Chương 1: Cơ sở lý luận về hiệu quả kinh doanh của ngân hàng thương mại; Chương 2: Thực trạng hiệu quả kinh doanh của Ngân hàng Thương mại Cổ phần Công thương Việt Nam – Chi nhánh Hà Giang; Chương 3: Giải pháp nâng cao hiệu quả kinh doanh của Ngân hàng Thương mại Cổ phần Công thương Việt Nam – Chi nhánh Hà Giang. 8 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HIỆU QUẢ KINH DOANH CỦA NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1. Tổng quan về Ngân hàng thƣơng mại 1. Khái niệm ngân hàng thương mại Theo Trầm Thị Xuân Hương (2013): “NHTM là tổ chức được thành lập theo quy định của pháp luật, kinh doanh trong lĩnh vực tiền tệ, với hoạt động thường xuyên là nhận tiền gửi dưới nhiều hình thức khác nhau và sử dụng số tiền này để cấp tín dụng, cung ứng dịch vụ thanh toán cho các chủ thể trong nền kinh tế, nhằm mục tiêu lợi nhuận”.
Theo Nghị định 59/2009/NĐ-CP: “NHTM là ngân hàng được thực hiện toàn bộ hoạt động ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác có liên quan vì mục tiêu lợi nhuận theo quy định của Luật các TCTD và các quy định khác của pháp luật”. Luật Các tổ chức tín dụng hợp nhất (Văn bản hợp nhất số 07/VBHN-VPQH ngày 12/12/2017) quy định: “Ngân hàng là loại hình tổ chức tín dụng có thể được thực hiện tất cả các hoạt động ngân hàng theo quy định của Luật này. Theo tính chất và mục tiêu hoạt động, các loại hình ngân hàng bao gồm NHTM, ngân hàng chính sách, ngân hàng hợp tác xã”. Trong đó, NHTM là loại hình ngân hàng được thực hiện tất cả các hoạt động ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác theo quy định của Luật này nhằm mục tiêu lợi nhuận.
Dựa theo các khái niệm về NHTM thì NHTM ra đời và phát triển gắn liền với nền sản xuất hàng hoá, kinh doanh loại hàng hoá rất đặc biệt đó là “tiền tệ”. Thực chất thì các NHTM kinh doanh “quyền sử dụng vốn”. Nghĩa là NHTM nhận tiền gửi của công chúng, của các tổ chức kinh tế, xã hội, và sử dụng số tiền đó để cho vay và làm phương tiện thanh toán với những điều kiện ràng buộc là phải hoàn trả lại vốn gốc và lãi nhất định theo thời hạn đã thoả thuận. Chức năng của ngân hàng thương mại 1.
Chức năng trung gian tín dụng Chức năng trung gian tín dụng được xem là chức năng quan trọng nhất của NHTM. Khi thực hiện chức năng trung gian tín dụng, NHTM đóng vai trò là cầu nối giữa người thừa vốn và người có nhu cầu về vốn. Với chức năng này, NHTM vừa đóng vai trò là người đi vay, vừa đóng vai trò là người cho vay và hưởng lợi nhuận là khoản chênh lệch giữa lãi suất nhận gửi và lãi suất cho vay và góp phần tạo lợi ích cho tất cả các bên tham gia: người gửi tiền và người đi vay.2 Chức năng trung gian thanh toán và quản lý các phương tiện thanh toán NHTM đóng vai trò là thủ quỹ cho các doanh nghiệp và cá nhân, thực hiện các thanh toán theo yêu cầu của khách hàng như trích tiền từ tài khoản tiền gửi của họ để thanh toán tiền hàng hóa, dịch vụ hoặc nhập vào tài khoản tiền gửi của khách hàng tiền thu bán hàng và các khoản thu khác theo lệnh của họ. Các NHTM cung cấp cho khách hàng nhiều phương tiện thanh toán tiện lợi như séc, ủy nhiệm chi, ủy nhiệm thu, thẻ rút tiền, thẻ thanh toán, thẻ tín dụng… Tùy theo nhu cầu, khách hàng có thể chọn cho mình phương thức thanh toán phù hợp.
Nhờ đó mà các chủ thể kinh tế không phải giữ tiền trong túi, mang theo tiền để gặp chủ nợ, gặp người phải thanh toán dù ở gần hay xa mà họ có thể sử dụng một phương thức nào đó để thực hiện các khoản thanh toán. Do vậy các chủ thể kinh tế sẽ tiết kiệm được rất nhiều chi phí, thời gian, lại đảm bảo thanh toán an toàn. Chức năng này vô hình chung đã thúc đẩy lưu thông hàng hóa, đẩy nhanh tốc độ thanh toán, tốc độ lưu chuyển vốn, từ đó góp phần phát triển kinh tế (Nguyễn Văn Tiến, 2013). Chức năng tạo tiền Tạo tiền là một chức năng quan trọng, phản ánh rõ bản chất của ngân NHTM.
Với mục tiêu là tìm kiếm lợi nhuận như là một yêu cầu chính cho sự tồn tại và phát triển của mình, các NHTM với nghiệp vụ kinh doanh mang tính đặc thù của mình đã vô hình chung thực hiện chức năng tạo tiền cho nền kinh tế. 10 Chức năng tạo tiền được thực thi trên cơ sở hai chức năng khác của NHTM là chức năng tín dụng và chức năng thanh toán. Thông qua chức năng trung gian tín dụng, ngân hàng sử dụng số vốn huy động được để cho vay, số tiền cho vay ra lại được khách hàng sử dụng để mua hàng hóa, thanh toán dịch vụ trong khi số dư trên tài khoản tiền gửi thanh toán của khách hàng vẫn được coi là một bộ phận của tiền giao dịch, được họ sử dụng để mua hàng hóa, thanh toán dịch vụ… Với chức năng này, hệ thống NHTM đã làm tăng tổng phương tiện thanh toán trong nền kinh tế, đáp ứng nhu cầu thanh toán, chi trả của xã hội. NHTM tạo tiền phụ thuộc vào tỉ lệ dự trữ bắt buộc của ngân hàng trung ương đã áp dụng đối với NHTM.
Do vậy ngân hàng trung ương có thể tăng tỉ lệ này khi lượng cung tiền vào nền kinh tế lớn (Nguyễn Văn Tiến, 2013). Các loại nghiệp vụ kinh doanh của ngân hàng thương mại 1.1 Căn cứ vào đối tượng khách hàng Theo cách phân loại này, NHTM có hai nghiệp vụ: Nghiệp vụ khách hàng doanh nghiệp, đối tượng khách hàng là các tổ chức kinh tế, chủ yếu là các nghiệp vụ bán buôn nhằm phục vụ cho các hoạt động sản xuất kinh doanh. Nghiệp vụ khách hàng cá nhân, đối tượng khách hàng là cá nhân, chủ yếu là các nghiệp vụ bán lẻ phục vụ cho tiêu dùng và cho đời sống của công chúng. Căn cứ vào khả năng sinh lời Theo cách phân loại này, NHTM có hai nghiệp vụ: Nghiệp vụ không sinh lời, liên quan đến các nghiệp vụ tiền mặt dự trữ bắt buộc, dự trữ để đảm bảo thanh toán và các nghiệp vụ quản lí tài sản cố định.
Nghiệp vụ sinh lời, bao gồm tất cả các nghiệp vụ trên tài sản có sau khi đã loại trừ các nghiệp vụ không sinh lời. Căn cứ vào lãi suất hình thành Theo cách phân loại này, NHTM có hai nghiệp vụ: Nghiệp vụ truyền thống, bao gồm các nghiệp vụ như cho vay, nhận tiền gửi, chiết khấu, kinh doanh chứng khoán…. 11 Nghiệp vụ hiện đại, bao gồm các nghiệp vụ như cấp tài khoản mở để thanh toán bù trừ, phát hành thẻ, nghiệp vụ bao thanh toán, nghiệp vụ cho thuê tài chính, phát hành các công cụ mới, các công cụ phái sinh,… 1. Căn cứ vào mục tiêu hoạch toán Theo cách phân loại này, NHTM có hai nghiệp vụ: Nghiệp vụ nội bảng, là các nghiệp vụ có liên quan đến vấn đề sử dụng vốn.
Khi thực hiện ngay lập tức sẽ làm thay đổi kết cấu bảng cân đối tài sản Nghiệp vụ ngoại bảng, không liên quan trực tiếp đến vấn đề sử dụng vốn, chỉ phát sinh trong quá trình giao dịch với khách hàng, không thể hiện trên bảng cân đối 1. Các hoạt động cơ bản của ngân hàng thương mại Kinh doanh ngân hàng là việc kinh doanh, cung ứng thường xuyên một hoặc một số các nghiệp vụ như nhận tiền gửi, cấp tín dụng, cung ứng dịch vụ thanh toán qua tài khoản.Các hoạt động kinh doanh này nhằm mục đích sinh lời từ việc buôn bán, cung cấp dịch vụ nhằm đáp ứng nhu cầu của khách hàng thông qua việc thực hiện các công việc có tính chuyên môn. Các hoạt động kinh doanh ngân hàng tác động mạnh mẽ đến nền kinh tế của đất nước, chính vì thế nó cần phải tuân thủ theo đúng quy định của pháp luật để tránh khỏi những thiệt hại, rủi ro không mong muốn. Theo Nguyễn Văn Tiến (2013), NHTM có các hoạt động cơ bản như sau: 1.
Hoạt động huy động vốn Huy động vốn được coi là hoạt động cơ bản, có tính chất sống còn đối với bất kỳ một NHTM nào, vì hoạt động này tạo ra nguồn vốn chủ yếu của các NHTM Để đáp ứng nhu cầu về vốn cho sự phát triển của nền kinh tế thì việc tạo lập vốn là vấn đề quan trọng trong hoạt động kinh doanh của NHTM.Trong đó vốn tự có của các NHTM tham gia vào nguồn vốn cho vay chỉ chiếm tỉ lệ nhỏ, mà nguồn vốn chủ yếu để cấp tín dụng vào nền kinh tế là nguồn vốn huy động, chiếm tỉ lệ lớn trong tổng nguồn vốn.Việc huy động được nhiều vốn vừa đem lại lợi nhuận, vừa mở rộng hoạt động của Ngân hàng. Có thể phân loại hoạt động huy động vốn như sau: - Tiền gửi của các tổ chức kinh tế 12 Đây là số tiền tạm thời nhàn rỗi phát sinh trong quá trình sản xuất kinh doanh của họ được gửi tại Ngân hàng. Nó bao gồm một bộ phận vốn tiền tạm thời được giải phóng khỏi quá trình luân chuyển vốn nhưng chưa có nhu cầu sử dụng hoặc sử dụng cho các mục tiêu định sẵn vào một thời điểm nhất định như: quỹ đầu tư phát triển, quỹ dự trữ tài chính, quỹ khen thưởng phúc lợi. Các tổ chức kinh tế thường gửi tiền vào Ngân hàng dưới các hình thức sau: + Tiền gửi không kỳ hạn: Là loại tiền gửi mà khi gửi vào, khách hàng gửi tiền có thể rút ra bất cứ lúc nào mà không cần phải báo trước cho ngân hàng và ngân hàng phải thoả mãn các nhu cầu đó của khách hàng.
+ Tiền gửi có kỳ hạn: Là loại tiền gửi mà khi khách hàng gửi tiền vào có sự thoả thuận về thời gian rút ra giữa ngân hàng và khách hàng. - Tiền gửi của nhóm khách hàng cá nhân và hộ gia đình + Tiền gửi tiết kiệm: Là khoản tiền của cá nhân và hộ gia đình được gửi vào tài khoản tiền gửi tiết kiệm, được xác nhận trên thẻ tiết kiệm, được hưởng lãi theo quy định của ngân hàng nhận gửi tiết kiệm và được bảo hiểm theo quy định của pháp luật về bảo hiểm tiền gửi. + Tài khoản tiền gửi cá nhân: Là loại tiền gửi mà từng cá nhân mở tài khoản tại ngân hàng để sử dụng cho việc thanh toán không dùng tiền mặt như ký séc, hoặc sử dụng cho các loại thẻ thanh toán.