CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU Trên thế giới, đã có rất nhiều nghiên cứu của nhiều tác giả dựa trên các khía cạnh khác nhau và các lĩnh vực, ngành nghề khác nhau nghiên cứu về KTNB. Tác giả đã tham khảo và tổng quan các nghiên cứu như sau: 1. Tổng quan các nghiên cứu nước ngoài. Các nghiên cứu đánh giá sự hữu hiệu của KTNB.
Các nghiên cứu về sự hữu hiệu của KTNB đã được quan tâm nhiều trong thập niên gần đây, dưới nhiều góc độ và kỹ thuật khác nhau, trong nhiều lĩnh vực và ngành nghề khác nhau. Nghiên cứu của Getie Mihret và Wondim Yismaw (2007), Goodwin‐ Stewart và Kent (2006), Sarens (2009) đã thực hiện đánh giá dưới góc độ của các KTVNB để đề cập đến sự hữu hiệu của KTNB trong khu vực tư nhân và cả khu vực công. Các nghiên cứu này đều dựa trên định nghĩa về KTNB của Viện kiểm toán nội bộ để tiến hành nghiên cứu. Kết quả đều cho thấy sự liên kết tích cực giữa chất lượng của chức năng KTNB với chất lượng kiểm soát nội bộ (KSNB) và với chất lượng quản trị rủi ro.
Hạn chế của các nghiên cứu này chính là tính tổng quát của nghiên cứu còn hạn chế, một số biến đưa vào mô hình có thể chưa phải là đại diện tốt, các nghiên cứu được thực hiện với bối cảnh đặt trưng riêng của từng quốc gia riêng biệt, khó áp dụng nghiên cứu tổng quát cho nhiều quốc gia khác nhau. Thêm nữa, Ahmad và cộng sự (2009) đã có nghiên cứu khám phá tầm quan trọng của KTNB trong khu vực công của Malaysia cũng từ sự tự đánh giá của các trưởng bộ phận KTNB và các KTVNB. Nghiên cứu kết luận rằng các chức năng KTNB trong khu vực công ở Malaysia bị hạn chế bởi sự thiếu nhân lực và bị cản trở bởi sự hỗ trợ không đầy đủ từ quản lý cấp cao và các kiểm toán viên hiếm khi mở rộng hợp tác. Điều này thể hiện nhu cầu cấp bách, sự cần thiết và có giá trị khi nghiên cứu sâu về sự hữu hiệu của KTNB cũng như các điểm yếu kém để tập trung thúc đẩy, tác động đến các điểm hạn chế đó giúp cải thiện, nâng cao hiệu quả KTNB.
Nghiên cứu thực nghiệm của Lenz và Hahn (2015), Badara và Saidin (2014) đã thực hiện 8 nghiên cứu thực nghiệm dựa trên đánh giá tính hữu hiệu của KTNB từ cả hai phía, một là từ phía cung (sự tự đánh giá của KTVNB) và hai là từ phía cầu (đánh giá từ các bên liên quan của KTNB). Điều này thể hiện sự bao quát hơn khi được đánh giá chủ quan lẫn khách quan về tính hữu hiệu của KTNB cũng như các nhân tố tác động đến tính hữu hiệu của KTNB. Việc đưa ra một định nghĩa đúng đắn về sự hữu hiệu của KTNB vẫn đang được rất nhiều nhà nghiên cứu thực hiện nhằm đóng góp thêm kiến thức hiểu biết về nó. Nghiên cứu của Abbott và cộng sự (2016) đã giúp mở rộng nghiên cứu trước và làm sâu sắc hơn sự hiểu biết về sự ảnh hưởng của KTNB đến chất lượng báo cáo tài chính và các nhân tố quyết định chất lượng KTNB.
Tương tự, Soh và Martinov‐Bennie (2011), D’Onza và cộng sự (2015), Lenz và Hahn (2015) đã cho rằng các hoạt động KTNB hiệu quả làm tăng thêm giá trị cho các tổ chức. Điều này cho thấy sự ủng hộ với khái niệm về KTNB của IAA đã đưa ra, rằng là hiệu quả của KTNB là yếu tố cần thiết trong việc đạt được mục tiêu của một tổ chức và điều này phụ hợp cho dù tổ chức là thuộc tư nhân hay thuộc khu vực công, nên đảm bảo KTNB hoạt động hữu hiệu để đạt được mục tiêu của tổ chức một cách hiệu quả. Việc thu hút nhiều nghiên cứu thực hiện đánh giá và bổ sung thêm kiến thức về định nghĩa sự hữu hiệu của KTNB với nhiều cách thức và ở nhiều góc nhìn khác nhau thể hiện đây là đề tài nóng, cấp thiết và có giá trị thực tiễn. Các nghiên cứu về các nhân tố ảnh hưởng đến tính hữu hiệu của KTNB.
Những thay đổi về công nghệ, chính trị và kinh tế đã xảy ra trong những thập kỷ qua có ảnh hưởng đáng kể đến tình hình hoạt động kinh tế của thế giới. Sự gia tăng rủi ro kinh doanh, sự bất ổn kinh tế và sự tăng thêm đáng kể các vụ bê bối gian lận tài chính đã buộc các DN phải quan tâm đặc biệt đến KTNB (Bekiaris và cộng sự, 2013; Vinnari và Skærbæk, 2014; Tsipouridou và Spathis, 2014; Frank, 2015). Cùng với sự quan tâm đó thì việc xác định các yếu tố ảnh hưởng đến tính hữu hiệu của KTNB là rất quan trọng. Alzeban và Gwilliam (2014) đã đưa ra mô hình bao gồm năm nhân tố ảnh hưởng đến tính hữu hiệu của kiểm toán nội bộ.
Dữ liệu của bài nghiên cứu được thu 9 thập từ việc gửi bảng câu hỏi khảo sát đến cán bộ quản lý của các phòng ban được kiểm toán tại 79 tổ chức khu vực công của Ả Rập Saudi và tới 396 kiểm toán viên nội bộ trong cùng các tổ chức chịu sự kiểm toán của GAB. Nghiên cứu đã cung cấp bằng chứng cho việc xác định các nhân tố như năng lực của kiểm toán viên, quy mô của bộ của bộ phận kiểm toán nội bộ, sự hỗ trợ của quản lý cấp cao, mối quan hệ giữa kiểm toán nội bộ và kiểm toán độc lập và tính độc lập của kiểm toán viên nội bộ cho các chức năng của kiểm toán nội bộ; mức độ tác động đến tính hữu hiệu của kiểm toán nội bộ trong khu vực công tại Ả Rập Sau Đi. Nghiên cứu này làm nổi bật vai trò của nhà quản lý trong việc hỗ trợ các chức năng kiểm toán nội bộ thực hiện hiệu quả. Cùng năm 2014, nghiên cứu của Saidu Badara và Zabedah Saidin (2014) cũng đã xây dựng mô hình các nhân tố tác động tại Malaysia với số biến độc lập ít hơn nhưng có phần trùng lắp, cũng cho ra kết quả tích cực tương tự, nhưng biến sự độc lập của kiểm toán viên nội bộ được xác định là nền tảng, là yếu tố quan trọng nhất.
Thêm vào đó, nghiên cứu của Khalid và cộng sự (2018) lại tập trung nghiên cứu một biến duy nhất tác động đến sự hữu hiệu của kiểm toán nội bộ là năng lực của kiểm toán nội bộ. Một mô hình khác với bốn nhân tố tác động là chất lượng kiểm toán nội bộ, năng lực của bộ phận kiểm toán nội bộ, sự độc lập và sự hỗ trợ của quản lý cấp cao tác động đến tính hữu hiệu của kiểm toán nội bộ đã được Drogalas và cộng sự (2015) thực hiện với kết quả là tích cực tại các công ty Hy Lạp. Điểm chung của các nghiên cứu trên đây là sử dụng dữ liệu từ cả hai phía cung và cầu (đánh giá của kiểm toán viên nội bộ và bên ngoài), các mô hình nghiên cứu nhân tố là tương đối giống nhau, tuy nhiên, việc cho ra kết quả tác động khác nhau tùy thuộc vào bối cảnh, văn hóa, đặc điểm cấu trúc xã hội, tôn giáo, mức độ phát triển kinh tế, cỡ thực hiện thu thập dữ liệu và sự điều chỉnh thang đo phù hợp. Nghiên cứu của Cohen và Sayag (2010), Baharud-din và cộng sự (2014), Khalid và cộng sự (2017), Khalid và cộng sự (2017) đã đưa ra mô hình các nhân tố ảnh hưởng đến sự hữu hiệu của KTNB gồm: năng lực và sự độc lập của KTNB, sự hỗ trợ của quản lý cấp cao.
Các tác giả đều sử dụng nghiên cứu thực nghiệm thông qua việc thu thập dữ liệu bằng bảng câu hỏi chi tiết, được gửi đến các KTVNB và các 10 đối tượng liên quan. Các mô hình nghiên cứu được thực hiện ở những bối cảnh khác nhau và đều cho ra kết quả tích cực thuận chiều. Bên cạnh đó, các nghiên cứu khác lại đề xuất thêm các nhân tố ảnh hưởng mới như: quy mô của bộ phận KTNB (Alzeban và Gwilliam, 2014; Salehi, 2016); nhân tố quản trị rủi ro và sự hiệu quả của hệ thống KSNB (Badara và Saidin, 2014), phạm vi công tác của KTNB (Sakour và Laila, 2015; Salehi, 2016). Thông qua nghiên cứu thực nghiệm và phân tích định lượng, các tác giả cũng cho ra kết luận thuận chiều đối với các nhân tố này và sự hữu hiệu của KTNB.
Các nghiên cứu trước đây đã sử dụng các cách tiếp cận khác nhau trong nhiều hoàn cảnh khác nhau để điều tra hiệu quả của KTNB bị ảnh hưởng bởi hàng loạt các yếu tố. Cách thức xác định và đo lường các yếu tố là rất khác nhau và cho đến nay, vẫn tồn tại sự chưa nhất trí về khung thích hợp nhất cho các nhân tố tác động đến hiệu quả KTNB. Mỗi nghiên cứu đều tồn tại một số điểm hạn chế về phương pháp luận, mẫu thực hiện tương đối nhỏ lại mang tính chất đặc trưng cho từng khu vực kinh tế, văn hóa, xã hội, điều này khiến cho các mô hình nghiên cứu trước đây chưa thể khái quát hóa cho nhiều quốc gia khác nhau. Tổng quan các nghiên cứu trong nước.
Tại Việt Nam, các công trình nghiên cứu chuyên sâu sử dụng phương pháp nghiên cứu định lượng, thực hiện khảo sát lấy dữ liệu, phân tích hồi quy để xác định các nhân tố ảnh hưởng đến tính hữu hiệu của KTNB chưa được thực hiện nhiều tại khu vực công cũng như tư nhân. Các nghiên cứu tại Việt Nam về lĩnh vực này đa phần chỉ được thực hiện định tính nhằm hoàn thiện và nâng cao sự hữu hiệu của bộ phận KTNB tại một đơn vị cụ thể (Nguyễn Phú Giang, 2011; Nguyễn Minh Phương, 2016; Nguyễn Trần Diễm Minh, 2013; Võ Đông Phong, 2014). Các tác giả thực hiện phân tích, đánh giá thực trạng tại đơn vị nghiên cứu và từ đó đề xuất các kiến nghị cho riêng đơn vị đó. Các nghiên cứu này không thực hiện nghiên cứu về tính hữu hiệu của KTNB và không phân tích, đo lường, xử lý mô hình các nhân tố tác động đến tính hữu hiệu của KTNB.
11 Bên cạnh đó, tác giả đã tham khảo qua các nghiên cứu thực nghiệm về các nhân tố tác động đến hiệu quả của KTNB tại Việt Nam, trong đó có Luận Văn Thạc Sĩ Kinh Tế Trường Đại Học Kinh Tế TP. HCM của Huỳnh Kim Ngân (2016). Luận văn này đã thực hiện thu thập dữ liệu từ các DN trong khu vực Thành phố Hồ Chí Minh, sử dụng mô hình hồi quy để kiểm định các mối quan hệ. Tác giả đã tập trung giải quyết hai câu hỏi nghiên cứu (1) các yếu tố nào tác động đến tính hiệu quả của KTNB và (2) đánh giá tình hình chung KTNB tại Việt Nam.