Tổng quan luận án

Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu

Chất lượng hoạt động kiểm toán (CLHĐKT) là chủ đề nhận được sự quan tâm của nhiều chủ thể trong nền kinh tế với các mục tiêu khác nhau. Các nhà đầu tư và chủ nợ đòi hỏi thông tin tài chính có độ tin cậy cao nhằm phục vụ các quyết định kinh tế; cơ quan quản lý Nhà nước và tổ chức nghề nghiệp đề cao vai trò của chất lượng kiểm toán (CLKT) đối với sự ổn định của thị trường vốn; khách hàng kiểm toán tìm kiếm sự cân bằng giữa lợi ích gia tăng độ tin cậy và chi phí kiểm toán; trong khi các doanh nghiệp kiểm toán phải cân đối giữa năng lực cạnh tranh, kiểm soát rủi ro với áp lực thời gian và chi phí thực hiện. Sự đan xen này phản ánh tính chất đa chiều của CLKT, thể hiện qua các quan điểm vừa đồng nhất vừa mâu thuẫn giữa người cung cấp dịch vụ, cơ quan giám sát và người sử dụng báo cáo tài chính (BCTC).

Mặc dù các tổ chức nghề nghiệp quốc tế (như FRC, IAASB, PCAOB) và giới học thuật thế giới đã phát triển nhiều khuôn khổ đánh giá CLKT toàn diện, tại Việt Nam các nghiên cứu trước đây chủ yếu tiếp cận vấn đề qua các thuộc tính riêng lẻ của kiểm toán viên (KTV), công ty kiểm toán hoặc các yếu tố bên ngoài. Các nghiên cứu trong nước còn thiếu một nền tảng khuôn khổ lý thuyết đa chiều, đầy đủ và phương pháp phân tích chưa đi đến bước kiểm định mô hình khẳng định. Do đó, luận án tiến hành nghiên cứu đề tài "Các yếu tố quyết định chất lượng hoạt động kiểm toán – Theo nhận thức của kiểm toán viên" nhằm giải quyết khoảng trống này dưới hai lăng kính: góc độ hoạt động kiểm toán và góc độ dịch vụ kiểm toán.

Mục tiêu nghiên cứu

Mục tiêu chung của luận án là xác định các yếu tố quyết định CLKT theo nhận thức của KTV tại Việt Nam, qua đó làm cơ sở khoa học cho các gợi ý chính sách nâng cao CLKT.

Các mục tiêu cụ thể gồm:

  1. Xây dựng khung các yếu tố quyết định CLHĐKT dựa trên nhận thức của KTV.
  2. Phân tích sự khác biệt về nhận thức chất lượng do các yếu tố kinh nghiệm và môi trường làm việc của KTV.
  3. Phân tích sự khác biệt về nhận thức giữa KTV và các bên liên quan về CLKT dưới góc độ một dịch vụ.

Câu hỏi nghiên cứu

Hệ thống 7 câu hỏi nghiên cứu được đánh số và xác định trong văn bản như sau:

  • Q1: Những yếu tố nào quyết định CLHĐKT theo nhận thức của KTV?
  • Q2: Có sự khác biệt giữa các yếu tố theo nhận thức của KTV và Khuôn mẫu CLKT của nghề nghiệp, hay không?
  • Q3: Sự khác biệt giữa các yếu tố theo nhận thức của KTV và Khuôn mẫu lý thuyết như thế nào?
  • Q4: Có sự khác biệt trong nhận thức giữa các nhóm KTV theo số năm kinh nghiệm và môi trường làm việc về các yếu tố quyết định CLHĐKT hay không?
  • Q5: Sự khác biệt trong nhận thức giữa các nhóm KTV về các yếu tố quyết định CLHĐKT như thế nào?
  • Q6: Đánh giá của KTV và các bên liên quan về các yếu tố quan trọng của CLKT, dưới góc độ một dịch vụ như thế nào?
  • Q7: Có hay không sự khác biệt trong đánh giá giữa KTV và các bên liên quan về tầm quan trọng của các yếu tố đó?

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

  • Đối tượng nghiên cứu:
    • Ở Nghiên cứu 1: KTV làm việc tại các công ty kiểm toán độc lập tại Việt Nam ở các vị trí: Giám đốc kiểm toán, Chủ nhiệm kiểm toán, KTV chính và Trợ lý kiểm toán (có từ 3 năm kinh nghiệm trở lên).
    • Ở Nghiên cứu 2: KTV tại các công ty kiểm toán (các chức danh như Nghiên cứu 1) cùng các bên có lợi ích liên quan tại Việt Nam, bao gồm người làm kế toán (đại diện cho bên cung cấp BCTC) và các nhà đầu tư cá nhân (đại diện cho bên sử dụng BCTC).
  • Phạm vi nghiên cứu: Giới hạn trong hoạt động kiểm toán BCTC của Kiểm toán Độc lập tại thị trường Việt Nam.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Các hướng nghiên cứu trên thế giới

Tác giả hệ thống hóa các nghiên cứu quốc tế về CLKT từ công trình của DeAngelo (1981) qua hơn 36 năm phát triển thành hai hướng tiếp cận chính:

                                  NGHIÊN CỨU CHẤT LƯỢNG KIỂM TOÁN
                                                 |
                +--------------------------------+--------------------------------+
                |                                                                 |
      PHÂN TÍCH TƯƠNG QUAN                                               PHÂN TÍCH NHÂN TỐ
      - CLKT với đầu ra kiểm toán                                        - Thuộc tính công ty kiểm toán và KTV
      - CLKT với đặc điểm công ty kiểm toán                              - Cấu thành quy trình kiểm toán
                                                                         - Cấu thành chất lượng dịch vụ
                                                                         - Cấu thành chất lượng hoạt động

1. Hướng nghiên cứu phân tích tương quan

Hướng nghiên cứu này xem CLKT là biến phụ thuộc và sử dụng các biến đại diện (proxy) để kiểm định:

  • Quan hệ giữa CLKT với chất lượng đầu ra:
    • Đo lường qua khả năng phát hiện sai sót trọng yếu: Sử dụng đại diện BCTC trình bày lại và các công báo xử phạt thực thi kế toán/kiểm toán (AAERs) của SEC (Dechow et al., 1996; DeFond and Zhang, 2014).
    • Đo lường qua thông điệp ý kiến kiểm toán: Đánh giá việc phát hành ý kiến về khả năng hoạt động liên tục (Going concern - GC) khi doanh nghiệp gặp khó khăn hoặc không phát hành khi có lý do xác đáng (Carcello and Palmrose, 1994; Francis and Krishnan, 2002; Butler et al., 2004; Kaplan and Williams, 2012).
    • Đo lường qua chất lượng BCTC: Sử dụng biến dồn tích bất thường từ mô hình Jones (1991) để đo lường hành vi chi phối thu nhập (Magee and Tseng, 1990; Antle and Nalebuff, 1991; Becker et al., 1998; Francis et al., 1999; Zhou and Elder, 2004; Balsam et al., 2003; Krishnan, 2003; Reichelt and Wang, 2010; Chen et al., 2011; Chi et al.; Inaam and Khamoussi, 2016).
    • Đo lường qua nhận thức của người sử dụng: Phân tích hệ số phản ứng thu nhập (ERC), chi phí vốn và nợ, hoặc sự thay đổi thị phần khách hàng của công ty kiểm toán (Teoh and Wong, 1993; Copley and Douthett, 2002; Pittman and Fortin, 2004; Mansi et al.).
  • Quan hệ giữa CLKT với đặc điểm của công ty kiểm toán:
    • Quy mô và danh tiếng công ty: DeAngelo (1981), Simunic and Stein (1987), Francis and Willson (1988), Lennox (1999), Francis and Yu (2009).
    • Dịch vụ phi kiểm toán: Hai luồng quan điểm trái chiều về việc nâng cao hiểu biết khách hàng hay làm tổn hại tính độc lập (Simunic, 1984; Beck et al.; Albrecht and Sack, 2000; Ashbaugh, 2004).
    • Nhiệm kỳ kiểm toán và quy định luân chuyển: Geiger and Raghanandan (2002), Carcello and Nagy (2004), Ghosh and Moon (2005), Knechel and Vanstralen (2007), Jackson et al. (2008), Arel et al. (2005), Kim et al. (2015), Cameran et al.
    • Phí kiểm toán: Palmrose (1986), Francis and Simon (1987), Hoitash et al. (2007), Choi et al., Chaney et al.
    • Quản trị và đặc điểm khách hàng: Lennox (2005), Lawrence et al. (2011), Baber et al. (2013), He et al., DeFond et al.

2. Hướng nghiên cứu phân tích nhân tố

Hướng tiếp cận này kiểm tra nhận thức của KTV và các bên liên quan để xác định cấu trúc cấu thành CLKT:

  • Theo thuộc tính công ty kiểm toán và KTV: Schroeder et al. (1986), Carcello et al. (1992), Beattie and Fearnley (1995), Behn et al. (1997), Warming-Rasmussen and Jensen (1998), Bakar et al. (2005), Kilgore et al. (2011, 2014).
  • Theo quy trình kiểm toán: Mock and Samet (1982) với 5 giai đoạn (Lập kế hoạch, Quản lý, Thủ tục, Đánh giá, Kết luận); Sutton and Lampe (1991) và Sutton (1993) với mô hình AEQ (Audit Engagement Quality).
  • Theo chất lượng dịch vụ: Dựa trên mô hình Servqual của Parasuraman et al., Cronin and Taylor (1992), Gronroos (1982); tiêu biểu là mô hình Auditqual của Duff (2004) chia thành hai thành tố Chất lượng kỹ thuật và Chất lượng phục vụ; Butcher et al. (2013).
  • Theo tổng thể hoạt động kiểm toán: Khuôn khổ 6 cấp độ phân tích của Francis (2011); khuôn mẫu 4 nhóm chỉ báo của Knechel et al. (2012); khuôn mẫu FRC (2008) với 5 yếu tố và 26 chỉ báo; dự án AQI của PCAOB (2012–2015); và Khuôn mẫu CLKT của IAASB (2014) với 5 thành tố (Đầu vào, Quy trình, Đầu ra, Tương tác, Bối cảnh) được kiểm chứng bởi Brown et al., Christensen et al. (2016).
Nhóm nghiên cứu phân tích nhân tố Công trình tiêu biểu Trọng tâm phân tích
Thuộc tính công ty và KTV Schroeder et al. (1986), Carcello et al. (1992), Beattie and Fearnley (1995), Kilgore et al. (2011) Năng lực, tính độc lập, kinh nghiệm, quy mô, danh tiếng, đạo đức nghề nghiệp
Chất lượng quy trình kiểm toán Mock and Samet (1982), Sutton and Lampe (1991), Sutton (1993) Các công việc thực hiện theo giai đoạn: Lập kế hoạch, Thực hiện, Quản lý, Đánh giá, Kết luận
Chất lượng dịch vụ kiểm toán Duff (2004), Butcher et al. (2013) Cấu trúc 2 thành tố: Chất lượng kỹ thuật và Chất lượng phục vụ (Mô hình Auditqual)
Chất lượng tổng thể hoạt động Francis (2011), Knechel et al. (2012), FRC (2008), IAASB (2014) Đánh giá đa chiều: Đầu vào, Quy trình, Đầu ra, Tương tác giữa các bên và Bối cảnh

Các hướng nghiên cứu tại Việt Nam

  • Hướng nghiên cứu giải pháp nâng cao CLKT: Ngô Đức Long (2002), Trần Khánh Lâm (2011), Hà Thị Ngọc Hà và cộng sự (2011), Trần Thị Giang Tân (2011), Mai Thị Hoàng Minh và cộng sự (2012), Nguyễn Thị Mỹ (2013), Phan Thanh Hải (2014). Các nghiên cứu này sử dụng phương pháp duy vật biện chứng, phân tích thực trạng kiểm soát chất lượng từ bên trong và bên ngoài để đề xuất hoàn thiện khuôn khổ pháp lý, chuẩn mực và mô hình tổ chức.
  • Hướng nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến CLKT: Bùi Thị Thủy (2014), Hoa Pham và cộng sự (2014), Phan Văn Dũng (2016), Phan Thanh Hai (2016), Pham Kim Ngoc và cộng sự (2017). Các công trình bước đầu nhận diện tác động của quy mô, phí kiểm toán, nhiệm kỳ, năng lực KTV, kiểm soát chất lượng và môi trường pháp lý.

Khoảng trống nghiên cứu luận án giải quyết

  1. Thang đo các yếu tố ảnh hưởng đến CLKT trong nước chưa được xây dựng dựa trên một khuôn khổ lý thuyết toàn diện và đa chiều.
  2. Về phương pháp, các nghiên cứu tại Việt Nam trước đây chỉ dừng lại ở phân tích nhân tố khám phá (EFA) mà chưa kiểm định mô hình bằng phân tích nhân tố khẳng định (CFA) để khẳng định tính phù hợp với dữ liệu thị trường.
  3. Chưa phân định rõ bản chất CLKT dưới hai góc độ: chất lượng của một hoạt động (CLHĐKT) và chất lượng của một dịch vụ (CLDVKT).
  4. Chưa kiểm tra thực nghiệm sự khác biệt về nhận thức giữa KTV và các bên liên quan (kế toán, nhà đầu tư) đối với các khía cạnh kỹ thuật và phục vụ của CLKT.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Cơ sở lý thuyết và khung phân tích

  • Bản chất và tính hai mặt của kiểm toán: Kiểm toán độc lập ra đời nhằm giải quyết sự tách biệt giữa sở hữu và quản lý, giảm thiểu bất đối xứng thông tin, rủi ro thông tin và chi phí ủy nhiệm, qua đó bảo vệ thị trường vốn. Mặt khác, kiểm toán được vận hành thông qua các doanh nghiệp kiểm toán có mục tiêu kinh doanh, tạo nên sự đan xen giữa yêu cầu kỹ thuật và đặc tính dịch vụ.
  • Khuôn mẫu CLHĐKT của IAASB (2014): Khung phân tích nền tảng cho Nghiên cứu 1 gồm 5 thành tố: Đầu vào (giá trị, đạo đức, thái độ, kiến thức, kỹ năng, thời gian); Quy trình (phương pháp luận, kiểm soát chất lượng); Đầu ra (báo cáo kiểm toán, báo cáo quản trị, công khai thông tin); Tương tác giữa các bên; và Bối cảnh (pháp lý, quản trị, môi trường kiện tụng).
  • Khuôn khổ CLDVKT của Duff (2004) - Mô hình AUDITQUAL: Khung phân tích nền tảng cho Nghiên cứu 2, phân định CLKT thành hai nhóm: Chất lượng kỹ thuật (Uy tín, Tính độc lập, Kiến thức) và Chất lượng phục vụ (Sự tương tác, Dịch vụ phi kiểm toán, Sự nhiệt tình, Cung cấp thông tin).

Phương pháp nghiên cứu

Luận án kết hợp phương pháp nghiên cứu định tính và định lượng qua 2 nghiên cứu độc lập:

Đặc điểm phương pháp Nghiên cứu 1 (CLHĐKT) Nghiên cứu 2 (CLDVKT)
Mục tiêu Xây dựng khung yếu tố quyết định CLHĐKT và kiểm tra khác biệt nội bộ KTV Đánh giá nhận thức và kiểm định khác biệt giữa KTV và các bên liên quan
Nền tảng lý thuyết Khuôn mẫu CLKT của IAASB (2014) Mô hình AUDITQUAL của Duff (2004), SERVQUAL
Thang đo Likert 5 mức, phát triển từ 80 câu hỏi ban đầu, qua khảo sát ý kiến chuyên gia Likert 5 mức, 7 thang đo chất lượng kỹ thuật và phục vụ, qua khảo sát chuyên gia
Công cụ & Kỹ thuật phân tích - Cronbach's Alpha (kiểm định độ tin cậy thang đo)
- EFA (phân tích nhân tố khám phá qua 6 lần xoay trên SPSS)
- CFA (phân tích nhân tố khẳng định trên AMOS)
- Independent Samples T-test
- Cronbach's Alpha
- Kiểm định đồng nhất phương sai Levene
- One-Way ANOVA / Kruskal-Wallis
- Post-hoc test
Mẫu khảo sát KTV tại Việt Nam (Partner: Giám đốc KT, Chủ nhiệm KT; Staff: KTV chính, Trợ lý KT >= 3 năm kinh nghiệm; Big 4 và Non-Big 4) 3 nhóm: KTV, người làm kế toán (bên cung cấp BCTC) và nhà đầu tư cá nhân (bên sử dụng BCTC)

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1 – Tổng quan các nghiên cứu về CLKT và xác định vấn đề nghiên cứu

Chương 1 hệ thống hóa các nghiên cứu quốc tế và trong nước về CLKT theo hai nhánh phân tích tương quan và phân tích nhân tố. Tác giả chỉ rõ các chỉ báo chất lượng đầu ra (BCTC trình bày lại, AAERs, ý kiến Going concern, mô hình dồn tích bất thường) và các biến số thuộc tính công ty kiểm toán. Từ việc chỉ ra khoảng trống về thiếu vắng khung lý thuyết tích hợp và kiểm định mô hình tại Việt Nam, chương 1 xác lập mục tiêu, 7 câu hỏi nghiên cứu và sơ đồ định hướng của luận án.

Chương 2 – Cơ sở lý thuyết về CLKT

Chương 2 luận giải tính chất đa chiều của CLKT bắt nguồn từ vai trò xã hội của hoạt động kiểm toán trong việc giảm thiểu rủi ro thông tin và chi phí ủy nhiệm, kết hợp với góc độ vận hành dịch vụ kinh doanh. Chương phân tích chi tiết:

  • Sự hình thành các khuôn khổ lý thuyết CLHĐKT: Mô hình FRC (2008), Francis (2011), Knechel et al. (2012) và Khuôn mẫu CLKT của IAASB (2014).
  • Lý thuyết chất lượng dịch vụ: Mô hình Gronroos (1982), Parasuraman et al. (mô hình 5 khoảng cách Servqual), Cronin and Taylor (1992 - SERVPERF) và mô hình 8 khoảng cách AUDITQUAL của Duff (2004).

Chương 3 – Nhận thức của KTV về CLHĐKT

Chương 3 trình bày phương pháp và kết quả của Nghiên cứu 1:

  • Phát triển thang đo từ 80 biến quan sát ban đầu qua phỏng vấn chuyên gia.
  • Đánh giá độ tin cậy thang đo (Cronbach's Alpha) và tiến hành EFA qua 6 lần lọc biến để xác định cấu trúc 8 nhân tố.
  • Sử dụng CFA kiểm định mô hình đo lường: kiểm tra các chỉ số mức độ phù hợp mô hình, trọng số hồi quy chuẩn hóa và giá trị phân biệt giữa các khái niệm.
  • Kết quả kiểm định T-test về sự khác biệt nhận thức giữa các nhóm KTV:
    • Partner và Staff: Điểm trung bình đánh giá cho thấy Partner xem trọng yếu tố "Bối cảnh" hơn Staff; trong khi Staff xem trọng yếu tố "Công khai của công ty kiểm toán" hơn Partner.
    • Big 4 và Non-Big 4: Nhóm KTV thuộc Big 4 đánh giá tầm quan trọng của yếu tố "Công khai của công ty kiểm toán" cao hơn nhóm Non-Big 4.

Chương 4 – Sự khác biệt về nhận thức về CLKT giữa KTV và các bên liên quan

Chương 4 thực hiện Nghiên cứu 2 so sánh nhận thức của KTV, người làm kế toán và nhà đầu tư:

  • Đánh giá độ tin cậy của 7 thang đo khung CLDVKT.
  • Kiểm định tính đồng nhất phương sai Levene và kiểm định ANOVA / Kruskal-Wallis kèm phân tích Post-hoc test.
  • Kết quả:
    • Chất lượng kỹ thuật (Uy tín, Tính độc lập, Kiến thức): Có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa các nhóm; KTV đánh giá tầm quan trọng cao hơn so với kế toán và nhà đầu tư (phù hợp với Duff, 2004).
    • Chất lượng phục vụ (Sự tương tác, Dịch vụ phi kiểm toán, Sự nhiệt tình, Cung cấp thông tin): Không tìm thấy bằng chứng có ý nghĩa thống kê về sự khác biệt trong đánh giá giữa KTV và các bên liên quan (khác biệt với phát hiện của Duff, 2004).

Chương 5 – Kết luận và hàm ý áp dụng

Chương 5 tổng hợp các kết quả thực nghiệm, đánh giá các phát hiện đối chiếu với các khuôn mẫu lý thuyết quốc tế, nêu rõ các đóng góp học thuật và hàm ý thực tiễn cho cơ quan quản lý Nhà nước, Hội nghề nghiệp (VACPA), các doanh nghiệp kiểm toán và cơ sở đào tạo, đồng thời chỉ ra các hạn chế của nghiên cứu.


Kết quả và những đóng góp mới

Kết quả nghiên cứu chính

  1. Xác lập Khung 8 yếu tố quyết định CLHĐKT theo nhận thức của KTV:
Nhóm cấu trúc hoạt động Tên yếu tố quyết định CLHĐKT
Đầu vào (Inputs) 1. Năng lực nhóm kiểm toán
2. Chính sách chất lượng của công ty kiểm toán
Quy trình (Process) 3. Phương pháp luận kiểm toán
Đầu ra (Outputs) 4. Cung cấp thông tin cho ban quản trị và quản lý
5. Công khai của công ty kiểm toán
Tương tác (Interaction) 6. Tương tác các bên
Bối cảnh (Contextual) & Giám sát 7. Giám sát từ bên ngoài
8. Bối cảnh
  1. Bằng chứng về sự ảnh hưởng của kinh nghiệm và môi trường làm việc đến nhận thức của KTV:
    • KTV cấp quản lý (Partner) chú trọng nhiều hơn đến các yếu tố thuộc "Bối cảnh" hoạt động nhờ tầm nhìn bao quát và kinh nghiệm nghề nghiệp.
    • KTV cấp thực hiện (Staff) quan tâm nhiều hơn đến "Công khai của công ty kiểm toán".
    • KTV thuộc nhóm Big 4 đánh giá tầm quan trọng của việc "Công khai của công ty kiểm toán" cao hơn nhóm Non-Big 4.
  2. Bằng chứng về sự khác biệt nhận thức giữa KTV và các bên liên quan:
    • Tồn tại sự khác biệt có ý nghĩa thống kê ở thành tố "Chất lượng kỹ thuật": KTV đánh giá các thuộc tính về uy tín, tính độc lập và kiến thức cao hơn kế toán và nhà đầu tư.
    • Không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê ở thành tố "Chất lượng phục vụ" (sự tương tác, dịch vụ phi kiểm toán, sự nhiệt tình, cung cấp thông tin), phản ánh sự thay đổi và tương đồng trong nhận thức dịch vụ kiểm toán tại Việt Nam so với các nghiên cứu quốc tế trước đây.

Đóng góp mới về mặt khoa học (Lý luận)

  • Xây dựng và kiểm định thành công Khung các yếu tố quyết định CLHĐKT tại Việt Nam dựa trên Khuôn mẫu IAASB bằng kỹ thuật phân tích nhân tố khẳng định (CFA), bảo đảm tính phù hợp dữ liệu thực tế.
  • Phân định rõ ràng khái niệm CLKT dưới hai góc độ: chất lượng của một hoạt động tổng thể (CLHĐKT) và chất lượng của một dịch vụ (CLDVKT), khắc phục hạn chế tiếp cận đơn lẻ của các nghiên cứu trước đây tại Việt Nam.
  • Cung cấp bằng chứng thực nghiệm về cấu trúc đa chiều của CLKT và làm rõ khoảng cách nhận thức giữa KTV với các bên liên quan cũng như sự khác biệt nhận thức nội bộ ngành kiểm toán theo thâm niên và môi trường làm việc.

Đóng góp mới về mặt thực tiễn (Hàm ý và kiến nghị)

  • Cơ quan quản lý Nhà nước và Hội nghề nghiệp (VACPA): Cung cấp cơ sở khoa học để thiết lập tiêu chí kiểm tra, giám sát chất lượng hoạt động của các công ty kiểm toán; hoàn thiện cơ chế công khai thông tin minh bạch; nâng cao hiệu lực kiểm soát từ bên ngoài.
  • Công ty kiểm toán: Định hướng hoàn thiện phương pháp luận kiểm toán, củng cố chính sách kiểm soát chất lượng nội bộ, đào tạo năng lực chuyên môn cho nhóm kiểm toán và chú trọng kênh trao đổi thông tin với ban quản trị khách hàng.
  • Xã hội và thị trường: Cung cấp góc nhìn đa chiều giúp hoạch định các chính sách cân bằng giữa lợi ích xã hội nhận được từ chất lượng kiểm toán và chi phí xã hội bỏ ra.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Hạn chế của luận án

  • Phạm vi nghiên cứu giới hạn trong hoạt động kiểm toán BCTC do các công ty Kiểm toán Độc lập thực hiện tại thị trường Việt Nam, chưa bao quát các loại hình kiểm toán khác (kiểm toán nội bộ, kiểm toán nhà nước).
  • Cỡ mẫu khảo sát các bên liên quan (đặc biệt là nhà đầu tư cá nhân) còn mang tính đại diện trong phạm vi tiếp cận khảo sát thực tế.

Đề xuất cho các nghiên cứu tiếp theo

  • Mở rộng phạm vi khảo sát đối với các nhóm đối tượng liên quan chuyên sâu hơn như các nhà phân tích tài chính, ủy ban kiểm toán trong doanh nghiệp niêm yết.
  • Ứng dụng khung thang đo CLHĐKT đã được kiểm định bằng CFA để tiếp tục đo lường mức độ tác động định lượng của từng yếu tố đến kết quả kiểm toán thực tế trong các giai đoạn thị trường mới.

Giá trị tham khảo

Luận án là tài liệu tham khảo chuyên sâu cho các nhóm đối tượng:

  • Nghiên cứu sinh và học viên cao học chuyên ngành Kế toán - Kiểm toán: Tham khảo khung lý thuyết tổng hợp về CLKT (FRC, IAASB, Duff, Francis, Knechel), quy trình phát triển thang đo chuẩn hóa từ EFA đến CFA trên AMOS, và các kỹ thuật kiểm định khác biệt trung bình (T-test, ANOVA, Kruskal-Wallis).
  • Giảng viên và cơ sở đào tạo: Bổ sung học liệu giảng dạy về bản chất đa chiều của kiểm toán, phân biệt CLHĐKT và CLDVKT.
  • Cơ quan quản lý (Bộ Tài chính, UBCKNN) và VACPA: Tham khảo các thành tố trong khung 8 yếu tố để xây dựng bảng tiêu chí đánh giá, chấm điểm kiểm soát chất lượng định kỳ đối với các tổ chức kiểm toán độc lập.
  • Ban điều hành các công ty kiểm toán: Sử dụng khung phân tích để nhận diện sự khác biệt quan điểm giữa Partner và Staff, từ đó thiết kế quy trình kiểm soát chất lượng và chương trình đào tạo nội bộ phù hợp.

Câu hỏi thường gặp

1. Tám yếu tố quyết định CLHĐKT được xác định trong luận án gồm những yếu tố nào?

Tám yếu tố được cấu trúc theo các thành phần của một hoạt động kiểm toán gồm:

  • Đầu vào: (1) Năng lực nhóm kiểm toán; (2) Chính sách chất lượng của công ty kiểm toán.
  • Quy trình: (3) Phương pháp luận kiểm toán.
  • Đầu ra: (4) Cung cấp thông tin cho ban quản trị và quản lý; (5) Công khai của công ty kiểm toán.
  • Tương tác: (6) Tương tác các bên.
  • Bối cảnh & Giám sát: (7) Giám sát từ bên ngoài; (8) Bối cảnh.

2. Sự khác biệt trong nhận thức về CLKT giữa Partner và Staff được luận án phát hiện như thế nào?

Kết quả kiểm định Independent Samples T-test chỉ ra:

  • Nhóm Partner (Giám đốc và Chủ nhiệm kiểm toán) có xu hướng đánh giá cao tầm quan trọng của yếu tố "Bối cảnh" hơn nhóm Staff (KTV chính và Trợ lý kiểm toán) nhờ kinh nghiệm nghề nghiệp và tầm nhìn bao quát môi trường pháp lý, quản trị.
  • Nhóm Staff lại có khuynh hướng xem trọng yếu tố "Công khai của công ty kiểm toán" hơn nhóm Partner.

3. Có sự khác biệt nhận thức nào giữa KTV thuộc nhóm Big 4 và Non-Big 4?

Kiểm định T-test ghi nhận sự khác biệt có ý nghĩa thống kê ở yếu tố "Công khai của công ty kiểm toán": KTV làm việc tại các công ty kiểm toán thuộc nhóm Big 4 đánh giá tầm quan trọng của việc công khai thông tin của công ty kiểm toán cao hơn so với KTV thuộc nhóm Non-Big 4.

4. Kết quả kiểm định sự khác biệt giữa KTV và các bên liên quan (kế toán, nhà đầu tư) có điểm gì tương đồng và khác biệt so với nghiên cứu quốc tế của Duff (2004)?

  • Điểm tương đồng: Ở thành tố "Chất lượng kỹ thuật" (uy tín, tính độc lập, kiến thức), KTV đánh giá tầm quan trọng cao hơn đáng kể so với người làm kế toán và nhà đầu tư, tương đồng với kết luận của Duff (2004).
  • Điểm khác biệt: Ở thành tố "Chất lượng phục vụ" (sự tương tác, dịch vụ phi kiểm toán, sự nhiệt tình, cung cấp thông tin), luận án không tìm thấy sự khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa các bên. Trong khi đó, Duff (2004) kết luận giám đốc tài chính (CFO) đánh giá chất lượng phục vụ cao hơn KTV.

Kết luận

Luận án của tác giả Lê Thị Thanh Xuân (2018) đã giải quyết khoảng trống nghiên cứu về đo lường chất lượng kiểm toán tại Việt Nam bằng việc thiết lập và kiểm định thực nghiệm Khung 8 yếu tố quyết định chất lượng hoạt động kiểm toán dựa trên khuôn mẫu IAASB thông qua phân tích CFA. Công trình đồng thời làm rõ tính chất hai mặt của kiểm toán thông qua việc kiểm tra sự khác biệt nhận thức nội bộ KTV theo thâm niên, môi trường làm việc và giữa KTV với các bên liên quan về chất lượng dịch vụ kiểm toán. Các kết quả này cung cấp cơ sở dữ liệu học thuật và căn cứ thực tiễn phục vụ việc hoàn thiện chính sách quản lý, giám sát và nâng cao chất lượng hoạt động kiểm toán độc lập tại Việt Nam.