Lời mở đầu "Giải thích các chuẩn mực kiểm toán" của Vương quốc Anh. "Kiểm toán là sự kiểm tra độc lập và là sự bày tỏ ý kiến về những bản khai tài chính của một doanh nghiệp do một KTV được bổ nhiệm để thực hiện những công việc để theo đúng với bất cứ nghĩa vụ pháp định có liên quan". Hoặc cụ thể hơn, có thể dẫn ra quan niệm của các chuyên gia kiểm toán Hoa Kỳ: "Kiểm toàn là sự tích lũy và đánh giá bằng chứng về thông tin đề quyết định và báo cáo về sự phù hợp của của thông tin đó so với các tiêu chuẩn được thiết lập. Kiểm toán được thực hiện bởi một người độc lập, có năng lực chuyên môn” Tương tự như vậy là quan niệm trong giáo dục và đào tạo kiếm toàn ở Cộng hòa Pháp: “Kiểm toàn là việc nghiên cứu và kiểm tra các tài khoản niên độ của một tổ chức do một người độc lập, đủ danh nghĩa gọi là một kiểm toàn viên tiến hành để khẳng định rằng những tài khoản độ phản ánh đúng đắn tinh hình tài chính thực tế, không che giấu 5 sự gian lận và chúng được trình bày theo mẫu chính thức của luật định” Như vậy, dù hiểu theo cách nào thì kiểm toán cũng đều giống nhau ở 5 yếu tố cơ bản như: chức năng (xác minh và bày tỏ ý kiến), đối tượng trực tiếp của kiểm toán (báo cáo tài chính của tổ chức), khách thể (một thực thể pháp lý như công ty, đơn vị tổ chức …), chủ thể (những KTV độc lập có chuyên môn), cơ sở thực hiện (pháp luật, chuẩn mực).
Tuy nhiên, còn một cách hiểu được đánh giá là đơn giản và có nhiều người chấp nhận, được nêu trong Giáo trình Lý thuyết kiểm toán của Học viện tài chính, đó là: “Kiểm toán là quá trình các kiểm toán viên (KTV) độc lập và có năng lực tiến hành thu thập và đánh giá các bằng chứng về các thông tin được kiểm toán nhằm xác nhận và báo cáo về mức độ phù hợp giữa các thông tin này với các chuẩn mực đã được thiết lập” 1.2 Mục đích và vai trò của kiểm toán BCTC Sự ra đời của kiểm toán xuất phát từ nhu cầu tất yếu khách quan của những đối tượng sử dụng thông tin. Mỗi đối tượng sử dụng thông tin sẽ quan tâm đến thông tin ở mỗi góc độ khác nhau nhưng nhìn chung họ đều cần những thông tin trung thực và tin cậy. Vì vậy mà mục đích của kiểm toán BCTC đó là nhằm xác minh tính trung thực, hợp lý của BCTC hay cung cấp thông tin tài chính tin cậy cho các đối tượng sử dụng. Từ đó, việc kiểm toán BCTC sẽ giúp: - KTV có được những bằng chứng xác thực về việc BCTC có được lập và phản ánh trung thực hợp lý, tin cậy trên cơ sở các khía cạnh trọng yếu, chuẩn mực, chế độ kế toán hiện hành và các quy định của pháp luật hay không? - Là cơ sở để các đối tượng sử dụng thông tin đưa ra các quyết định kinh tế, quản lý, quản trị quan trọng.
- Nâng cao vị thế, uy tín của đơn vị được kiểm toán và chất lượng thông tin tài chính của đơn vị 1.3 Khái quát về quy trình kiểm toán BCTC Thông thường, một cuộc kiểm toán BCTC sẽ thường đi qua 3 giai đoạn, gồm: chuẩn bị và lập kế hoạch kiểm toán, thực hiện, kết thúc 6 Giai đoạn chuẩn bị và lập kế hoạch kiểm toán Theo thường lệ, các đơn vị có nhu cầu kiểm toán BCTC sẽ lựa chọn doanh nghiệp cung cấp dịch vụ kiểm toán và gửi thư mời kiểm toán. Sau khi nhận được thư mời, doanh nghiệp kiểm toán sẽ tiến hành các công việc chủ yếu như: - Tìm hiểu thông tin sơ bộ về khách hàng như: ngành nghề, lĩnh vực kinh doanh, môi trường, điều kiện kinh doanh, công tác tài chính- kế toán. - Xem xét lý do, yêu cầu kiểm toán của khách hàng có thỏa đáng và hợp lý hay không? - Chuẩn bị nội dung đàm phán, thực hiện đàm phán đi đến thỏa thuận chung và ký kết hợp động kiểm toán - Sau khi kí kết, doanh nghiệp kiểm toán sẽ thực hiện việc bố trí nhân sự, chuẩn bị các phương tiên phục vụ, kinh phí để phục vụ cho cuộc kiểm toán Tiếp theo là giai đoạn lập kế hoạch kiểm toán. Lập kế hoạch kiểm toán được coi là bước công việc đầu tiên cho một cuộc kiểm toán và có ảnh hưởng quan trọng đến các bước công việc tiếp theo.
Kế hoạch kiểm toán phù hợp sẽ cho phép KTV triển khai công việc đúng hướng, đúng trọng tâm, tránh được những sai sót, hoàn tất công việc nhanh chóng. Ở giai đoạn này, công việc sẽ thường là: - Tổng hợp các thông tin về tình hình hoạt động kinh doanh của khách hàng, các thông tin quan trọng liên quan đến BCTC (như: chế độ, chuẩn mực kế toán, yêu cầu về lập, nộp BCTC và quyền hạn của đơn vị) - Tìm hiểu hệ thống KSNB của đơn vị, xác định những rủi ro, sai sót trọng yếu có thể xảy ra để tìm mục tiêu kiểm toán trọng tâm, phướng pháp tiếp cận kiểm toán - Lên kế hoạch về nhân sự, thời gian thực hiện, kinh phí Giai đoạn thực hiển kế hoạch kiểm toán Đây chính là triển khai thực hiện chương trình khảo sát về KSNB đối với các chu trình kinh doanh chủ yếu hoặc các khoản mục mà đã được thiết kế trong chương trình kiểm toán. Một số công việc ở giai đoạn này là: - Thực hiện các nội dung của kế hoạch kiểm toán và chương trình kiểm toán: 7 áp dụng các phương pháp, kỹ thuật kiểm toán để thu thập bằng chứng kiểm toán, xác nhận hệ thống, thực hiện thử nghiệm cơ bản,… - Trao đổi với nhân viên, thành viên ban lãnh đạo đơn vị để tìm hiểu thông tin, thông báo về các sai phạm phát hiện được, tìm hiểu nguyên nhân sai phạm, đưa ra những nhận xét, kiến nghị - Phân tích đánh giá các bằng chứng kiểm toán đã thu thập được, đưa ra kết luận ở từng bước, từng thủ tục kiểm toán. - Thực hiện các khảo sát cơ bản để kiểm tra các soát xét tổng hợp khác (như: các sự kiện phát sinh sau ngày lập báo cáo kiểm toán, khả năng hoạt động liên tục của đơn vị, các giải trình của ban giám đốc đơn vị) - Trao đổi với ban quản lý đơn vị để đưa ra kết luận thống nhất về nội dung được kiểm toán Giai đoạn kết thúc kiểm toán Đây là giai đoạn tổng hợp các kết quả đã đạt được trong hai giai đoạn trên và thực hiện một số thủ tục, kỹ thuật kiểm toán có tính chất tổng quát để có đủ những yếu tố cần thiết cho việc hoàn tất cuộc kiểm toán, như: - Tổng hợp kết quả của cuộc kiểm toán - Lập báo cáo kiểm toán và ý kiến trao đổi với nhà quản lý - Thỏa thuận lại với đơn vị kiểm toán - Soát xét, kiểm soát chất lượng và phát hành báo cáo kiểm toán 1.2 Tổng quan về kỹ thuật chọn mẫu 1.1 Khái quát chung về mẫu 1.1 Khái niệm về chọn mẫu Chuẩn mực kiểm toán số 530 được ban hành bởi BTC (2012) giải nghĩa khái niệm “Chọn mẫu kiểm toán” (hay còn gọi là lấy mẫu kiểm toán) là việc áp dụng các thủ tục kiểm toán trên số phần tử ít hơn 100% tổng số phần tử của một tổng thể kiểm toán sao cho tất cả các đơn vị lấy mẫu đều có cơ hội được lựa chọn nhằm cung cấp cho KTV cơ sở hợp lý để đưa ra kết luận về toàn bộ tổng thể.
8 Chọn mẫu có thể tiến hành theo phương pháp thống kê hoặc phi thống kê 1.2 Các khái niệm liên chọn về chọn mẫu a) Tổng thể Tổng thể là toàn bộ dữ liệu mà từ đó KTV chọn mẫu để có thể đi đến một kết luận. Tất cả các phần tử trong một số dư tài khoản hay một loại nghiệp vụ cấu thành một tổng thể. Một tổng thể có thể được chia thành các nhóm hoặc các tổng thể con và mỗi nhóm được kiểm tra riêng. Trong trường hợp này, thuật ngữ “tổng thể” bao hàm cả thuật ngữ “nhóm”.
Mỗi phần tử trong tổng thể được gọi là đơn vị tổng thể. Mỗi đơn vị được lựa chọn ra được gọi là đơn vị mẫu. Tập hợp các đơn vị mẫu được gọi là mẫu. Ví dụ khi tìm hiểu về sổ sách của tài khoản 141 – Tạm ứng ta thấy có 125 nghiệp vụ phát sinh trong kỳ.
Ta gọi đó là tổng thể dữ liệu của tài khoản 141 gồm 125 đơn vị tổng thể. Trong tài khoản 141 có 4 tài khoản cấp 4 ứng với từng đối tượng liên quan. Như vậy, khi kiểm toán tài khoản 141, ta sẽ tiến hành kiểm tra từng nhóm tài khoản chi tiết một cách độc lập giúp KTV vừa có cái nhìn tổng quát, lô - gíc vừa có thể hiểu chi tiết, rành mạch hơn về từng tài khoản. b) Đơn vị lấy mẫu Đơn vị lấy mẫu là các phần tử riêng biệt cấu thành tổng thể.
Chẳng hạn, đơn vị lấy mẫu có thể có số dư bên Có của tài khoản 131 - Các khoản phải thu khách hàng, hay số dư Nợ của tài khoản tiền gửi ngoại tệ KRW… Đơn vị lấy mẫu có thể là một đơn vị tiên tệ, một đơn vị hiện vật hoặc số lượng c) Cỡ mẫu Cỡ mẫu là số lượng các phần tử trong tổng thể được lựa chọn theo tiêu thức nhất định để kiểm tra. Cỡ mẫu có thể được xác định thông qua các tính toán thống kê hoặc dựa trên xét đoán chuyên môn của KTV (phi thống kê). Mức độ rủi ro lấy mẫu mà KTV có thể chấp nhận ảnh hưởng tới cỡ mẫu yêu cầu. Mức độ rủi ro mà KTV có thể chấp nhận càng thấp thì cỡ mẫu cần thiết sẽ càng lớn.
Các ảnh hưởng đặc trưng của các yếu tố khác nhau tới việc xác định cỡ mẫu được trình bày trong phụ lục số 01 và 02. Trong các hoàn cảnh giống nhau, ảnh 9 hưởng của các yếu tố lên cỡ mẫu như đề cập tới trong Phụ lục 01 và 02 sẽ tương tự nhau cho dù lựa chọn phương pháp thống kê hay phi thống kê. d) Mẫu kiểm toán Mẫu kiểm toán là một phần dữ liệu được lấy ra từ tổng thể để thực hiện các phép thử cơ bản và tuân thủ để đánh giá. Từ kết quả của mẫu kiểm toán suy ra kết quả cho tổng thể.
Mẫu kiểm toán phải đảm bảo đủ đại diện cho cả tổng thể và có đầy đủ các tiêu thức và đặc trưng của tổng thể. e) Mẫu đại diện Mẫu đại diện là mẫu mà đặc điểm của mẫu cũng giống như những đặc điểm của tổng thể.