Chương 1: Phần giới thiệu. Chương này giới thiệu tổng quan về đề tài nghiên cứu, bao gồm lý do chọn đề tài, mục tiêu nghiên cứu, câu hỏi nghiên cứu, phạm vi và đối tượng nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu và ý nghĩa thực tiễn của đề tài. Chương 2: Cơ sở lý thuyết và nghiên cứu trước. Chương này trình bày các khái niệm, cơ sở lý thuyết, mô hình lý thuyết và các kết quả của những nghiên cứu trước có liên quan đến đề tài nghiên cứu, từ đó đề xuất mô hình nghiên cứu của đề tài.
Chương 3: Phương pháp nghiên cứu. Chương này trình bày mô hình nghiên cứu của đề tài, phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến rủi ro tuân thủ của các DN đang hoạt động sản xuất kinh doanh trên địa bàn TP.HCM, các phương pháp nghiên cứu được ứng dụng trong đề tài, mô tả phương thức khảo sát, thu thập số liệu và các kỹ thuật phân tích dữ liệu. Chương 4: Phân tích kết quả. Mục đích của chương này là trình bày các kết quả nghiên cứu đạt được để giải quyết, trả lời các câu hỏi, mục tiêu nghiên cứu và cuối cùng là kiểm định các giả thuyết nghiên cứu đã đặt ra.
Chương 5: Kết luận và gợi ý chính sách. Phần cuối của luận văn trình bày tóm tắt các kết quả nghiên cứu đã đạt được, đề xuất chính sách từ kết quả nghiên cứu, nêu những hạn chế của đề tài và gợi ý cho các nghiên cứu tiếp theo. 7 CHƯƠNG 2 : CƠ SỞ LÝ THUYẾT 2. Khái niệm, phân loại và chức năng của thuế 2.1 Khái niệm thuế Cho đến nay trong giới các học giả và trên các sách báo kinh tế thế giới vẫn chưa có quan điểm thống nhất về khái niệm thuế.
Nhìn chung các nhà kinh tế khi đưa ra khái niệm về thuế mới chỉ nhìn nhận từ các khía cạnh khác nhau của thuế mà mình muốn khai thác hoặc tìm hiểu, chưa phản ảnh đầy đủ bản chất chung của phạm trù thuế. Dù trải qua nhiều giai đoạn và được nhận định trên nhiều giác độ khác nhau nhưng các nhà kinh tế đều nhất trí cho rằng định nghĩa thuế phải nêu bật được các khía cạnh: Thứ nhất, nội dung kinh tế của thuế được đặc trưng bởi các mối quan hệ tiền tệ phát sinh giữa Nhà nước và các pháp nhân, các thể nhân trong xã hội, không mang tính hoàn trả trực tiếp. Thứ hai, những mối quan hệ dưới dạng tiền tệ này được nảy sinh một cách khách quan và có ý nghĩa xã hội đặc biệt - việc chuyển giao thu nhập có tính chất bắt buộc theo mệnh lệnh của Nhà nước. Thứ ba, xét theo khía cạnh pháp luật, thuế là một khoản nộp cho Nhà nước được pháp luật quy định theo mức thu và thời hạn nhất định.
Thứ tư, việc sử dụng tiền thuế phải dung cho mục đích chung. Do đó có thể đưa ra một khái niệm tổng quát về thuế trong giai đoạn hiện nay như sau: Thuế là một khoản đóng góp từ các thể nhân và pháp nhân có nghĩa vụ bắt buộc phải thực hiện theo luật đối với Nhà nước; không mang tính chất đối khoản, không hoàn trả trực tiếp cho NNT và dùng để trang trải cho các nhu cầu chi tiêu công cộng (Tổng cục Thuế, 2009).2 Phân loại thuế Phân loại thuế là việc sắp xếp các sắc thuế trong hệ thống thuế thành những nhóm khác nhau theo những tiêu thức nhất định. Có nhiều tiêu thức phân loại khác nhau, mỗi tiêu thức phân loại có nhiều loại thuế khác nhau. Căn cứ vào tính chất của nguồn tài chính động viên vào Ngân sách Nhà nước, thuế được phân làm 2 loại: thuế trực thu và thuế gián thu.
- Thuế trực thu là loại thuế Nhà nước thu trực tiếp vào phần thu nhập của các pháp nhân hoặc thể nhân. Tính chất trực thu thể hiện ở chổ NNT theo quy định của pháp luật đồng thời là người chịu thuế. Thuế trực thu trực tiếp động viên, điều tiết thu nhập của người chịu thuế. Thuế trực thu làm cho khả năng và cơ hội chuyển dịch gánh nặng thuế cho người khác khó khăn hơn.
Về nguyên tắc loại thuế này mang tính chất thuế lũy tiến vì nó tính đến khả năng của NNT. Ở nước ta các sắc thuế trực thu bao gồm: thuế thu nhập DN, thuế thu nhập cá nhân, thuế chuyển quyền sử dụng đất, thuế sử dụng đất nông nghiệp. - Thuế gián thu là loại thuế mà Nhà nước sử dụng nhằm động viên một phần thu nhập của người tiêu dùng hàng hóa, sử dụng dịch vụ thông qua việc thu thuế đối với người sản xuất, kinh doanh hàng hóa, dịch vụ. Tính chất gián thu thể hiện ở chổ NNT và người chịu thuế không đồng nhất với nhau.
Thuế gián thu là một bộ phận cấu thành trong giá cả hàng hoá, dịch vụ do chủ thể hoạt động sản xuất, kinh doanh nộp cho Nhà nước nhưng người tiêu dùng lại là người phải chịu thuế. Loại thuế này có sự chuyển dịch gánh nặng thuế trong những trường hợp nhất định. Về nguyên tắc thuế gián thu mang tính lũy thoái vì không tính đến khả năng thu nhập của người chịu thuế, người có thu nhập cao hay thấp đều phải chịu thuế như nhau nếu cùng mua một loại hàng hóa, dịch vụ. Ở nước ta thuế gián thu bao gồm: thuế giá trị gia tăng, thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu, thuế tiêu thụ đặc biệt.
Sự phân loại thuế thành thuế trực thu và thuế gián thu có ý nghĩa quan trọng trong việc xây dựng chính sách pháp luật thuế (Tổng cục Thuế, 2009).3 Chức năng của thuế Trong suốt thời gian tồn tại và phát triển, thuế luôn luôn thực hiện hai chức năng cơ bản là huy động nguồn lực tài chính cho Nhà nước và điều tiết kinh tế. - Chức năng huy động nguồn lực tài chính cho Nhà nước nhằm hình thành quỹ tiền tệ tập trung của Nhà nước, đảm bảo cơ sở vật chất cho sự tồn tại và hoạt động của Nhà nước. Chức năng này đã tạo ra những tiền đề để Nhà nước tiến hành phân phối và phân phối lại tổng sản phẩm của xã hội và thu nhập quốc dân. Thuế là một nguồn thu chiếm tỷ trọng lớn nhất cho Ngân sách Nhà nước.
- Chức năng điều tiết kinh tế được thực hiện thông qua việc quy định các hình thức thu thuế khác nhau, xác định đúng đối tượng chịu thuế và đối tượng nộp thuế, xây dựng chính xác các mức thuế phải nộp có tính đến khả năng của NNT, sử dụng linh hoạt các ưu đãi và miễn giảm thuế. Trên cơ sở đó, Nhà nước kích thích các hoạt động kinh tế đi vào quỹ đạo chung, phù hợp lợi ích của xã hội. Giữa chức năng huy động nguồn lực tài chính và chức năng điều tiết kinh tế có mối quan hệ gắn bó mật thiết. Chức năng huy động nguồn lực tài chính quy định sự tác động và sự phát triển của chức năng điều tiết.
Ngược lại, nhờ sự vận dụng đúng đắn chức năng điều tiết kinh tế đã làm cho chức năng huy động nguồn lực tài chính của thuế có điều kiện phát triển. Chức năng huy động nguồn lực tài chính tăng lên nhằm đảm bảo nguồn thu nhập cho Nhà nước đã tạo ra những điều kiện để Nhà nước tác động một cách sâu rộng đến các quá trình kinh tế và xã hội. Điều này tạo ra tiền đề tăng thêm thu nhập cho các DN và các tầng lớp dân cư, do đó mở rộng cơ sở thực hiện chức năng huy động nguồn lực tài chính. Tuy nhiên sự tăng cường quá mức chức năng huy động tập trung tài chính làm cho mức thu nhập của Nhà nước tăng lên đồng nghĩa với việc mở rộng khả năng của Nhà nước trong việc thực hiện các chương trình 10 kinh tế - xã hội và hậu quả của nó là giảm động lực phát triển kinh tế và làm xói mòn vai trò điều tiết kinh tế.
Do vậy, trong quá trình quản lý thuế, hoạch định các chính sách thuế ở mỗi giai đoạn phát triển kinh tế khác nhau cần phải chú ý đến mối quan hệ giữa hai chức năng trên (Tổng cục Thuế 2009).2 Nghĩa vụ kê khai nộp thuế của NNT và trách nhiệm quản lý của CQT.1 Nghĩa vụ kê khai nộp thuế của NNT Thực hiện cơ chế tự khai tự nộp, xét trong mối quan hệ với Nhà nước mà CQT là đại diện thì NNT vừa là đối tượng CQT phải phục vụ và quản lý, vừa là bạn đồng hành của CQT trong việc thực hiện các luật thuế do Nhà nước ban hành. NNT có vai trò quan trọng trong việc thực hiện nghĩa vụ nộp thuế để đóng góp vào Ngân sách Nhà nước. Kết quả thu nội địa của Ngân sách hàng năm tăng hay giảm tùy thuộc vào trách nhiệm và nghĩa vụ của NNT, CQT, cán bộ thuế. NNT có nghĩa vụ nộp thuế theo quy định của pháp luật: phải đăng ký thuế, khai tính thuế trung thực, chính xác, nộp tiền thuế đầy đủ, đúng hạn, đúng địa điểm và chấp hành nghiêm các quy định khác có liên quan đến chính sách thuế.
- Đăng ký thuế là việc NNT thực hiện khai báo sự hiện diện của mình và nghĩa vụ phải nộp thuế với cơ quan quản lý thuế. Khi đăng ký thuế, NNT kê khai thông tin theo mẫu quy định, nộp tờ khai cho cơ quan quản lý thuế và được cấp một mã số thuế để thực hiện quyền và nghĩa vụ nộp thuế. - Kê khai nộp thuế là việc NNT tự xác định số thuế phải nộp phát sinh trong kỳ kê khai thuế theo quy định của từng Luật thuế, Pháp luật thuế. NNT sử dụng hồ sơ khai thuế của từng loại thuế theo quy định của Pháp luật thuế để kê khai số thuế phải nộp với CQT và tự chịu trách nhiệm về tính chính xác của các số liệu trong hồ sơ khai thuế.
CQT cung cấp chứng từ và hướng dẫn cách lập chứng từ nộp tiền vào Ngân sách Nhà nước cho NNT. NNT phải ghi đầy 11 đủ, chi tiết các thông tin trên chứng từ nộp tiền thuế và nộp thuế theo đúng thời hạn quy định của Pháp luật thuế.3 Trách nhiệm của CQT trong quản lý thuế CQT tôn trọng việc tự tính thuế, khai thuế và nộp thuế của NNT, đồng thời có các biện pháp giám sát hiệu quả, vừa đảm bảo giám sát việc tuân thủ tự nguyện của NNT, vừa đảm bảo phát hiện, ngăn ngừa những trường hợp vi phạm pháp luật thuế. Ở nước ta, Luật quản lý thuế 2006 quy định trách nhiệm của CQT như sau: - Tổ chức thực hiện thu thuế theo quy định của pháp luật. - Tuyên truyền, phổ biến, hướng dẫn pháp luật về thuế; công khai các thủ tục về thuế.