Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ KIỂM SOÁT CHẤT LƯỢNG KIỂM TOÁN CỦA KIỂM TOÁN ĐỘC LẬP 1. TỔNG QUAN VỀ KIỂM TOÁN ĐỘC LẬP VÀ VAI TRÒ CỦA KIỂM TOÁN ĐỘC LẬP 1. Khái quát về Kiểm toán độc lập 1. Quá trình ra đời và phát triển của Kiểm toán Độc lập a) Khái niệm kiểm toán Có rất nhiều khái niệm kiểm toán xuất hiện từ xa xưa.
Thuật ngữ kiểm toán (audit) theo tiếng La tinh là “auditus” có nghĩa là “nghe”. Lúc đầu, kiểm toán đã được sử dụng để thẩm tra về tính trung thực của các thông tin tài chính. Mãi đến đầu thế kỷ XX, kiểm toán với nghĩa là “kiểm tra độc lập và bày tỏ ý kiến” mới được phát triển ở các nước Bắc Mỹ và Tây Âu. Mặc dù kiểm toán đã xuất hiện từ rất lâu, nhưng cho đến nay vẫn chưa có sự thống nhất về khái niệm này.
Có thể khái quát một số khái niệm chủ yếu về kiểm toán như sau: Ở Vương quốc Anh đã đưa ra khái niệm: “Kiểm toán là sự kiểm tra độc lập và là sự bày tỏ ý kiến về những bản khai tài chính của một xí nghiệp do một kiểm toán viên được bổ nhiệm để thực hiện những công việc đã theo đúng với bất kỳ nghĩa vụ pháp định có liên quan” [19, tr. Theo khái niệm này, kiểm toán là sự kiểm tra độc lập và bày tỏ ý kiến về bản khai tài chính của kiểm toán viên (KTV) theo nghĩa vụ pháp định. Arens và James K.Loebbecke (Hoa Kỳ): “Kiểm toán là một qúa trình mà qua đó một người độc lập, có nghiệp vụ, tập hợp và đánh giá rõ ràng về một thông tin có thể lượng hóa có liên quan đến một thực thể kinh tế riêng biệt nhằm mục đích xác định và báo cáo mục đó phù hợp giữa thông tin có thể lượng hóa với những tiêu chuẩn đã được thiết lập" [19, tr. Khái niệm này đề cập đến ba vấn đề: Tính độc lập, chuyên môn, sự phù hợp giữa thông tin với những tiêu chuẩn đã được thiết lập.
12 Trong giáo dục và đào tạo về kiểm toán ở Cộng hòa Pháp cho rằng: “Kiểm toán là việc nghiên cứu và kiểm tra các tài khoản niên độ của một tổ chức do một người độc lập, đủ danh nghĩa gọi là một kiểm toán viên tiến hành để khẳng định rằng những tài khoản đã phản ánh đúng tình hình tài chính thực tế, không che giấu sự gian lận và chúng được trình bày theo mẫu chính thức của luật định" [19, tr. Các khái niệm trên đã phản ánh những đặc trưng cơ bản của kiểm toán truyền thống, đó là: (1) Kiểm toán là sự kiểm tra và bày tỏ ý kiến về bản khai tài chính hoặc các tài khoản của một tổ chức, cơ quan, đơn vị; (2) Hoạt động kiểm toán được thực hiện bởi những KTV có chuyên môn nghiệp vụ, tiến hành độc lập; (3) Hoạt động kiểm toán nhằm đánh giá tính trung thực, phù hợp của các thông tin so với những tiêu chuẩn đã được thiết lập; (4) Thông tin kiểm toán được trình bày theo một hình thức nhất định. Tuy nhiên, cùng với sự phát triển của hoạt động kiểm toán, sự đa dạng của các loại hình kiểm toán, khái niệm kiểm toán đã được mở rộng ra khỏi khuôn khổ quan niệm truyền thống, đó là: không chỉ kiểm toán đối với các BCTC, các tài khoản mà còn bao gồm kiểm toán việc tuân thủ pháp luật và kiểm toán đánh giá tính kinh tế, hiệu lực và hiệu qủa trong việc quản lý, sử dụng các nguồn lực của một tổ chức, cơ quan, đơn vị. Ở một số quốc gia, hoạt động kiểm toán của KTĐL còn bao gồm kiểm toán môi trường, kiểm toán nhân sự, kiểm toán trách nhiệm kinh tế v.
Từ đó có thể thấy, đối tượng và nội dung kiểm toán ngày càng phát triển sâu, rộng cả về chất và về lượng, tùy thuộc yêu cầu quản lý và nhu cầu thông tin được kiểm tra, xác nhận. Giáo trình Lý thuyết Kiểm toán của đại học Kinh tế quốc dân cho rằng: “Kiểm toán là xác minh và bày tỏ ý kiến về thực trạng hoạt động được kiểm toán bằng hệ thống phương pháp kỹ thuật của kiểm toán chứng từ và ngoài chứng từ do các kiểm toán viên có trình độ nghiệp vụ tương xứng thực hiện trên cơ sở hệ thống pháp lý có hiệu lực” [19], [20]. Từ nghiên cứu sự phát triển của các hoạt động kiểm toán và từ các khái niệm nêu trên, có thể hiểu khái niệm về kiểm toán như sau: 13 Kiểm toán là một quá trình thu thập, kiểm tra, đánh giá và xác nhận tính đúng đắn, trung thực của các thông tin kinh tế có liên quan, từ đó đưa ra các ý kiến về tính trung thực của các thông tin kinh tế có liên quan đó. b) Các loại hình DNKT ở Việt Nam Hiện nay, ở Việt Nam đang tồn tại các loại hình công ty kiểm toán theo Luật DN và Luật KTĐL: Công ty TNHH 2 thành viên trở lên; Công ty 100% VĐT nước ngoài; Công ty Hợp danh kiểm toán; Công ty Tư nhân (thực tế chưa có công ty nào thành lập theo loại hình này).
Với các loại hình DNKT như trên, rõ ràng xét về góc độ trách nhiệm pháp lý, các DNKT thành lập theo loại hình Công ty Hợp danh kiểm toán và Công ty kiểm toán tư nhân sẽ phải tự kiểm soát chất lượng chặt chẽ hơn đối với các dịch vụ cung cấp, bởi lẽ trách nhiệm của các DN này là vô hạn. Các DNKT thành lập theo loại hình Công ty TNHH 2 thành viên trở lên và Công ty 100% VĐT nước ngoài sẽ có xu hướng tự kiểm soát lỏng lẻo hơn do họ chỉ chịu trách nhiệm giới hạn trong phần vốn góp của mình, hơn nữa các chế tài về xử phạt hiện nay còn chưa đủ sức răn đe. c) Sự hình thành và phát triển của kiểm toán Độc lập KTĐL ra đời từ yêu cầu khách quan của công tác quản lý và được các quốc gia, các tổ chức kiểm toán quốc tế thừa nhận là một công cụ không thể thiếu của quản lý tài chính, của qúa trình phát triển nền kinh tế thị trường. Thời gian và hoàn cảnh cụ thể ra đời các hãng KTĐL(các DNKT) của các nước trên thế giới không hoàn toàn giống nhau.
KTĐL ra đời xuất phát từ những điều kiện nhất định về kinh tế và chính trị, cụ thể: * Điều kiện về kinh tế: yêu cầu của quản lý tài chính Sự xuất hiện nền kinh tế nhiều thành phần, sở hữu đa thành phần, một nguồn lực thuộc sở hữu của nhiều nhà đầu tư, yêu cầu phải được quản lý, sử dụng hiệu quả; Thị trường tài chính, thị trường tiền tệ, thị trường chứng khoán phát triển đòi hỏi sự minh bạch, công khai, khách quan. 14 * Điều kiện về chính trị Trong điều kiện hội nhập, vấn đề sở hữu trở nên đa dạng và phòng phú, với tư cách là chủ thể sở hữu phải thực hiện quyền quyết định tài chính, do vậy cần phải có tổ chức kiểm tra, giám sát một cách độc lập khách quan; Việc thành lập một tổ chức độc lập, chuyên nghiệp thực hiện kiểm tra, đánh giá hoạt động quản lý và sử dụng tài chính của các chủ sở hữu trở lên cần thiết hơn bao giờ hết. Chức năng, đối tượng, phạm vi hoạt động của Kiểm toán Độc lập (1) Chức năng của Kiểm toán độc lập KTĐL có các chức năng cơ bản sau: - Kiểm tra, xác nhận tính đúng đắn, trung thực, hợp lý của các thông tin kinh tế, tài chính của DN, tổ chức, góp phần nâng cao sự tin tưởng của các đơn vị và cá nhân có quyền lợi và nghĩa vụ với DN; - Thực hiện chức năng tư vấn: thông qua kiểm toán, đề xuất kiến nghị và tư vấn cho DN thực hiện theo các quy định của pháp luật. (2) Đối tượng và phạm vi hoạt động của Kiểm toán độc lập Đối tượng trực tiếp của KTĐL là BCTC và hoạt động có liên quan đến các thông tin kinh tế, tài chính để lập nên BCTC.
Ngoài ra KTĐL vẫn có đối tượng là kiểm toán tuân thủ và kiểm toán hoạt động. Phạm vi hoạt động của KTĐL là kiểm toán BCTC, kiểm toán quyết toán VĐT, các thông tin về kinh tế, tài chính của DN thuộc tất cả mọi thành phần trong nền kinh tế quốc dân khi có yêu cầu. Vai trò của Kiểm toán độc lập Sự hình thành và phát triển của KTĐL gắn liền với sự hình thành, ra đời và phát triển của kinh tế thị trường, trong đó chủ yếu là thị trường chứng khoán; xuất phát từ yêu cầu của việc kiểm tra, kiểm soát sử dụng nguồn vốn của nhà đầu tư và các nhu cầu quản lý. Kinh nghiệm của các nước trên thế giới đã khẳng định hoạt động của KTĐL góp phần tích cực vào việc minh bạch, công khai BCTC, ngăn ngừa, phát hiện các sai sót, gian lận trong việc lập và trình bày, công bố BCTC.
KTĐL thực sự đã trở thành công cụ không thể thiếu trong hệ thống kiểm tra, kiểm soát của nền kinh tế thị trường; Vai trò của KTĐL được thể hiện trên những khía cạnh chủ yếu sau: 15 - Một là, kiểm toán độc lập tạo niềm tin cho những người quan tâm. Dù hoạt động trong bất kì lĩnh vực kinh tế nào, thì kết quả hoạt động hàng năm của DN đều thể hiện trên BCTC (gồm bảng cân đối kế toán, báo cáo kết quả kinh doanh, báo cáo chuyển tiền tệ, thuyết minh BCTC). Vì nhiều nguyên nhân khác nhau, các DN đều muốn lập BCTC có những số liệu đẹp hơn về các chỉ tiêu khả năng thanh toán, cơ cấu nguồn vốn, tỷ suất lợi nhuận… Ngược lại, đối với người đầu tư, họ quan tâm đến kết quả kinh doanh và tình hình tài chính của DN lại đòi hỏi sự trung thực chính xác của bản BCTC đó. Vì thế cần có sự kiểm tra xác nhận của người thứ ba đó là Kiểm toán viên độc lập - những người hoạt động theo nguyên tắc bắt buộc và có đủ năng lực uy tín với cả chủ DN và người quan tâm đến bản BCTC.
Những người quan tâm có thể kể đến là: + Các cơ quan Nhà nước cần có thông tin trung thực để điều tiết vĩ mô nền kinh tế. Nhà nước căn cứ vào BCTC đã được kiểm toán để xem xét các DN sử dụng ngân sách Nhà nước, các khoản vay có bảo đảm để hoạt động kinh doanh có đem lại hiệu quả không, có phục vụ mục tiêu phát triển kinh tế xã hội của Đất nước hay không. Cơ quan thuế sẽ căn cứ vào BCTC đã được kiểm toán để tính và thu thuế.