Chương 1: Tổng quan nghiên cứu Chương 2: Cơ sở lý thuyết Chương 3: Phương pháp nghiên cứu Chương 4: Kết quả nghiên cứu Chương 5: Kết luận và kiến nghị. TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU Hiện nay, các nghiên cứu nước ngoài về các yếu tố ảnh hưởng đến CLKT ƯTKT nhìn chung đã được nghiên cứu khá nhiều. Tuy nhiên, mô hình nghiên cứu cụ thể vẫn chưa được làm sáng tỏ và quan tâm đúng mức. Các nghiên cứu đa số là theo phương pháp định tính nhằm tìm ra các khó khăn đối với KTV khi tiến hành kiểm toán các ƯTKT, phương pháp tiếp cận cũng như mức độ nhận thức và tuân thủ quy trình trong kiểm toán khoản mục này, tìm ra những thiếu sót mà KTV cần phải nhận thức và khắc phục để nâng cao CLKT các ƯTKT.
Tại Việt Nam, các đề tài nghiên cứu về ƯTKT còn khá hạn chế, đa số tập trung nghiên cứu hoàn thiện thủ tục kiểm toán các ƯTKT hoặc nghiên cứu về các nhân tố tác động đến CLKT BCTC. Số lượng các nghiên cứu áp dụng mô hình định lượng để nhận diện và xem xét mức độ tác động của các nhân tố đến CLKT ƯTKT còn rất ít. Nghiên cứu nước ngoài Trên thế giới, có khá nhiều nhà nghiên cứu quan tâm đến vấn đề kiểm toán các ƯTKT, thể hiện qua các công trình nghiên cứu đăng trên các tạp chí chuyên ngành, các luận án tiến sĩ, luận văn thạc sĩ của các trường đại học. Các nghiên cứu sẽ được tác giả trình bày theo thời gian thông qua tóm tắt nội dung, giới hạn của nghiên cứu và hướng nghiên cứu gợi ý trong tương lai.
Một số nghiên cứu sử dụng ƯTKT để thể hiện sự ảnh hưởng của việc KTV tin tưởng vào quyết định của mình hơn là tập trung vào quá trình kiểm toán các ƯTKT, từ đó làm tăng cơ hội gian lận của các nhà quản lý đối với các ƯTKT, cùng với ảnh hưởng của sự không chắc chắn của các ƯTKT làm ảnh hưởng đến xét đoán của KTV bởi các động cơ của họ (Johnstone và cộng sự, 2001). Đồng thời, dưới áp lực của các nhà quản lý, khả năng KTV chấp nhận phương pháp xác định và ghi nhận doanh thu không phù hợp sẽ tăng (Kadous và cộng sự, 2003) làm sai lệch xét đoán của KTV theo hướng của các nhà quản lý. Sự tin tưởng ban đầu của KTV về ƯTKT cũng ảnh hưởng đến đánh giá sau này của KTV về ƯTKT đó. KTV sẽ có chiều hướng đánh giá cao hơn các bằng chứng giống với suy nghĩ ban đầu của mình về ƯTKT mà không quan tâm đến các bằng chứng trái ngược hoặc mâu thuẫn.
Do đó, KTV sẽ tốn nhiều 8 thời gian để đánh giá các vấn đề đã được chỉ ra bởi bằng chứng kiểm toán (Earley, 2002). Những hiểu biết ban đầu của KTV về việc xây dựng ƯTKT của nhà quản lý và đánh giá các bằng chứng sẽ có ảnh hưởng thiên lệch với những ước tính đó (Jenkins và Haynes, 2013). Có thể thấy, các nghiên cứu trên chỉ ra rằng KTV thường chịu ảnh hưởng của các thông tin ban đầu từ phía nhà quản lý hoặc thông tin do các KTV tự thu thập được. Hạn chế của các nghiên cứu này là chưa tập trung vào quy trình kiểm toán cũng như các thủ tục và phương pháp mà KTV thực hiện kiểm toán các ƯTKT.
Trong nghiên cứu gần đây, Griffith và cộng sự (2011) chỉ ra rằng khi kiểm toán các ƯTKT, KTV thường có xu hướng tin tưởng quá mức vào phương pháp ước tính của BGĐ cũng như vào những thông tin ban đầu về ƯTKT mà KTV thu thập được. Do bản chất không chắc chắn của dữ liệu khuyến khích việc kiểm toán dựa trên xét đoán và kinh nghiệm, dẫn đến những lựa chọn phù hợp với thông tin ban đầu thường được ưu tiên và ngược lại, những lựa chọn không phù hợp thường không được chú ý để đánh giá và xử lý. Tuy nhiên, các nghiên cứu này vẫn còn tồn tại giới hạn như các nghiên cứu trước, đó là chưa tập trung vào quá trình kiểm toán và các thủ tục kiểm toán ƯTKT. Một số nghiên cứu sau đó đã đề cập đến thủ tục kiểm toán các ƯTKT.
Trong nghiên cứu của mình, Griffith và cộng sự (2010) đã phân tích cách thức KTV đánh giá tính hợp lý của các ƯTKT, từ đó xác định những khó khăn mà KTV gặp phải trong quá trình kiểm toán khoản mục này và đưa ra giải pháp cải thiện. Các tác giả phỏng vấn 15 KTV có kinh nghiệm thuộc các công ty kiểm toán đã thực hiện hơn 100 cuộc kiểm toán công ty đại chúng và so sánh kết quả với CMKiT. Sau đó, nghiên cứu được chính nhóm tác giả (Griffith và cộng sự, 2011) phát triển trong một nghiên cứu khác bằng cách phân tích CMKiT liên quan đến ƯTKT. Nhóm tác giả phỏng vấn 24 chủ nhiệm kiểm toán và chủ phần hùn của 6 hãng kiểm toán lớn ở Mỹ, từ đó đánh giá thực tế công việc kiểm toán và mức độ phù hợp với yêu cầu của CMKiT, đồng thời phân tích các báo cáo của PCAOB để đánh giá những khó khăn mà KTV gặp phải khi kiểm toán các ƯTKT.
Kết quả nghiên cứu cho thấy KTV thường quá tin 9 tưởng vào quá trình lập ước tính của BGĐ mà không xây dựng ước tính độc lập. Trong một số trường hợp, KTV không hiểu cách thức và quá trình lập ƯTKT của BGĐ, không đánh giá đầy đủ các dữ liệu và giả định cũng như không chú ý đến sự không nhất quán giữa các ước tính với dữ liệu nội bộ và bên ngoài. Từ đó, nghiên cứu đề xuất các kiến nghị để hoàn thiện thủ tục kiểm toán các ƯTKT. Trong nghiên cứu của mình, nhóm tác giả Brian và cộng sự (2015) đã xem xét cách thức KTV thực hiện các thủ tục kiểm toán đối với các ƯTKT như thế nào để có thể giảm thiểu ảnh hưởng của sự thiên lệch từ BGĐ khi lập các ƯTKT.
Các tác giả đã khảo sát các KTV dày dặn kinh nghiệm trong các công ty kiểm toán thuộc Big-4 ở Mỹ. Kết quả của nghiên cứu cho thấy nếu KTV xây dựng một ước tính độc lập hoặc thực hiện đánh giá các bằng chứng kiểm toán ước tính thích hợp trước khi xem xét cách thức BGĐ lập ƯTKT thì sẽ giảm được ảnh hưởng từ sự chủ quan của BGĐ đến kết quả kiểm toán ƯTKT. Đồng thời, nếu KTV xem xét cách thức BGĐ lập ƯTKT trước khi đánh giá các bằng chứng kiểm toán ƯTKT thích hợp thì có gần 90% KTV cho rằng cách thức BGĐ lập ƯTKT là không hợp lý. Tuy nhiên, mâu thuẫn ở chỗ là một nửa trong số các KTV đánh giá cách thức BGĐ lập ƯTKT là không hợp lý nhưng lại chấp nhận và sử dụng cách thức này để đánh giá lại các ƯTKT.
Từ đó, nhóm tác giả đưa ra lời khuyên cho các KTV là nên chủ động xây dựng một ước tính độc lập hoặc kiểm tra sự hợp lý của các bằng chứng kiểm toán liên quan ƯTKT trước khi đánh giá cách thức BGĐ lập ƯTKT để tránh sự ảnh hưởng của quan điểm chủ quan của BGĐ đến kết quả kiểm toán ƯTKT. Nghiên cứu của Bratten và cộng sự (2013), chỉ ra rằng thái độ hoài nghi nghề nghiệp và kiến thức định giá là những nhân tố chính thuộc về bản thân KTV và có ảnh hưởng đến kiểm toán các ƯTKT. Kiến thức định giá yêu cầu càng cao khi công việc kiểm toán phức tạp và tính không chắc chắn của ước tính tăng lên. Trong nghiên cứu của Griffith và cộng sự (2015) nghiên cứu về cách thức KTV thực hiện kiểm toán các ƯTKT, bao gồm các ước tính phức tạp.
Tác giả phỏng vấn các KTV giàu kinh nghiệm, so sánh kết quả với CMKiT và các báo cáo của PCAOB, từ đó chỉ ra hai nguyên nhân chính gây khó khăn cho KTV khi kiểm toán 10 các ƯTKT là: Chuẩn mực và các công ty kiểm toán ưu tiên việc xác minh và kiểm tra lại phương pháp ước tính của BGĐ hơn so với các phương pháp kiểm toán ƯTKT; Các công ty kiểm toán phân chia kiến thức giữa KTV và các chuyên gia, dẫn đến việc KTV thiếu thông tin có thể kiểm toán các ƯTKT một cách hiệu quả. Hạn chế của nghiên cứu là chỉ phân tích và khảo sát các thủ tục kiểm toán đối với ƯTKT và chưa khảo sát đầy đủ toàn bộ các giai đoạn của cuộc kiểm toán. Griffith và cộng sự (2015) cho rằng BCTC chứa đựng nhiều rủi ro do các ƯTKT. Bằng cách phân tích từng sai sót mà KTV gặp phải, tác giả đề nghị các KTV cần suy nghĩ nhiều hơn, kết hợp bằng chứng từ các nguồn khác nhau để đánh giá thông tin.
Bên cạnh đó, tư duy phản biện sẽ giúp các KTV xác định và kết nối tạo thành hệ thống thông tin liền mạch để phát hiện các ước tính không hợp lý, từ đó xây dựng được hướng kiểm toán phù hợp. KTV cần xem xét nên đánh giá bằng chứng như thế nào, chứ không phải làm thế nào để thu thập được nhiều bằng chứng nhất. Để việc phân tích dựa trên tư duy phản biện hiệu quả thì đòi hỏi KTV phải có nhiều kinh nghiệm và năng lực chuyên môn. Nghiên cứu trong nước Tại Việt Nam, nghiên cứu về các nhân tố tác động đến CLKT ƯTKT còn khá hạn chế.
Phần lớn các nghiên cứu sử dụng phương pháp định tính và chỉ dừng lại ở mục đích tìm hiểu và hoàn thiện quy trình kiểm toán các ƯTKT tại các DNKT cụ thể và trên một địa bàn nhất định. Các nghiên cứu định lượng hầu hết tập trung vào mục đích xác định các nhân tố và mức độ ảnh hưởng của từng nhân tố đến CLKT nói chung. Trong thời gian thực hiện đề tài có nhiều hạn chế, tác giả đã tổng hợp được một số nghiên cứu sau: Luận án tiến sĩ của Đoàn Thanh Nga (2011) đã đưa ra khái niệm mới về CLKT, đó là CLKT không chỉ được đo lường qua mức độ thỏa mãn của người sử dụng kết quả kiểm toán mà còn là quá trình tuân thủ các quy định và CMKiT hiện hành. Nghiên cứu đã xây dựng mô hình cụ thể hóa mối quan hệ tương tác giữa các nhân tố tác động đến CLKT và nhấn mạnh đến các nhân tố thuộc về kỹ thuật đánh giá mức trọng yếu và rủi ro kiểm toán.
Tác giả chỉ ra rằng phương pháp tiếp cận dựa 11 trên đánh giá trọng yếu và rủi ro kiểm toán theo rủi ro kinh doanh của doanh nghiệp khách hàng sẽ hiệu quả hơn phương pháp tiếp cận truyền thống dựa vào đánh giá các khoản mục cụ thể trên BCTC.