm soát hoạt động (soát xét kỹ thuật trên từng cuộc kiểm toán cụ thể, từng hồ sơ kiểm toán).
Phương pháp nghiên cứu:
- Phương pháp luận: Vận dụng phương pháp duy vật biện chứng và duy vật lịch sử để xem xét sự phát triển của KTĐL gắn liền với sự phát triển của nền kinh tế thị trường.
- Các phương pháp nghiên cứu cụ thể:
- Phương pháp phân tích, tổng hợp: Hệ thống hóa cơ sở lý luận và các quy định pháp lý về kiểm toán và kiểm soát CLKT.
- Phương pháp khảo sát, quan sát và đánh giá tài liệu: Nghiên cứu thực tế các quy chế, hồ sơ kiểm tra chất lượng của Bộ Tài chính, UBCK và VACPA.
- Phương pháp thống kê, so sánh: Sử dụng số liệu thống kê ngành kiểm toán giai đoạn 2007 - 2012 để phân tích xu hướng tăng trưởng doanh thu, số lượng KTV, số lượng DNKT và thực trạng phân loại chất lượng dịch vụ.
Nguồn dữ liệu:
- Văn bản quy phạm pháp luật: Luật Doanh nghiệp, Luật KTĐL số 67/2011/QH12, Nghị định 07/NĐ-CP, Nghị định 17/2012/NĐ-CP, Quyết định số 120/1999/QĐ-KTĐL (ban hành 4 chuẩn mực kiểm toán đợt 1 trong tổng số 37 Chuẩn mực kiểm toán Việt Nam, bao gồm Chuẩn mực 220), Quyết định số 32/2007/QĐ-BTC về Quy chế kiểm soát chất lượng dịch vụ kế toán, kiểm toán.
- Dữ liệu thực tế: Báo cáo tổng kết hàng năm của Bộ Tài chính (Vụ Chế độ Kế toán và Kiểm toán), số liệu giám sát của UBCK, các báo cáo kiểm tra chất lượng định kỳ của VACPA năm 2011, 2012 và số liệu hoạt động của các công ty KTĐL giai đoạn 2007 - 2013.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Cơ sở lý luận về kiểm soát chất lượng kiểm toán của kiểm toán độc lập
Chương 1 có độ dài 40 trang, tập trung xây dựng nền tảng lý luận về KTĐL và cơ chế kiểm soát chất lượng:
- Tổng quan về KTĐL: Phân tích lịch sử hình thành kiểm toán từ nguồn gốc từ ngữ Latinh (auditus - "nghe") đến sự phát triển của kiểm toán độc lập tại Anh, Pháp, Hoa Kỳ và Việt Nam. Phân loại 4 loại hình DNKT tại Việt Nam gồm: Công ty TNHH 2 thành viên trở lên, Công ty 100% vốn đầu tư nước ngoài, Công ty Hợp danh và Doanh nghiệp tư nhân (trên thực tế chưa có DN tư nhân kiểm toán). Luận án chỉ ra rằng loại hình hợp danh chịu trách nhiệm vô hạn nên có động lực tự kiểm soát chất lượng cao hơn loại hình trách nhiệm hữu hạn.
- Phân tích 6 yếu tố ảnh hưởng đến CLKT: (1) Tính độc lập (địa vị pháp lý, tính độc lập về giá phí và nhân sự); (2) Cơ cấu tổ chức và phân cấp, phân nhiệm của DNKT; (3) Hệ thống quy định chuyên môn nghiệp vụ và chuẩn mực kiểm toán; (4) Trình độ chuyên môn, năng lực và đạo đức nghề nghiệp của KTV (tính chính trực, khách quan, thận trọng, bảo mật); (5) Chính sách cán bộ, đào tạo và tiền lương; (6) Quy trình giao việc gắn liền với kiểm tra, kiểm soát.
- Khung nhân tố đánh giá CLKT theo Smith và cộng sự (2009): Gồm nhân tố đầu vào (năng lực nhân sự, chấp nhận khách hàng), nhân tố quá trình (tuân thủ quy trình kiểm toán, thực hiện thử nghiệm) và nhân tố đầu ra (sai sót trên báo cáo tài chính, ý kiến kiểm toán phát hành).
- Đối tượng và chủ thể kiểm soát: Đối tượng kiểm soát là toàn bộ hoạt động kiểm toán và hoạt động quản lý, điều hành kiểm toán; trong đó trọng tâm là quá trình thực hiện quy trình kiểm toán qua 3 giai đoạn: (1) Tiền kiểm toán (chấp nhận, duy trì khách hàng và lập kế hoạch); (2) Thực hiện kiểm toán; (3) Kết thúc kiểm toán, lập báo cáo kiểm toán và xử lý sau kiểm toán.
- Tiêu chí và nội dung kiểm soát CLKT: Luận án phân định chi tiết nội dung kiểm soát hệ thống (chính sách tuyển dụng, đào tạo, đề bạt, tuân thủ đạo đức, phân công nhân sự, xử lý bảo lưu ý kiến) và kiểm soát hoạt động (soát xét của KTV chính, chủ nhiệm kiểm toán, trưởng phòng kiểm toán và bộ phận soát xét độc lập trước khi phát hành báo cáo).
| Yếu tố kiểm soát |
Kiểm soát bên trong (Nội kiểm) |
Kiểm soát bên ngoài (Ngoại kiểm) |
| Chủ thể thực hiện |
Ban Giám đốc DNKT, Phòng Kiểm soát chất lượng, Trưởng nhóm/Chủ nhiệm kiểm toán |
Bộ Tài chính (Vụ CĐKT&KT), Ủy ban Chứng khoán Nhà nước, Hội nghề nghiệp (VACPA) |
| Đối tượng tác động |
KTV hành nghề, trợ lý kiểm toán, các nhóm kiểm toán và từng hồ sơ kiểm toán cụ thể |
Toàn bộ DNKT, KTV hành nghề được cấp phép, hệ thống quy chế nội bộ của DNKT |
| Nội dung trọng tâm |
Kiểm soát hệ thống (chính sách nhân sự, quy trình) và kiểm soát hoạt động (soát xét hồ sơ) |
Kiểm tra tính tuân thủ pháp luật, Chuẩn mực kiểm toán, điều kiện hành nghề và xử lý vi phạm |
| Mục tiêu hướng tới |
Giảm thiểu rủi ro kiểm toán, bảo đảm chất lượng báo cáo kiểm toán phát hành |
Bảo vệ lợi ích công chúng, nâng cao tính minh bạch thị trường và kỷ cương nghề nghiệp |
Chương 2: Thực trạng kiểm soát chất lượng kiểm toán của kiểm toán độc lập tại Việt Nam
Chương 2 có độ dài 37 trang, phản ánh bức tranh thực tế về hoạt động kiểm soát CLKT tại Việt Nam:
- Quá trình phát triển của ngành KTĐL Việt Nam: Từ khi thành lập 2 công ty kiểm toán đầu tiên năm 1991, hoạt động KTĐL phát triển qua các mốc pháp lý quan trọng (Nghị định 07/NĐ-CP năm 1994, hệ thống 37 Chuẩn mực kiểm toán ban hành theo Quyết định 120/1999/QĐ-KTĐL và các đợt tiếp theo, Luật KTĐL 2011). Luận án thống kê cơ cấu doanh thu và chỉ tiêu hoạt động ngành qua các năm 2007 - 2012 (dẫn chiếu Bảng 2.1, 2.2, 2.3, 2.4).
- Thực trạng kiểm soát từ bên ngoài (ngoại kiểm): Từ năm 2009, hệ thống ngoại kiểm được vận hành bởi 3 cơ quan: Bộ Tài chính (Vụ Chế độ Kế toán và Kiểm toán), UBCK và VACPA theo Quy chế ban hành kèm Quyết định số 32/2007/QĐ-BTC. Hoạt động kiểm tra định kỳ và đột xuất đã giúp phát hiện nhiều sai sót trong việc lập hồ sơ kiểm toán, áp dụng thủ tục kiểm toán và tuân thủ chuẩn mực đạo đức.
- Thực trạng kiểm soát từ bên trong (nội kiểm): Các DNKT lớn (đặc biệt là khối công ty có vốn đầu tư nước ngoài) đã xây dựng quy chế kiểm soát nội bộ bài bản. Tuy nhiên, tại nhiều DNKT quy mô nhỏ, công tác nội kiểm còn mang tính hình thức. Tình trạng công ty chỉ duy trì tối thiểu 3 KTV hành nghề dẫn đến việc không thể tổ chức bộ phận soát xét độc lập; KTV vừa trực tiếp thực hiện vừa tự soát xét hoặc soát xét chéo hình thức, vi phạm tính khách quan.
- Đánh giá ưu điểm và hạn chế:
- Ưu điểm: Đã hình thành khung pháp lý cơ bản; các cơ quan quản lý và hội nghề nghiệp đã bước đầu triển khai chương trình kiểm tra chất lượng hàng năm; nhận thức của DNKT về CLKT từng bước được nâng lên.
- Hạn chế: Cơ chế phối hợp giữa 3 cơ quan ngoại kiểm còn chồng chéo; chế tài xử phạt vi phạm chưa đủ sức răn đe; hiện tượng cạnh tranh không lành mạnh bằng cách hạ giá phí kiểm toán (lowballing) diễn ra phổ biến; tỷ lệ KTV trên nhân viên chuyên nghiệp chưa hợp lý.
- Luận án phân tích 4 nhóm nguyên nhân cơ bản: (1) Chuẩn mực nghề nghiệp ban hành chưa hoàn thiện và cập nhật kịp thời so với thực tiễn; (2) KTV không tuân thủ nghiêm ngặt Chuẩn mực kiểm toán do hạn chế năng lực hoặc vì áp lực lợi ích hợp đồng; (3) Năng lực của đội ngũ kế toán tại các doanh nghiệp khách hàng còn yếu kém, BCTC lập có nhiều sai sót trọng yếu; (4) Tốc độ tăng trưởng số lượng DNKT quá nhanh tạo áp lực mất cân đối về nhân sự chất lượng cao.
- Kinh nghiệm quốc tế: Phân tích bài học từ mô hình quản lý giám sát độc lập của PCAOB (Hoa Kỳ) và chương trình rà soát đảm bảo chất lượng của CPA Australia kết hợp giám sát của ASIC.
Chương 3: Giải pháp hoàn thiện kiểm soát chất lượng kiểm toán của kiểm toán độc lập ở Việt Nam
Chương 3 có độ dài 59 trang, đưa ra hệ thống giải pháp toàn diện gắn với định hướng phát triển ngành KTĐL Việt Nam đến năm 2020:
- Định hướng, nguyên tắc và yêu cầu: Quán triệt quan điểm phát triển KTĐL theo hướng chuyên nghiệp, minh bạch, phù hợp thông lệ quốc tế; bảo đảm tính độc lập, khách quan; kết hợp chặt chẽ giữa quản lý nhà nước và tự quản của tổ chức nghề nghiệp.
- Nhóm giải pháp kiểm soát chất lượng từ bên trong DNKT (nội kiểm):
- Xây dựng và chuẩn hóa hệ thống chính sách, quy trình kiểm soát chất lượng theo Chuẩn mực kiểm toán Việt Nam số 220.
- Hoàn thiện cơ cấu tổ chức theo hướng chuyên môn hóa phòng ban theo lĩnh vực kinh doanh của khách hàng (sản xuất, xây lắp, ngân hàng, niêm yết).
- Thực hiện nghiêm ngặt quy trình soát xét hồ sơ kiểm toán 4 cấp: Tự kiểm tra của KTV -> Soát xét của Trưởng nhóm kiểm toán -> Soát xét của Chủ nhiệm kiểm toán/Trưởng phòng -> Soát xét độc lập của Trưởng bộ phận soát xét CLKT trước khi ký phát hành báo cáo.
- Tăng cường quy mô nhân sự: Duy trì tỷ lệ hợp lý giữa KTV hành nghề và nhân viên chuyên nghiệp (khuyến nghị 1 KTV phụ trách 5 - 7 nhân viên), hạn chế tình trạng DNKT chỉ có 3 KTV phụ trách quá nhiều hợp đồng.
- Chuẩn hóa chính sách tuyển dụng, đào tạo thường xuyên, đánh giá định kỳ và đãi ngộ để bảo vệ đạo đức nghề nghiệp của KTV.
- Nhóm giải pháp kiểm soát chất lượng từ bên ngoài (ngoại kiểm):
- Thống nhất và phân định rõ trách nhiệm kiểm tra, giám sát giữa Bộ Tài chính, UBCK và VACPA, tránh trùng lặp nội dung và thời điểm kiểm tra đối với cùng một DNKT.
- Hoàn thiện Quy chế kiểm soát chất lượng dịch vụ kế toán, kiểm toán; bổ sung các tiêu chí đánh giá định lượng và quy trình xử lý vi phạm rõ ràng.
- Nghiên cứu quy định khung giá phí kiểm toán tối thiểu nhằm ngăn chặn hiện tượng hạ giá phí quá mức làm suy giảm phạm vi và chất lượng thủ tục kiểm toán.
- Tăng cường vai trò tự quản của VACPA trong việc đào tạo, cập nhật kiến thức chuyên môn bắt buộc và giám sát đạo đức hội viên.
- Nhóm giải pháp đối với các đơn vị được kiểm toán:
- Nâng cao trình độ nghiệp vụ của đội ngũ kế toán doanh nghiệp nhằm giảm thiểu sai sót sơ bộ trên BCTC trước khi kiểm toán.
- Tăng cường trách nhiệm của Ban quản trị, Ban Kiểm soát tại các công ty niêm yết trong việc lựa chọn và phối hợp với DNKT độc lập.
- Điều kiện thực thi: Phân định chi tiết trách nhiệm và điều kiện thực hiện đối với cơ quan nhà nước (Bộ Tài chính), các hiệp hội nghề nghiệp (VAA, VACPA), các DNKT, KTV hành nghề và các cơ sở đào tạo đại học chuyên ngành Kế toán - Kiểm toán.
Kết quả và những đóng góp mới
Đóng góp về mặt lý luận:
- Hệ thống hóa và làm sâu sắc thêm cơ sở lý luận về CLKT và kiểm soát CLKT trong nền kinh tế thị trường, xác định rõ các yếu tố cấu thành và nhân tố tác động đến CLKT (đầu vào, quá trình, đầu ra; nhân tố bên trong và bên ngoài).
- Xác lập khung lý thuyết phân định rõ giữa kiểm soát hệ thống (cơ cấu) và kiểm soát hoạt động (kỹ thuật), làm rõ mối quan hệ tương hỗ giữa nội kiểm trong DNKT và ngoại kiểm từ cơ quan nhà nước, hội nghề nghiệp.
- Xây dựng hệ thống tiêu chí đánh giá CLKT và kiểm soát CLKT cụ thể áp dụng cho cả DNKT và cơ quan quản lý.
Đóng góp về mặt thực tiễn và giải pháp:
- Phân tích có hệ thống thực trạng kiểm soát CLKT tại Việt Nam giai đoạn 2007 - 2013, làm rõ những chuyển biến sau khi Luật KTĐL 2011 được ban hành.
- Chỉ ra các điểm nghẽn thực tế: Bất cập trong phối hợp ngoại kiểm ba bên (Bộ Tài chính, UBCK, VACPA); hiện tượng cạnh tranh giảm giá phí không lành mạnh; hạn chế về cơ cấu nhân sự tại các DNKT quy mô nhỏ.
- Đề xuất hệ thống giải pháp đồng bộ từ hoàn thiện quy chế nội bộ, phân cấp soát xét hồ sơ 4 cấp, chuẩn hóa tỷ lệ nhân sự đến phân định thẩm quyền giám sát ngoại kiểm và cơ chế kiểm soát giá phí sàn.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Hạn chế của luận án:
- Phạm vi nghiên cứu mới chỉ tập trung vào kiểm toán báo cáo tài chính của các doanh nghiệp, chưa mở rộng nghiên cứu kiểm soát chất lượng đối với dịch vụ kiểm toán quyết toán vốn đầu tư dự án hoàn thành và các dịch vụ đảm bảo phi kiểm toán khác.
- Giai đoạn nghiên cứu thực trạng tập trung từ 2007 đến 2013, là thời điểm Luật KTĐL năm 2011 mới có hiệu lực thi hành, do đó cần thêm thời gian để kiểm chứng mức độ tác động dài hạn của các quy định mới.
Hướng nghiên cứu tiếp theo:
- Mở rộng nghiên cứu cơ chế kiểm soát chất lượng cho các loại hình dịch vụ kế toán, dịch vụ kiểm toán dự án đầu tư xây dựng cơ bản và dịch vụ tư vấn tài chính.
- Nghiên cứu định lượng xây dựng mô hình toán kinh tế đo lường mối quan hệ giữa mức độ tuân thủ quy trình kiểm soát nội bộ và rủi ro kiểm toán tại các DNKT ở Việt Nam.
Giá trị tham khảo
Luận án mang lại giá trị tham khảo cụ thể cho các nhóm đối tượng:
- Đối với cơ quan quản lý nhà nước (Bộ Tài chính, UBCK): Cung cấp căn cứ khoa học và thực tiễn để sửa đổi, hoàn thiện Quy chế kiểm soát chất lượng dịch vụ kế toán, kiểm toán, xây dựng quy chế phối hợp kiểm tra liên ngành và hoạch định chính sách quản lý hành nghề KTĐL.
- Đối với tổ chức nghề nghiệp (VACPA, VAA): Là tài liệu tham khảo để hoàn thiện chương trình kiểm tra chất lượng hội viên, thiết kế chương trình đào tạo cập nhật kiến thức chuyên môn và chuẩn mực đạo đức nghề nghiệp.
- Đối với các doanh nghiệp kiểm toán: Cung cấp khung hướng dẫn thiết lập hệ thống kiểm soát nội bộ, mô hình tổ chức bộ phận soát xét độc lập và quy trình kiểm soát hồ sơ kiểm toán 4 cấp.
- Đối với các cơ sở đào tạo, giảng viên và nghiên cứu sinh: Là tài liệu học thuật hệ thống về chuyên ngành Kế toán - Kiểm toán, phục vụ công tác giảng dạy môn học Kiểm toán tài chính, Kiểm toán nâng cao và định hướng đề tài nghiên cứu liên quan.
Câu hỏi thường gặp
1. Chất lượng kiểm toán của kiểm toán độc lập được định nghĩa như thế nào trong luận án?
Theo luận án, chất lượng kiểm toán của kiểm toán độc lập là mức độ thỏa mãn của các đối tượng sử dụng kết quả kiểm toán về tính khách quan, trung thực và độ tin cậy vào các kết luận, đánh giá, nhận xét của KTV, đồng thời thỏa mãn các yêu cầu về ý kiến đóng góp, tư vấn nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh cho đơn vị được kiểm toán, trong thời gian định trước với mức giá phí hợp lý.
2. Hai nội dung cơ bản của kiểm soát chất lượng kiểm toán là gì?
Kiểm soát chất lượng kiểm toán bao gồm: (1) Kiểm soát hệ thống (kiểm soát cơ cấu) - bao gồm việc thiết kế, ban hành và vận hành hệ thống chính sách, thủ tục, cơ cấu tổ chức bộ máy quản trị, phân cấp phân nhiệm và chính sách nhân sự; (2) Kiểm soát hoạt động (kiểm soát kỹ thuật) - bao gồm việc kiểm tra, giám sát, chỉ đạo và soát xét việc thực hiện các thủ tục nghiệp vụ trên từng cuộc kiểm toán cụ thể và từng hồ sơ kiểm toán.
3. Cơ chế kiểm soát chất lượng từ bên ngoài (ngoại kiểm) tại Việt Nam gồm những cơ quan nào?
Từ năm 2009, hệ thống ngoại kiểm đối với hoạt động KTĐL tại Việt Nam được thực hiện bởi 3 cơ quan quản lý và nghề nghiệp chuyên trách gồm: Bộ Tài chính (thông qua Vụ Chế độ Kế toán và Kiểm toán), Ủy ban Chứng khoán Nhà nước (đối với các DNKT được chấp thuận kiểm toán công ty niêm yết và tổ chức phát hành), và Hội Kiểm toán viên hành nghề Việt Nam (VACPA).
4. Luận án chỉ ra tác động tiêu cực của việc hạ giá phí kiểm toán (lowballing) như thế nào?
Việc cạnh tranh bằng cách hạ thấp giá phí dẫn đến thời gian và chi phí dự kiến cho cuộc kiểm toán bị cắt giảm. Điều này tạo áp lực khiến DNKT và KTV phải thu hẹp phạm vi kiểm toán, bỏ qua một số thủ tục kiểm toán cần thiết, làm suy giảm tính hoài nghi nghề nghiệp và giảm khả năng phát hiện các sai sót trọng yếu trên BCTC.
5. Luận án khuyến nghị quy mô nhân sự tối thiểu trong DNKT như thế nào để bảo đảm chất lượng nội kiểm?
Luận án chỉ ra rằng các công ty chỉ có 3 KTV hành nghề thường không đủ nhân sự để bố trí bộ phận soát xét độc lập và dễ vi phạm quy định luân chuyển KTV ký báo cáo sau 3 năm liên tục. Luận án khuyến nghị DNKT cần duy trì tỷ lệ 1 KTV phụ trách khoảng 5 - 7 nhân viên chuyên nghiệp và quy mô nhân sự chuyên môn cần đạt từ 25 người trở lên để vận hành hệ thống kiểm soát nội bộ hiệu quả.
Kết luận
Luận án tiến sĩ kinh tế của tác giả Nguyễn Anh Tuấn đã giải quyết một cách có hệ thống những vấn đề lý luận và thực tiễn về kiểm soát CLKT của KTĐL tại Việt Nam. Công trình đã làm rõ khung lý thuyết về các nhân tố ảnh hưởng, tiêu chí và nội dung kiểm soát hệ thống lẫn kiểm soát hoạt động; đồng thời phân tích sâu sắc thực trạng kiểm soát nội bộ và giám sát bên ngoài giai đoạn 2007 - 2013 dưới tác động của Luật KTĐL năm 2011. Trên cơ sở đó, luận án đề xuất hệ thống giải pháp đồng bộ, có tính ứng dụng cao đối với DNKT, cơ quan quản lý nhà nước, hội nghề nghiệp và đơn vị được kiểm toán, đóng góp thiết thực vào mục tiêu nâng cao chất lượng và tính minh bạch của dịch vụ KTĐL tại Việt Nam đến năm 2020.