Chương I: Lý luận chung về kiểm toán báo cáo tài chính của kiểm toán độc lập. Chương II: Thực trạng kiểm toán báo cáo tài chính tại công ty TNHH Tư vấn Đầu tư, Tài chính, Kế toán, Thuế - Kiểm toán COM. Chương III: Giải pháp hoàn thiện kiểm toán báo cáo tài chính tại công ty TNHH Tư vấn Đầu tư, Tài chính, Kế toán, Thuế - Kiểm toán COM. Trong quá trình nghiên cứu, do khả năng và trình độ còn có hạn nên luận văn không tránh khỏi những thiếu sót, khiếm khuyết.
Tác giả mong nhận đƣợc những ý kiến đóng góp, chỉ dẫn, giúp đỡ của các thầy, cô giáo, các nhà khoa học, các nhà quản lý để nội dung Luận văn của tác giả đƣợc hoàn thiện hơn. Tác giả xin chân thành cảm ơn TS. Phan Thị Anh Đào và các anh chị đang công tác tại Công ty TNHH Tƣ vấn Đầu tƣ, Tài chính, Kế toán, Thuế - Kiểm toán COM.PT đã tận tình giúp đỡ tôi hoàn thành bài viết này. Học viên thực hiện 7 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ KIỂM TOÁN BÁO CÁO TÀI CHÍNH CỦA KIỂM TOÁN ĐỘC LẬP 1.
KIỂM TOÁN BÁO CÁO TÀI CHÍNH 1.1 Khái niệm kiểm toán báo cáo tài chính Kiểm toán báo cáo tài chính "Là sự xác minh và bày tỏ ý kiến về những bản khai tài chính do kiểm toán viên đƣợc bổ nhiệm để thực hiện những công việc đó theo đúng với bất cứ nghĩa vụ pháp định có liên quan" (Lý thuyết kiểm toán - GS.TS Nguyễn Quang Quynh). Theo quan điểm của tác giả: “Kiểm toán là việc kiểm toán viên đƣợc bổ nhiệm kiểm tra sự độc lập và bày tỏ ý kiến về các khía cạnh tài chính của một tổ chức kinh tế dựa trên các nghĩa vụ pháp lý có liên quan”. Nhƣ vậy về thực chất, kiểm toán báo cáo tài chính của kiểm toán độc lập là loại hình hoạt động dịch vụ kiểm toán và tƣ vấn cho các kiểm toán viên chuyên nghiệp thuộc các tổ chức kiểm toán độc lập thực hiện theo yêu cầu của khách hàng. Đối tƣợng kiểm toán báo cáo tài chính Đối tƣợng kiểm toán báo cáo tài chính là các Bảng khai tài chính, bộ phận quan trọng của những bảng khai này là Báo cáo tài chính.
Theo định nghĩa trong Chuẩn mực kiểm toán Việt Nam: "Báo cáo tài chính là hệ thống báo cáo đƣợc lập theo chuẩn mực và chế độ kế toán hiện hành hoặc đƣợc chấp nhận phản ánh các thông tin kinh tế, tài chính chủ yếu của đơn vị" (Chuẩn mực 200- điểm 04). Ngoài ra, Bảng khai tài chính còn bao gồm những bảng kê khai có tính hợp lý khác nhƣ bảng kê khai tài sản cá nhân, bảng kê khai tài sản đặc biệt (kể cả các bảng kê khai tài sản doanh nghiệp phá sản hoặc bán đấu giá.), các bảng khai theo yêu cầu riêng của chủ đầu tƣ. Là bảng tổng họp, các bảng khai này đều chứa đựng những thông tin lập ra tại 8 một thời điểm cụ thể trên cơ sở những tài liệu kế toán tổng hợp và chi tiết dựa theo những quy tắc cụ thể xác định. Do vậy, một thông tin chứa đựng trong mỗi bảng kê khai tài chính trên một khoản mục cụ thể đều mang trong nó nhiều mối quan hệ theo hƣớng khác nhau: giữa khoản mục này với các khoản mục có liên quan khác, giữa số tiền ghi trên khoản mục với số dƣ hoặc với số phát sinh của các tài khoản tƣơng ứng, giữa thông tin trên từng loại khoản mục với các quy tắc xác lập chúng.
Nhƣ vậy, khi nói đến đối tƣợng kiểm toán tài chính là các bảng khai tài chính là nói đến quan hệ trực tiếp. Trên cả lý luận cũng nhƣ thực tế, để xác định và bày tỏ ý kiến về Bảng khai tài chính, kiểm toán tài chính không thể tách rời các tài liệu kế toán, các hoạt động kinh doanh và các tổ chức của đơn vị nhằm xác định cụ thể độ tin cậy của từng khoản mục cũng nhƣ mối quan hệ kinh tế chứa đựng trong các số dƣ, trong các chỉ tiêu phản ánh mối quan hệ bên trong của hoạt động tài chính. Việc thực hiện kiểm toán báo cáo tài chính có hai cách tiếp cận dựa trên cách phân chia kiểm toán báo cáo tài chính thành khoản mục hoặc chu trình. Kiểm toán theo khoản mục: là cách phân chia máy móc theo từng khoản mục hoặc nhóm các khoản mục theo thứ tự bên trong các Bảng khai tài chính vào một phần hành.
Cách chia này đơn giản xong không hiệu quả do cách biệt những khoản mục ở vị trí khác nhau nhƣng có liên hệ chặt chẽ với nhau hàng tồn kho và giá vốn hàng bán chẳng hạn. Kiểm toán theo chu trình: là cách chia thông dụng hơn căn cứ vào mối liên hệ chặt chẽ lẫn nhau giữa các khoản mục, các quá trình cấu thành, các yếu tố trong một chu trình của hoạt động tài chính. Chẳng hạn, các nghiệp vụ về doanh thu, doanh thu trả lại, các khoản thu tiền bán hàng và số dƣ các khoản phải thu đều nằm trong chu trình tiêu thụ. Cách phân chia này có hiệu quả hơn do xuất phát từ mối liên hệ trong kinh tế và trong ghi sổ kế toán chứa 9 đựng trong Bảng khai tài chính.
Mối quan hệ giữa chủ thể và khách thể kiểm toán Theo nguyên tắc chung về tổ chức kế toán. Bảng khai tài chính (báo cáo kế toán) của mỗi đơn vị đƣợc lập ra trƣớc hết từ các đơn vị kế toán cơ sở: đó là những đơn vị đầu tiên (nhỏ nhất) khép kín chu trình kế toán từ lập chứng từ đến lập báo cáo kế toán. Thực chất đây là những đơn vị độc lập (tƣơng đối) về tài chính từ khâu đầu tƣ vốn đến khâu phân chia lợi tức (kết quả). Các đon vị này có thể là một đơn vị độc lập riêng biệt hoặc là đơn vị thành viên của đon vị hợp nhất (kể cả các công ty con của các công ty quốc tế) song đều có tƣ cách pháp nhân độc lập.
Vì vậy, cần xác định rõ khách thể kiểm toán nói chung và trong từng cuộc kiểm toán cụ thể. Việc xác định này trƣớc hết phải dựa vào hệ thống pháp lý đang có hiệu lực. Trong từng trƣờng hợp cụ thể hệ thống pháp lý chƣa có hoặc chƣa đƣợc thể chế hoá cụ thể, cần dựa vào các nguyên tắc và thông lệ chung của kiểm toán quốc tế. Trong quan hệ này, văn bản chỉ đạo kiểm toán quốc tế (IAG) đã xác định khách thể kiểm toán tài chính là một thực thể kinh tế độc lập cũng trùng hợp với nguyên tắc chung về tổ chức kế toán và quản lý.
Trong việc nhìn nhận khách thể kiểm toán cần chú ý những quan hệ kinh tế, pháp lý giữa các bên có liên quan. Các quan hệ này có ảnh hƣởng trực tiếp đến việc lập và kiểm toán Bảng khai tài chính và trong quan hệ giữa các khoản mục (trong và ngoài bảng) cũng nhƣ đánh giá số liệu ghi trên mỗi khoản mục. Về chủ thể kiểm toán, cũng có những quan niệm khác nhau về vị trí của từng bộ máy kiểm toán cũng nhƣ mối quan hệ của từng bộ máy này với các khách thể kiểm toán. Mối quan hệ giữa chủ thể và khách thể kiểm toán là mối quan hệ ngoại kiểm.
"Tính ngoại kiểm" này khác nhau tuỳ thuộc vào mức độc lập của chủ 10 thể kiểm toán và quan hệ cụ thể của chủ thể đó với một khách thể cụ thể. Đối tƣợng kiểm toán có trách nhiệm cung cấp kịp thời, đầy đủ và trung thực mọi thông tin tài chính cần thiết có liên quan, tạo điều kiện thuận lợi cho kiểm toán việc thực hiện kiểm toán và trả đủ, kịp thời phí kiểm toán theo thoả thuận trong họp đồng. QUY TRÌNH KIỂM TOÁN BÁO CÁO TÀI CHÍNH Nhằm nâng cao chất lƣợng, hiệu quả và đảm bảo chi phí hợp lý cho mỗi cuộc kiểm toán với kiểm toán nói chung và kiểm toán độc lập nói riêng đều cần một quy trình kiểm toán phù hợp vào đặc thù của các tổ chức này. Quy trình kiểm toán đƣợc chia thành 3 giai đoạn: lập kế hoạch và thiết kế phƣơng pháp kiểm toán, thực hiện kế hoạch kiểm toán, hoàn thành kiểm toán và công bố báo cáo kiểm toán.1: Ba giai đoạn của một cuộc kiểm toán báo cáo tài chính 1.
Lập kế hoạch và thiết kế phƣơng pháp kiểm toán Công việc lập kế hoạch bao giờ cũng là khâu đầu tiên của một quá trình đối với một cuộc kiểm toán báo cáo tài chính, điều này đòi hỏi kiểm toán viên cần phải có đầu óc phán đoán nhanh nhạy, tổng hợp, nắm bắt vấn đề một cách nhanh chóng. Đây là điều kiện bắt buộc không những làm tiền đề cho cả quá trình làm việc mà điều đó còn chứng tỏ cho khách hàng thấy quá trình làm việc của 11 kiểm toán viên là cả một quá trình sắp xếp khoa học và có căn cứ. Điều đó sẽ giúp cho đơn vị đƣợc kiểm toán thấy đƣợc sự hợp lý trong công việc và tạo điều kiện giúp cho kiểm toán viên hoàn thành cuộc kiểm toán theo đúng kế hoạch. Nhƣ vậy, lập kế hoạch là giai đoạn đầu tiên của một cuộc kiểm toán có vai trò quan trọng, chi phối tới chất lƣợng và hiệu quả chung của toàn bộ cuộc kiểm toán, biểu hiện: - Kế hoạch kiểm toán thích hợp sẽ giúp cho kiểm toán viên xác định trọng tâm của cuộc kiểm toán để tập trung thời gian và lực lƣợng kiểm toán nhằm hạn chế sai sót.
- Tạo sự phối hợp có hiệu quả giữa các kiểm toán viên với nhau, giữa kiểm toán viên với các bộ phận có liên quan. Đồng thời, qua sự phối hợp có hiệu quả trong quá trình kiểm toán, giúp cho cuộc kiểm toán thực hiện theo đúng chƣơng trình đã lập với chi phí cuộc kiểm toán ở mức độ hợp lý và có hiệu quả. - Căn cứ vào kế hoạch kiểm toán đã đƣợc lập và các công việc kiểm toán đã thực hiện để kiểm toán và đánh giá chất lƣợng của công việc kiểm toán, tránh đƣợc sự bất đồng với khách hàng về chất lƣợng của công việc kiểm toán, thời gian tiến hành kiểm toán. Từ đó duy trì tốt mối quan hệ giữa công ty kiểm toán với khách hàng.
- Lập kế hoạch kiểm toán (bao gồm kế hoạch kiểm toán tổng quát và kế hoạch kiểm toán chi tiết) gồm các bƣớc công việc nhƣ sau: 12 Sơ đồ 1.