Tổng quan luận án
Luận án Tiến sĩ Kinh tế với đề tài "Kiểm soát chất lượng kiểm toán của kiểm toán độc lập - Thực trạng và giải pháp hoàn thiện" được thực hiện bởi nghiên cứu sinh Nguyễn Anh Tuấn, dưới sự hướng dẫn khoa học của TS. Hà Minh Sơn, thuộc chuyên ngành Kế toán (mã số 62.01), Học viện Tài chính (Hà Nội, năm 2014).
Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu
Hoạt động kiểm toán độc lập (KTĐL) tại Việt Nam được hình thành từ ngày 05/08/1991 và hoạt động theo khung pháp lý ban đầu là Nghị định số 07/NĐ-CP ngày 29/01/1994. Đến năm 2011, Quốc hội khóa XII đã thông qua Luật KTĐL số 67/2011/QH12 (có hiệu lực từ ngày 01/01/2012), được hướng dẫn chi tiết bởi Nghị định số 17/2012/NĐ-CP. Hoạt động kiểm toán độc lập đóng vai trò xác nhận tính trung thực, hợp lý của báo cáo tài chính (BCTC), cung cấp thông tin cho các quyết định kinh tế của nhà đầu tư, cơ quan quản lý và các bên liên quan. Do đó, chất lượng kiểm toán (CLKT) và việc kiểm soát chất lượng kiểm toán (KSCLKT) giữ vị trí then chốt.
Về mặt kiểm soát nội bộ (nội kiểm), từ năm 1999, Bộ Tài chính đã ban hành hệ thống Chuẩn mực kiểm toán (CMKiT) Việt Nam gồm 37 chuẩn mực, trong đó có Chuẩn mực số 220 về "Kiểm soát chất lượng hoạt động kiểm toán". Về mặt kiểm soát bên ngoài (ngoại kiểm), Bộ Tài chính đã ban hành Quyết định số 32/2007/QĐ-BTC về Quy chế kiểm soát chất lượng dịch vụ kế toán, kiểm toán. Từ năm 2009, hệ thống giám sát hành nghề KTĐL được phân công cho 3 cơ quan: Bộ Tài chính (Vụ Chế độ Kế toán và Kiểm toán), Ủy ban Chứng khoán Nhà nước (UBCK) và Hội Kiểm toán viên hành nghề Việt Nam (VACPA). Tuy nhiên, cơ chế kiểm soát chất lượng kiểm toán tại Việt Nam vẫn bộc lộ những bất cập, hiệu lực và hiệu quả kiểm soát chưa cao.
Tác giả chỉ ra 4 nhóm nguyên nhân ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng kiểm toán tại Việt Nam:
- Hệ thống chuẩn mực nghề nghiệp ban hành chưa đầy đủ và chưa hoàn thiện so với thực tiễn.
- Kiểm toán viên (KTV) hành nghề không tuân thủ đầy đủ chuẩn mực do hạn chế về hiểu biết hoặc do áp lực cạnh tranh giá phí và tiến độ.
- Trình độ đội ngũ kế toán tại các doanh nghiệp còn hạn chế dẫn đến nhiều sai sót trọng yếu trên BCTC trước kiểm toán.
- Tốc độ tăng trưởng số lượng doanh nghiệp kiểm toán (DNKT) quá nhanh, dẫn tới sự mất cân đối giữa nguồn nhân lực chuyên môn với quy mô khách hàng và doanh thu.
Khoảng trống nghiên cứu được luận án xác định: Chưa có một công trình nghiên cứu hoàn chỉnh, toàn diện và có hệ thống cả về lý luận và thực tiễn về KSCLKT đối với cả phương diện kiểm soát cơ cấu (hệ thống) và kiểm soát kỹ thuật (hoạt động) của KTĐL tại Việt Nam trong bối cảnh thực thi Luật KTĐL năm 2011.
Mục tiêu nghiên cứu
Luận án xác định 3 mục đích nghiên cứu chính:
- Nghiên cứu, hệ thống hóa và làm rõ cơ sở lý luận về kiểm soát chất lượng kiểm toán của kiểm toán độc lập, các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng kiểm toán và kinh nghiệm quốc tế về kiểm soát chất lượng kiểm toán.
- Đánh giá toàn diện thực trạng kiểm soát chất lượng kiểm toán của kiểm toán độc lập tại Việt Nam giai đoạn 2007–2013; xác định những kết quả đạt được, hạn chế, bất cập và phân tích nguyên nhân.
- Đề xuất hệ thống giải pháp và điều kiện thực hiện nhằm hoàn thiện công tác kiểm soát chất lượng kiểm toán phù hợp với thực tiễn hoạt động kiểm toán độc lập tại Việt Nam định hướng đến năm 2020.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Những vấn đề lý luận và thực tiễn liên quan đến chất lượng kiểm toán và kiểm soát chất lượng kiểm toán của kiểm toán độc lập; các quy định, hướng dẫn kiểm soát của Bộ Tài chính, VACPA, UBCK và hệ thống kiểm soát nội bộ của các DNKT; kinh nghiệm mô hình kiểm soát chất lượng kiểm toán của một số quốc gia.
- Phạm vi nghiên cứu:
- Nội dung: Luận án tập trung nghiên cứu hoạt động kiểm soát chất lượng kiểm toán BCTC của các DNKT độc lập, không nghiên cứu kiểm soát chất lượng đối với dịch vụ kiểm toán báo cáo quyết toán vốn đầu tư dự án hoàn thành (DAHT).
- Thời gian: Đánh giá thực trạng từ khi ngành KTĐL Việt Nam thành lập (1991), tập trung chuyên sâu vào giai đoạn 2007–2013.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Luận án đã điểm luận các công trình nghiên cứu tiêu biểu trong và ngoài nước có liên quan trực tiếp đến đề tài:
Các công trình trong nước
- Trần Khánh Lâm (2011), Luận án Tiến sĩ Kinh tế, Đại học Kinh tế TP. Hồ Chí Minh: "Xây dựng cơ chế kiểm soát chất lượng cho hoạt động kiểm toán độc lập tại Việt Nam". Đề tài khảo sát hơn 100 công ty kiểm toán và đề xuất cơ chế, quy trình kiểm tra chất lượng từ góc độ cơ quan quản lý nghề nghiệp. Điểm hạn chế được luận án chỉ ra là đề tài nghiên cứu trước khi Luật KTĐL 2011 ra đời, chưa phân tích triệt để nguyên nhân nội tại bên trong DNKT và chưa đưa ra giải pháp kiểm soát nội bộ một cách toàn diện.
- Hoàng Phú Thọ (2011), Luận án Tiến sĩ Kinh tế, Học viện Tài chính: "Kiểm soát chất lượng kiểm toán của kiểm toán Nhà nước - Thực trạng và giải pháp hoàn thiện". Đề tài tập trung vào kiểm soát chất lượng tại cơ quan Kiểm toán Nhà nước (KTNN) mang tính tuân thủ pháp luật công, cơ cấu tổ chức và quy trình kiểm toán công khác biệt với loại hình doanh nghiệp KTĐL.
- Vương Đình Huệ (Chủ nhiệm, 2001), Đề tài nghiên cứu khoa học cấp Bộ, Bộ Tài chính: "Hoàn thiện cơ chế kiểm soát chất lượng hoạt động kiểm toán độc lập ở Việt Nam". Đề tài nghiên cứu cơ sở lý luận và đề xuất quy trình kiểm tra chất lượng từ phía cơ quan quản lý nhà nước tại thời điểm ban đầu phát triển thị trường kiểm toán, chưa phản ánh các quy định của Luật KTĐL năm 2011 và chưa đi sâu vào hệ thống kiểm soát nội bộ doanh nghiệp.
- Thịnh Văn Vinh và Giang Thị Xuyến (Chủ biên, 2012), Sách chuyên khảo: "Tổ chức quá trình kiểm toán BCTC", NXB Tài chính. Tác phẩm tập trung vào quy trình kỹ thuật tổ chức cuộc kiểm toán BCTC nhưng chưa đi sâu vào cơ chế kiểm soát chất lượng của toàn bộ hệ thống doanh nghiệp và hoạt động ngoại kiểm.
- Trần Thị Giang Tân (2009), Sách chuyên khảo: "Kiểm soát chất lượng từ bên ngoài đối với hoạt động kiểm toán độc lập", NXB Tài chính. Nghiên cứu tập trung vào cơ sở lý luận và kinh nghiệm quốc tế (Pháp, Hoa Kỳ) về ngoại kiểm, chưa phân tích thực trạng kiểm soát nội bộ bên trong các DNKT Việt Nam.
Các nghiên cứu và kinh nghiệm quốc tế
- Australia: Hoạt động kiểm toán vận hành theo cơ chế tự quản thông qua ba hội nghề nghiệp (CPA Australia, ICAA, IPA) phối hợp cùng cơ quan quản lý nhà nước là Ủy ban Chứng khoán và Đầu tư Australia (ASIC). Chương trình kiểm soát chất lượng của CPA Australia định kỳ rà soát hội viên 3 năm một lần. Hội viên không đạt yêu cầu có thời hạn 5 tháng để cập nhật trình độ và kiểm tra lại trước khi chuyển sang Hội đồng kỷ luật.
- Hoa Kỳ: Khung pháp lý thiết lập hai chủ thể kiểm soát độc lập: Hội đồng Giám sát Kế toán Công ty Đại chúng (PCAOB) chịu trách nhiệm kiểm tra, giám sát chất lượng kiểm toán đối với các công ty niêm yết theo Đạo luật Sarbanes-Oxley; Viện Kế toán Công chứng Hoa Kỳ (AICPA) kiểm soát chất lượng đối với các công ty kiểm toán phục vụ khối doanh nghiệp phi niêm yết.
Vị trí và đóng góp học thuật của luận án
Kế thừa các nghiên cứu trước, luận án của Nguyễn Anh Tuấn định vị là công trình nghiên cứu hệ thống hóa đồng thời cả hai trụ cột: kiểm soát chất lượng từ bên trong (nội kiểm) và kiểm soát chất lượng từ bên ngoài (ngoại kiểm), phân định rõ giữa kiểm soát cơ cấu (hệ thống) và kiểm soát kỹ thuật (hoạt động), đặt trong bối cảnh thực thi Luật KTĐL năm 2011 và định hướng phát triển ngành đến năm 2020.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Cơ sở lý thuyết và các khái niệm sử dụng
- Khái niệm kiểm toán: Luận án tổng hợp các định nghĩa từ Vương quốc Anh, định nghĩa của Alvin A. Arens và James K. Loebbecke (Hoa Kỳ), quan điểm đào tạo của Cộng hòa Pháp và Giáo trình Lý thuyết Kiểm toán của Đại học Kinh tế Quốc dân để đưa ra định nghĩa tổng quát: Kiểm toán là quá trình thu thập, kiểm tra, đánh giá và xác nhận tính đúng đắn, trung thực của các thông tin kinh tế có liên quan, từ đó đưa ra ý kiến về tính trung thực của các thông tin đó.
- Khái niệm chất lượng và chất lượng kiểm toán: Luận án tiếp cận định nghĩa chất lượng theo Tổ chức Tiêu chuẩn hóa Quốc tế (ISO) và Từ điển Tiếng Việt (1994), kết hợp Chuẩn mực kiểm toán quốc tế ISA 220: Chất lượng kiểm toán của KTĐL là mức độ thỏa mãn của các đối tượng sử dụng kết quả kiểm toán về tính khách quan, trung thực và độ tin cậy vào các kết luận, đánh giá và nhận xét của KTĐL, đồng thời thỏa mãn về các kiến nghị, giải pháp do KTĐL đưa ra với chi phí hợp lý.
- Các lý thuyết nền tảng về tổ chức và chất lượng kiểm toán:
- Lý thuyết thể chế (Meyer và Rowan, 1977): Cấu trúc tổ chức chịu tác động đồng thời của nhân tố kỹ thuật (xử lý hoạt động nghiệp vụ hàng ngày) và nhân tố thể chế (sự kỳ vọng, chuẩn mực và trách nhiệm giải trình xã hội).
- Mô hình đánh giá chất lượng kiểm toán (Smith et al., 2009): Chất lượng kiểm toán được cấu thành từ 3 nhóm nhân tố: Đầu vào (Input - năng lực KTV, chấp nhận khách hàng), Quá trình (Process - tuân thủ quy trình, chương trình kiểm toán), Đầu ra (Output - tính chính xác của BCTC đã kiểm toán, hạn chế sai phạm trọng yếu).
- Lý thuyết về quy mô và giá phí kiểm toán (DeAngelo, 1981): Quy mô công ty kiểm toán tác động đến mức độ độc lập và chất lượng kiểm toán; việc hạ giá phí thấp hơn chi phí (lowballing) làm giới hạn phạm vi kiểm toán, ảnh hưởng tiêu cực đến chất lượng kiểm toán.
- Các nghiên cứu thực nghiệm liên quan: Mối quan hệ giữa năng lực chuyên môn và phát hiện sai sót (Wooten, 2003); mức độ thân thiện giữa KTV và khách hàng làm suy giảm tính độc lập (Mautz và Sharaf, 1961); ảnh hưởng của dịch vụ phi kiểm toán (Goldman và Barlev, 1974); năng lực chuyên sâu theo ngành (Kwon, 1996); tác động của giá phí kiểm toán thấp (Francis và Simon, 1987; Simon và Francis, 1988; Ettredge và Greenberg, 1990; Crasswell và Francis, 1999).
+-----------------------------------------------------------------------------------+
| MÔ HÌNH CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN CHẤT LƯỢNG KIỂM TOÁN |
+-----------------------------------------------------------------------------------+
| NHÂN TỐ BÊN NGOÀI (NGOẠI KIỂM) | NHÂN TỐ BÊN TRONG (NỘI KIỂM) |
| - Mục tiêu kiểm toán của khách hàng | - Tính độc lập (pháp lý, tài chính, |
| - Yêu cầu của người sử dụng xã hội | nhân sự) |
| - Chuẩn mực pháp lý & Hội nghề nghiệp | - Cơ cấu tổ chức & phân cấp phân nhiệm |
| - Cơ chế kiểm soát từ cơ quan quản lý | - Quy trình, chương trình kiểm toán |
| (Bộ Tài chính, UBCK, VACPA) | - Trình độ chuyên môn & đạo đức KTV |
| | - Chính sách cán bộ, đào tạo, tiền lương|
| | - Quy mô DNKT & mức độ chuyên ngành |
| | - Giá phí kiểm toán |
+----------------------------------------+------------------------------------------+
| ĐẦU VÀO (INPUT) ---> QUÁ TRÌNH (PROCESS) ---> ĐẦU RA (OUTPUT)|
+-----------------------------------------------------------------------------------+
Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp luận: Luận án dựa trên phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử để phân tích hoạt động kiểm toán trong mối quan hệ vận động của nền kinh tế thị trường.
- Phương pháp thu thập và xử lý thông tin:
- Phương pháp phân tích - tổng hợp: Hệ thống hóa các vấn đề lý luận, chuẩn mực nghề nghiệp và quy định pháp lý.
- Phương pháp khảo sát, kiểm chứng: Sử dụng các tài liệu báo cáo kiểm tra thực tế của Bộ Tài chính, VACPA, UBCK về chất lượng kiểm toán giai đoạn 2007–2013.
- Phương pháp thống kê, so sánh: Phân tích số liệu thống kê về doanh thu, số lượng KTV, cơ cấu nhân sự và các vi phạm chuyên môn được phát hiện qua các đợt kiểm tra chất lượng.
Nội dung chính theo từng chương
Danh mục bảng số liệu trong luận án
| Số hiệu |
Tên bảng |
Trang trong văn bản |
| Bảng 2.1 |
Cơ cấu doanh thu ngành kiểm toán qua các năm 2007–2012 |
55 |
| Bảng 2.2 |
Một số chỉ tiêu hoạt động của các công ty KTĐL năm 2011, 2012 |
55 |
| Bảng 2.3 |
Một số chỉ tiêu hoạt động của các công ty KTĐL năm 2011, 2012 |
56 |
| Bảng 2.4 |
Một số chỉ tiêu hoạt động của các công ty KTĐL năm 2011, 2012 |
56 |
Chương 1: Cơ sở lý luận về kiểm soát chất lượng kiểm toán của kiểm toán độc lập (Trang 11–50)
Chương 1 hệ thống hóa khung lý luận gồm 5 nội dung trọng tâm:
- Tổng quan về KTĐL và vai trò: Phân tích quá trình hình thành, 4 loại hình tổ chức DNKT tại Việt Nam (Công ty TNHH 2 thành viên trở lên, Công ty 100% vốn nước ngoài, Công ty Hợp danh kiểm toán, Công ty Tư nhân). Nêu rõ 2 chức năng cơ bản (kiểm tra xác nhận và tư vấn) cùng vai trò cung cấp niềm tin cho 7 nhóm đối tượng: Cơ quan nhà nước/thuế, cổ đông/nhà đầu tư, ngân hàng/tổ chức tín dụng, bạn hàng/khách hàng mua chịu, người lao động, nhà đầu tư nước ngoài, nhà quản trị doanh nghiệp.
- Yếu tố ảnh hưởng đến CLKT: Phân tích 6 yếu tố nội bộ cốt lõi: Tính độc lập (địa vị pháp lý, giá phí, nhân sự); Cơ cấu tổ chức và phân nhiệm; Quy định chuyên môn nghiệp vụ; Trình độ chuyên môn và chuẩn mực đạo đức KTV (chính trực, độc lập khách quan, thận trọng bảo mật, đạo đức ứng xử); Chính sách cán bộ - đào tạo - tiền lương; Công tác giao việc và kiểm tra kiểm soát. Phân tích các yếu tố bên ngoài (mục tiêu khách hàng, áp lực xã hội, khuôn khổ pháp lý).
- Đối tượng và chủ thể kiểm soát: Đối tượng kiểm soát là toàn bộ hoạt động kiểm toán và quản lý kiểm toán, trọng tâm là quy trình kiểm toán gồm 3 giai đoạn (tiếp nhận/lập kế hoạch; thực hiện kiểm toán; kết thúc/lập báo cáo/xử lý sau kiểm toán). Chủ thể kiểm soát gồm chủ thể nội kiểm (bộ máy kiểm soát nội bộ DNKT) và chủ thể ngoại kiểm (cơ quan quản lý nhà nước, hội nghề nghiệp).
- Tiêu chí và nội dung kiểm soát chất lượng kiểm toán:
- Tiêu chí nội kiểm (theo CMKiT 220): Kỹ năng và năng lực chuyên môn; tuân thủ nguyên tắc nghề nghiệp; giao việc; chỉ đạo, hướng dẫn và giám sát; tham khảo ý kiến chuyên gia; bồi dưỡng kiến thức; lập kế hoạch kiểm toán; sử dụng tài liệu của KTV khác (theo CMKiT 610, 620); tài liệu hóa và lưu trữ hồ sơ; kiểm tra, kiểm soát; chuẩn mực Báo cáo kiểm toán (theo CMKiT 700).
- Tiêu chí ngoại kiểm (thuộc cơ quan quản lý): Tính trọng yếu của vấn đề kiểm toán, phạm vi kiểm toán, độ tin cậy, tính khách quan, tính kịp thời, tính rõ ràng, hiệu quả nguồn lực và tính hiệu lực của các kết luận/kiến nghị.
- Nội dung kiểm soát: Phân định rõ kiểm soát hệ thống (chính sách, cơ cấu tổ chức) và kiểm soát hoạt động (từng cuộc kiểm toán cụ thể).
- Kinh phí và xử lý vi phạm: Khái quát cơ chế tài chính cho hoạt động kiểm soát và các chế tài xử lý vi phạm chất lượng.
Chương 2: Thực trạng kiểm soát chất lượng kiểm toán của kiểm toán độc lập tại Việt Nam (Trang 51–87)
Chương 2 phản ánh bức tranh thực tiễn ngành KTĐL Việt Nam:
- Khái quát tổ chức và hoạt động: Đánh giá quá trình phát triển từ năm 1991, phân tích quy mô doanh thu và nhân sự qua các bảng thống kê Bảng 2.1, 2.2, 2.3, 2.4.
- Khuôn khổ pháp lý về kiểm soát chất lượng: Khảo sát hệ thống văn bản pháp quy (Luật KTĐL 67/2011/QH12, Nghị định 17/2012/NĐ-CP, Quyết định 120/1999/QĐ-BTC ban hành CMKiT đợt 1 và hệ thống 37 chuẩn mực, Quyết định 32/2007/QĐ-BTC về Quy chế kiểm soát chất lượng dịch vụ kế toán, kiểm toán).
- Thực trạng ngoại kiểm và nội kiểm:
- Ngoại kiểm: Hoạt động kiểm tra liên ngành giữa Bộ Tài chính, UBCK và VACPA từ năm 2009. Phân tích kết quả rà soát hồ sơ kiểm toán, phát hiện các lỗi phổ biến về bằng chứng kiểm toán, phân tích trọng yếu và đánh giá rủi ro.
- Nội kiểm: Tình trạng phân tầng chất lượng rõ rệt. Nhóm công ty kiểm toán quy mô lớn duy trì hệ thống kiểm soát nội bộ bài bản; nhóm công ty quy mô nhỏ (chỉ có từ 3 KTV hành nghề) gặp khó khăn trong việc luân chuyển KTV (nguy cơ kiểm toán quá 3 năm liên tục cho một khách hàng), thiếu nhân lực soát xét độc lập dẫn tới tình trạng KTV kiêm nhiệm việc tự kiểm tra hồ sơ.
- Đánh giá ưu điểm, hạn chế và nguyên nhân:
- Ưu điểm: Đã định hình được khung pháp lý, nâng cao nhận thức nghề nghiệp, hình thành cơ chế phối hợp kiểm tra giữa cơ quan quản lý và hội nghề nghiệp.
- Hạn chế: Tỷ lệ KTV/nhân viên chuyên nghiệp chưa hợp lý (chuẩn mực là 1 KTV/5–7 nhân viên, quy mô tối thiểu khuyến nghị 25 nhân viên); hiện tượng cạnh tranh hạ giá phí kiểm toán (lowballing); chế tài xử phạt hành chính chưa đủ sức răn đe; cơ chế công khai kết quả kiểm tra chất lượng còn hạn chế.
- Kinh nghiệm quốc tế: Đúc kết bài học từ mô hình quản lý của Hoa Kỳ (phân định giữa PCAOB và AICPA) và Australia (cơ chế tự quản nghiêm ngặt của CPA Australia với quy trình rà soát định kỳ và tái kiểm tra có thời hạn).
Chương 3: Giải pháp hoàn thiện kiểm soát chất lượng kiểm toán của kiểm toán độc lập ở Việt Nam (Trang 88–146)
Chương 3 xây dựng hệ thống giải pháp toàn diện theo các nhóm:
- Định hướng, mục tiêu và nguyên tắc hoàn thiện: Bám sát Chiến lược phát triển kế toán - kiểm toán đến năm 2020, tầm nhìn 2030; bảo đảm nguyên tắc kết hợp hài hòa giữa tự kiểm soát nội bộ và kiểm soát từ bên ngoài, phù hợp thông lệ quốc tế và điều kiện thực tiễn Việt Nam.
- Nhóm giải pháp hoàn thiện kiểm soát nội bộ (từ bên trong DNKT):
- Hoàn thiện cơ cấu tổ chức DNKT theo hướng chuyên môn hóa theo ngành/khối khách hàng (doanh nghiệp FDI, doanh nghiệp niêm yết, doanh nghiệp xây lắp, tổ chức tín dụng...).
- Xây dựng và chuẩn hóa quy trình kiểm soát chất lượng qua các khâu: Tiếp nhận khách hàng; lập kế hoạch kiểm toán tổng thể và chi tiết; thực hiện kiểm toán; soát xét báo cáo kiểm toán trước khi phát hành (phân định trách nhiệm giữa nhóm kiểm toán, chủ nhiệm kiểm toán, trưởng phòng kiểm toán và bộ phận soát xét chất lượng độc lập).
- Chuẩn hóa hệ thống hồ sơ kiểm toán, áp dụng công nghệ thông tin trong lưu trữ và tài liệu hóa bằng chứng kiểm toán.
- Hoàn thiện chính sách đào tạo, cập nhật kiến thức liên tục và xây dựng cơ chế đãi ngộ, tiền lương hợp lý nhằm bảo vệ tính độc lập và đạo đức nghề nghiệp của KTV.
- Nhóm giải pháp hoàn thiện kiểm soát từ bên ngoài (ngoại kiểm):
- Nâng cao năng lực và hiệu lực kiểm tra chất lượng của Bộ Tài chính (Vụ Chế độ Kế toán và Kiểm toán), UBCK và VACPA.
- Hoàn thiện quy chế kiểm soát chất lượng, tiêu chí đánh giá và quy trình kiểm tra trực tiếp/gián tiếp hồ sơ kiểm toán.
- Xây dựng cơ chế công khai minh bạch kết quả kiểm tra chất lượng kiểm toán định kỳ; tăng cường các chế tài xử phạt vi phạm hành chính, thu hồi giấy phép hành nghề đối với các vi phạm nghiêm trọng.
- Hoàn thiện cơ chế giám sát các công ty kiểm toán tham gia kiểm toán tổ chức phát hành và công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán.
- Nhóm giải pháp đối với đơn vị được kiểm toán: Nâng cao nhận thức của ban quản trị doanh nghiệp về vai trò của kiểm toán độc lập; hoàn thiện hệ thống kiểm soát nội bộ; nâng cao trình độ chuyên môn của đội ngũ kế toán nhằm giảm thiểu sai sót trên BCTC trước khi kiểm toán.
- Điều kiện thực hiện giải pháp: Xác định trách nhiệm cụ thể đối với 5 nhóm chủ thể: Nhà nước và Bộ Tài chính; Hiệp hội nghề nghiệp (VAA, VACPA); Doanh nghiệp kiểm toán; Kiểm toán viên hành nghề; Các cơ sở đào tạo chuyên ngành kế toán - kiểm toán.
Kết quả và những đóng góp mới
Luận án tự xác định các đóng góp mới về mặt học thuật và thực tiễn:
Đóng góp về mặt lý luận
- Hệ thống hóa và làm sáng tỏ khái niệm chất lượng kiểm toán và kiểm soát chất lượng kiểm toán của kiểm toán độc lập, chỉ rõ mối quan hệ giữa kiểm soát hệ thống (cơ cấu) và kiểm soát hoạt động (kỹ thuật).
- Phân tích và phân loại có hệ thống các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng kiểm toán thành hai nhóm nhân tố bên trong và bên ngoài, ứng dụng mô hình Đầu vào - Quá trình - Đầu ra của Smith et al. (2009) và các lý thuyết kinh tế về quy mô, giá phí kiểm toán của DeAngelo (1981) vào điều kiện đặc thù của kiểm toán độc lập.
- Thiết lập hệ thống tiêu chí kiểm soát chất lượng kiểm toán toàn diện cho cả hai góc độ: bên trong DNKT (11 tiêu chí dựa trên CMKiT 220) và bên ngoài từ cơ quan quản lý (8 tiêu chí: tầm quan trọng, phạm vi, tin cậy, khách quan, kịp thời, rõ ràng, hiệu quả, hiệu lực).
Đóng góp về mặt thực tiễn
- Đánh giá có hệ thống thực trạng kiểm soát chất lượng kiểm toán tại Việt Nam từ năm 1991 đến 2013, làm rõ những mặt được và tồn tại trong cơ chế kiểm tra phối hợp 3 bên giữa Bộ Tài chính, UBCK và VACPA.
- Chỉ ra các điểm nghẽn thực tế tại các công ty kiểm toán quy mô nhỏ (thiếu KTV, khó luân chuyển, kiêm nhiệm kiểm soát) và hiện tượng cạnh tranh hạ giá phí kiểm toán.
- Đề xuất hệ thống giải pháp đồng bộ từ nội bộ DNKT (quy trình 3-4 cấp soát xét, chuyên môn hóa phòng ban) đến ngoại kiểm (hoàn thiện quy chế, công khai kết quả kiểm tra, nâng cao chế tài) và các điều kiện đảm bảo thực thi cho từng nhóm cơ quan hữu quan tại Việt Nam.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Hạn chế của đề tài
- Phạm vi đối tượng: Luận án tập trung vào kiểm toán BCTC của các DNKT, chưa đi sâu nghiên cứu kiểm soát chất lượng đối với dịch vụ kiểm toán báo cáo quyết toán vốn đầu tư dự án hoàn thành (DAHT) - một mảng dịch vụ có tỷ trọng đáng kể tại Việt Nam.
- Giới hạn thời gian dữ liệu: Dữ liệu thực trạng và số liệu thống kê được thu thập đến năm 2013, phản ánh giai đoạn đầu khi Luật KTĐL năm 2011 bắt đầu có hiệu lực và chưa có chu kỳ đánh giá dài hạn về tác động của luật.
Hướng nghiên cứu tiếp
- Mở rộng nghiên cứu cơ chế kiểm soát chất lượng cho các loại hình dịch vụ đảm bảo phi tài chính, kiểm toán hoạt động và kiểm toán quyết toán vốn đầu tư xây dựng cơ bản.
- Tiến hành các khảo sát định lượng đa biến quy mô lớn để đo lường mức độ tác động của từng nhân tố kiểm soát nội bộ và ngoại kiểm đến chất lượng kiểm toán trong các giai đoạn phát triển tiếp theo của thị trường kiểm toán Việt Nam.
Giá trị tham khảo
Luận án là tài liệu tham khảo hữu ích cho các nhóm đối tượng:
- Nghiên cứu sinh, học viên cao học và giảng viên: Tham khảo khung lý thuyết, hệ thống hóa các trường phái nghiên cứu quốc tế về chất lượng kiểm toán, hệ thống tiêu chí kiểm soát chất lượng và phương pháp phân tích thực trạng ngành kiểm toán.
- Lãnh đạo và kiểm toán viên tại các DNKT: Tham khảo quy trình thiết lập hệ thống kiểm soát nội bộ, tiêu chí phân công nhiệm vụ, cơ chế soát xét hồ sơ kiểm toán độc lập và chính sách đào tạo - thù lao nhằm giảm thiểu rủi ro kiện tụng và rủi ro kiểm toán.
- Cơ quan quản lý nhà nước và hiệp hội nghề nghiệp (Bộ Tài chính, UBCK, VACPA): Sử dụng các kiến nghị về sửa đổi quy chế kiểm soát chất lượng, hoàn thiện cơ chế phối hợp thanh tra - giám sát và xây dựng chế tài xử lý vi phạm trong quản lý hành nghề kiểm toán độc lập.
Câu hỏi thường gặp
1. Luận án định nghĩa chất lượng kiểm toán của kiểm toán độc lập như thế nào?
Luận án xác định: Chất lượng kiểm toán của KTĐL là mức độ thỏa mãn của các đối tượng sử dụng kết quả kiểm toán về tính khách quan, trung thực và độ tin cậy vào các kết luận, đánh giá và nhận xét của KTĐL, đồng thời thỏa mãn về các kiến nghị, giải pháp do KTĐL đưa ra, với chi phí hoạt động kiểm toán hợp lý (dựa trên chuẩn mực ISA 220).
2. Luận án chỉ ra những bất cập chính nào trong hệ thống kiểm soát nội bộ tại các DNKT quy mô nhỏ ở Việt Nam?
Tại các công ty quy mô nhỏ (chỉ có từ 3 KTV hành nghề), công ty không đủ nhân sự để thực hiện luân chuyển KTV (dẫn tới nguy cơ kiểm toán quá 3 năm liên tục cho một khách hàng theo quy định); ban kiểm soát không đủ KTV để thực hiện chức năng kiểm soát độc lập, dẫn tới tình trạng KTV phải kiêm nhiệm giữa thực hiện kiểm toán và tự soát xét báo cáo, làm mất tính độc lập của việc kiểm soát chất lượng.
3. Cơ chế kiểm soát chất lượng từ bên ngoài (ngoại kiểm) tại Việt Nam từ năm 2009 được thực hiện bởi các cơ quan nào?
Từ năm 2009, cơ chế ngoại kiểm tại Việt Nam do 3 cơ quan phối hợp thực hiện: Bộ Tài chính (thông qua Vụ Chế độ Kế toán và Kiểm toán), Ủy ban Chứng khoán Nhà nước (UBCK) và Hội Kiểm toán viên hành nghề Việt Nam (VACPA).
4. Tỷ lệ nhân sự chuyên môn khuyến nghị giữa KTV hành nghề và nhân viên chuyên nghiệp trong DNKT là bao nhiêu?
Theo phân tích trong luận án, tỷ lệ phù hợp là 1 KTV hành nghề phụ trách từ 5 đến 7 nhân viên chuyên nghiệp. Một DNKT có 3 KTV hành nghề sẽ có khoảng 15–18 nhân viên; quy mô nhân viên chuyên nghiệp dưới 25 người thường khó bảo đảm chất lượng kiểm toán và chất lượng soát xét hồ sơ kiểm toán một cách toàn diện.
Kết luận
Luận án Tiến sĩ Kinh tế của Nguyễn Anh Tuấn (2014) là công trình nghiên cứu chuyên khảo về kiểm soát chất lượng kiểm toán của kiểm toán độc lập tại Việt Nam trong bối cảnh thi hành Luật KTĐL năm 2011. Tác giả đã hệ thống hóa cơ sở lý luận về chất lượng và kiểm soát chất lượng kiểm toán, kết hợp các khung lý thuyết quốc tế để phân tích thực trạng kiểm soát nội bộ và kiểm soát bên ngoài giai đoạn 2007–2013. Trên cơ sở chỉ ra những bất cập về quy mô DNKT, hiện tượng cạnh tranh hạ giá phí và hạn chế trong quy trình soát xét, luận án đã đề xuất hệ thống giải pháp đồng bộ và điều kiện thực hiện nhằm nâng cao chất lượng hoạt động kiểm toán độc lập ở Việt Nam đến năm 2020.