CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 1. Các nghiên cứu trên thế giới Các nghiên cứu lý thuyết, thực nghiệm trong nước và trên thế giới (Trung Quốc, Ấn Độ, Cộng Hoà Séc, Đức, Việt Nam,.) như Bhunia và Mukhuti (2012), Fu Gang và Liu Dan (2012), Ms. SubhraSimantinee, và cộng sự (2015), Gang và Dan (2012), Đàm Thanh Huyền (2021),. đều cho thấy các nhân tố cơ cấu nợ, KNSL, khả năng hoạt động, KNTT và kết cấu nguồn vốn,.
có tác động tới RRTC của các DN. Fu Gang và Liu Dan (2012) xem xét những yếu tố ảnh hưởng tới RRTC với các DN vừa và nhỏ. Đánh giá thực nghiệm từ 216 công ty sản xuất đĩa nhỏ, Sở giao dịch chứng khoán ShenZhen, Trung Quốc. Fu và Liu đã áp dụng mô hình Alexander Bathory, và số liệu hiện có trên hội đồng quản trị DN vừa và nhỏ, sàn giao dịch chứng khoán ShenZhen.
Tương tự, Bhumia & Mukhuti (2012) - “Nghiên cứu RRTC đưa trên dữ liệu thứ cấp được thu thập từ báo cáo tài chính giai đoạn 2010-2011 của 513 công ty niêm yết tại Sở Giao dịch Chứng khoán Bombay, Ấn Độ” đều có kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng: (i) RRTC có quan hệ ngược chiều với tỷ số KNTT hiện hành (CR), tỷ suất lợi nhuận ròng (ROS), tỷ số vốn cố định (FAR), tỷ số tự tài trợ (NAR); (ii) có mối quan hệ yếu với vòng quay TSCĐ (FAT), vòng quay TTS (TAT); (iii) trong khi không có quan hệ với kết cấu nợ (CL/NCL), vòng quay HTK (IT), vòng quay KPT (ART). Liao Weiyan (trích dẫn từ Bhumia & Mukhuti, 2012, 29) đã dùng số liệu của các DN được cung cấp bởi tổ chức tài chính, kết hợp với phân tích hồi quy, trong đó có các biến tài chính và phi tài chính để nghiên cứu RRTC. Bài viết cho thấy: (i) khả năng dự báo của mô hình sử dụng các biến tài chính và phi tài chính là vượt trội so với mô hình chỉ sử dụng các biến tài chính; (ii) dự báo RRTC của những DN hoạt động trong giai đoạn dưới 7 năm là có nhiều trở ngại hơn so với các DN có thâm niên từ 7 năm trở lên. Cao Defang & Zeng Murong (trích dẫn từ Bhumia & Mukhuti, 2012, 29) đã sử dụng hệ số đòn bẩy tài chính của các DN là biến phụ thuộc để phân tích.
Bài nghiên cứu cho thấy: (i) RRTC có mối tương quan cùng chiều với kết cấu nợ, (ii) có quan hệ ngược chiều với hiệu suất hoạt động và KNSL, (iii) không liên quan với lãi suất đi vay và KNTT. SubhraSimantinee, và cộng sự (2015) đánh giá những nhân tố ảnh hưởng tới RRTC của 41 DN trên sàn chứng khoán NIFTY Index (Ấn Độ) không bao gồm ngân hàng của Sở Giao dịch Chứng khoán Quốc gia. Dữ liệu cần thiết cho việc phân tích được tổng hợp từ các báo cáo mỗi năm của các DN. Mô hình Alexander Bathory được sử dụng để đo lường RRTC và phân tích hồi quy nhiều lần được áp dụng để xem xét mối tương quan giữa RRTC và các nhân tố gây ra RRTC.
Kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng: (i) tỷ số vòng quay TSCĐ (FATR) tương quan thuận đáng kể nhất với RRTC; (ii) RRTC có liên quan tích cực đến cổ tức trên mỗi cổ phiếu (DPS), tỷ suất lợi nhuận thuần (OPM), tỷ suất lợi nhuận ròng (NPM), hệ số KNTT nợ ngắn hạn (CR), tỷ lệ bảo hiểm tài chính sau thuế (FCCCRPT) và tỷ lệ vòng quay TSCĐ (FATR); (iii) RRTC mối tương quan tiêu cực tới lợi nhuận hoạt động thuần trên mỗi cổ phiếu (NOPS), lợi nhuận thuần trên nguồn vốn dài hạn (ROLF), tỷ số KNTT nhanh (QR), tỷ lệ trả lãi vay (ICR); (iv) RRTC được phát hiện không liên quan với hệ số vòng quay HTK (ITR) và hệ số vòng quay TTS (TATR). Các nghiên cứu trong nước Vũ Thị Hậu (2017) đã xem xét những yếu tố ảnh hưởng tới RRTC tại 34 DN bất động sản được niêm yết trên sàn HOSE trong khoảng thời gian từ 2013-2015 thông qua mô hình Alexander Bathory và phân tích hồi quy.Bài viết đã chỉ rõ: (i) kết cấu nợ, KSNL, hiệu suất hoạt động không tác động tới RRTC; (ii) trong khi đó, KNTT, kết cấu nguồn vốn có mối tương quan cùng chiều, và không có mối tương quan âm đối với các DN bất động sản được nghiên cứu. Và cơ cấu vốn cũng chính là yếu tố ảnh hưởng đáng kể nhất tới RRTC của các DN này. Đàm Thanh Huyền (2021) - “Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến RRTC tại các công ty thành viên thuộc Tập đoàn công nghiệp Than - Khoáng sản Việt Nam (TKV), sử dụng dữ liệu bảng cân bằng từ 33 DN thuộc TKV, giai đoạn 2013 - 2019” đã sử dụng mô hình Alexander Bathory và mô hình hồi quy với biến độc lập và tỉ số tài chính khác: cấu trúc tài chính và biến kiểm soát: lãi suất, độ tuổi DN, tỷ lệ sở hữu nhà nước, quy mô HĐTV, HĐQT.
Bài viết đã đưa ra kết luận: (i) tác động cùng chiều: KNTT, vòng quay tổng tài sản + vòng quay khoản phải thu (hiệu suất hoạt động), kết cấu vốn + kết cấu tài sản, tuổi đời DN; (ii) ảnh hưởng tiêu cực/ ngược chiều: tỷ lệ sinh lời của doanh thu, vòng quay HTK + vòng quay 6 TSCĐ (hiệu suất hoạt động), tỷ lệ sỡ hữu nhà nước; (iii) chưa kiểm chứng được: hệ số sinh lời của tổng tài sản. Đặng Thu Hằng và cộng sự (2020) đã xem xét tác động của các nhân tố tới RRTC của DN niêm yết trên TTCK Việt Nam. Bảng dữ liệu của mẫu nghiên cứu bao gồm 524 DN phi tài chính niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam trong thời gian 11 năm, từ 2009 đến 2019. Đặng Thu Hằng đã áp dụng phương pháp GLS để giải quyết các vấn đề kinh tế lượng và cải thiện độ chính xác của các hệ số hồi quy, RRTC được phân tích bằng mô hình Alexander Bathory.
Tác giả đã kết luận: (i) xét về những DN trong nước, kết cấu nợ có xu hướng ngược chiều với RRTC, trong khi, các DN ngoài quốc doanh, không có mối tương quan giữa kết cấu nợ và RRTC; (ii) các KNTT ảnh hưởng ngược lại với RRTC; (iii) ROA có tương quan nghịch với RRTC. Các kết quả này là phù hợp với kết quả nghiên cứu của Gang và Dan (2012), Bhunia và Mukhuti (2012), và Hậu (2017); (iv) vòng quay tổng tài sản có tương quan thuận với mức ảnh hưởng thấp RRTC ở cả DN nhà nước và DN ngoài quốc doanh, tác động của vòng quay tài sản trong các DN tư nhân gần như không đáng kể; (v) trong khi vòng quay các khoản phải thu có giá trị âm mối tương quan với RRTC. Kết quả này trái ngược đến kết quả của Bhunia và Mukhuti (2012), Gang và Dan (2012), và Hậu (2017); (vi) kết cấu nguồn vốn ảnh hưởng ngược chiều đến RRTC với tác động đáng kể đến cả DN nhà nước và tư nhân DN. Khoảng trống nghiên cứu Mặc dù còn có rất nhiều các bài nghiên cứu khác, tuy nhiên có thể thấy rằng các nhà NCKH đều tập trung nghiên cứu về khái niệm về RRTC, các mô hình dự báo RRTC, chiến lược quản trị RRTC,… và thường chỉ nghiên cứu tập trung vào một công ty hay một ngành cụ thể chưa bao hàm được tổng thể các DN như bài nghiên cứu của Đàm Thanh Huyền (2021) “Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến RRTC tại các công ty thành viên thuộc Tập đoàn công nghiệp Than - Khoáng sản Việt Nam (TKV)”.
Một số bài nghiên cứu Ms. SubhraSimantinee và cộng sự (2015) hoặc bài của Fu Gang và Liu Dan (2012) tập trung phân tích các yếu tố chủ quan có nguồn gốc bên trong DN như kết cấu nợ, cơ cấu vốn, thông qua KNTT ngắn hạn và dài hạn mà chưa nghiên cứu đến những biến phi tài chính như điều kiện thị trường, khả năng tiếp cận thông tin, hiệu quả ngành, số lượng thành viên HĐQT độc lập,… Điều này khiến cho bài nghiên cứu còn hạn chế, có tác động tới kết quả 7 của mô hình. Ngoài ra, việc phân tích và xem xét quản trị là cấp thiết nhưng các bài phân tích và đánh giá RRTC đã thực hiện vẫn còn nhiều hạn chế, chưa có các biện pháp hợp lý trong quản trị công ty triệt để dẫn đến việc các DN còn lan man trong việc quản trị, từ đó ảnh hưởng nghiêm trọng đến quyết định đầu tư, chiến lược kinh doanh của DN. Vì vậy, trong bài nghiên cứu ngoài việc dựa trên các công trình nghiên cứu trước, phân tích các yếu tố về cơ cấu nợ, hiệu suất hoạt động, KNTT, KNSL,.
thì nhóm đánh giá thêm các biến phi tài chính liên quan đến quản trị công ty. Từ kết quả xác định được, nhận dạng những nhân tố tác động tới RRTC, từ đó, gợi ý một số biện pháp, khuyến nghị làm cơ sở cho những nhà hoạch định, DN lựa chọn giải pháp phù hợp để hạn chế RRTC trong bối cảnh kinh tế phức tạp như hiện nay. 8 CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÝ THUYẾT 2. Khái niệm về rủi ro và RRTC 2.
Khái niệm rủi ro Trong bối cảnh cuộc cách mạng về công nghệ và toàn cầu hóa, hội nhập kinh tế quốc tế đang diễn ra rất mạnh mẽ khiến hoạt động kinh doanh càng trở nên phức tạp. Bên cạnh đó, cạnh tranh giữa các DN ngày càng trở nên khốc liệt, một DN nếu năng lực tài chính không vững chắc thì RRTC, rủi ro hoạt động có thể xảy đến bất cứ lúc nào. Rủi ro được coi là gánh nặng cần được giảm thiểu hoặc giảm thiểu theo cách tốt nhất có thể. Đặc biệt, trong một thế giới toàn cầu hóa, việc xác định, quản lý và khám phá rủi ro trong các tổ chức ngày càng trở nên quan trọng để đạt được thành công và tuổi thọ của DN (Rahmi, Azma, Muttaqin, Jazil và Rahman, 2016).
Đối với Việt Nam, vấn đề rủi ro và RRTC cũng xảy ra ngày càng nhiều, dưới các hình thức đa dạng, tác động mạnh mẽ đến môi trường kinh doanh của DN. Tuy vấn đề này đã được quan tâm và đưa ra trao đổi tại nhiều hội nghị diễn đàn ở các ngân hàng, các DN niêm yết TTCK ở Việt Nam song các DN tại Việt Nam dường như vẫn chưa thấy được tầm quan trọng hay nhận thức chưa đầy đủ về tác động của RRTC. Vì vậy để tiếp cận tới RRTC cũng như những yếu tố ảnh hưởng đến RRTC trước hết cần phải hiểu rủi ro và RRTC là gì. Thông thường khi nhắc đến rủi ro chúng ta thường nhắc đến những điều không lành, gây nguy hại hay thiệt hại đến chủ thể nào đó.
Theo từ điển Oxford (dịch do trung tâm từ điển Hà Nội xuất bản 1995) “ rủi ro là khả năng gặp nguy hiểm hoặc bị đau đớn thiệt hại…”.