Chương I:Các nguồn tài trợ cho doanh nghiệp và tổng quan về tín dụng thương mại 1. Các nguồn tài trợ cho doanh nghiệp Trong một vài trường hợp, doanh nghiệp không thể hoặc không sẵn sàng để thực hiện các cơ hội đầu tư đến với mình bởi vì doanh nghiệp không có khả năng hoặc không muốn gia tăng tài trợ đến mức yêu cầu. Khi một doanh nghiệp không thể gia tăng nguồn tài trợ do nguồn cung cấp bị hạn chế gọi là “giới hạn nguồn vốn cứng”. Khi những hạn chế do tự bản thân doanh nghiệp, như doanh nghiệp cảm thấy không đủ khả năng quản lý khi mở rộng đến một mức nào đó.
Trường hợp này gọi là “giới hạn nguồn vốn mềm”. Những nghiên cứu thực nghiệm đều cho thấy rằng trong thực tế hạn chế nguồn vốn cứng ít xảy ra, vì nguồn tài trợ dường như luôn có sẵn cho các dự án. Hầu hết những trường hợp giới hạn nguồn vốn thường là giới hạn nguồn vốn mềm. Cho dù nguồn vốn bị giới hạn cứng hay mềm, đều có nghĩa là doanh nghiệp có nhiều nhu cầu vốn hơn là nguồn vốn có sẵn.
Khi xem xét các quyết định đầu tư vốn, doanh nghiệp phải đối phó với các đối thủ cạnh tranh của mình, họ không chỉ là những doanh nghiệp cùng ngành kinh doanh ở một khu vực địa lý mà còn cả những đối thủ cũng đang tìm nguồn tài trợ từ thị trường tài chính. Các doanh nghiệp đều có cơ may như nhau trong việc kêu gọi các nhà đầu tư thực hiện các quyết định tài trợ vì họ đang đứng trong một thị trường vốn hiệu quả. Tuy nhiên, tùy thuộc vào cấp độ thông tin của doanh nghiệp được cung cấp trên thị trường nó sẽ hấp dẫn các nhà đầu tư đến mức nào. Vậy một thị trường hiệu quả thường có những cấp độ thông tin nào? Một công trình nghiên cứu của Maurice Kendall, một nhà thống kê người Anh đã rất ngạc nhiên khi nhận thấy rằng giá cả chứng khoán không hiện hữu một chù kỳ giá cả thường xuyên nào, ông cho rằng “một chuổi ‘lang thang’, cứ như mỗi tuần ông Thần may rủi rút ra một con số ngẫu nhiên nào đó…và cộng nó vào giá cả hiện hữu để xác định giá cả tuần tới…”.
Nói cách khác, giá cả của cổ phần và hàng hóa có vẻ đi theo môt bước ngẫu nhiên, không thể đoán trước được. 2 Theo các nhà kinh tế học, thị trường hiệu quả được phân biệt bởi mức độ thông tin đã phán ánh trong giá chứng khoán, thường có ba mức độ sau: Hình thức hiệu quả yếu: giá cả chứng khoán phản ánh thông tin đã chứa đựng trong hồ sơ giá cả quá khứ, với cấp độ này thì không thể tạo ra các tỷ suất sinh lợi liên tục bằng cách nghiên cứu tỷ suất sinh lợi quá khứ Hình thức hiệu quả vừa phải: ở cấp độ này giá cả phản ánh không chỉ giá cả quá khứ mà còn phản ánh tất cả thông tin đã công bố khác, như là thông tin bạn có thể có do đọc các tạp chí về tài chính. Nếu các thị trường hiệu quả ở mức vừa phải, giá cả sẽ điều chỉnh ngay lập tức trước các thông tin công cộng như là việc công bố tỷ suất sinh lợi quý vừa qua, việc phát hành cổ phần mới… Hình thức hiệu quả mạnh: trong đó giá cả phản ánh tất cả thông tin có thể có được bằng cách phân tích tỉ mỉ về công ty và về nền kinh tế. Trong một thị trường như vậy, chúng ta sẽ quan sát thấy các nhà đầu tư may mắn và không may mắn, nhưng chúng ta sẽ không tìm thấy bất kỳ siêu giám đốc đầu tư nào liên tục đánh bại thị trường.
Trong một thị trường hiệu quả, có nhiều kênh để doanh nghiệp huy động các nguồn vốn bị thiếu hụt, doanh nghiệp phải cân nhắc và lựa chọn phương án huy động hiệu quả nhất để đạt được cấu trúc vốn mong muốn. Phát hành cổ phiếu Cổ phiếu là một chứng khoán vốn, là một giấy chứng nhận cấp cho cổ đông để chứng nhận số cổ phần mà cổ đông đó đã mua ở một công ty cổ phần, chứng thực việc đóng góp vào công ty cổ phần. Các doanh nghiệp huy động tiền mặt bằng cách phát hành cổ phiếu trên thị trường chứng khoán. Vốn cổ phần bao gồm phần lớn cổ phần thường, nhưng doanh nghiệp có thể phát hành cổ phần ưu đãi.
Doanh nghiệp có thể tự phát hành cổ phiếu của mình thông qua các hoạt động bán đấu giá trên thị trường chứng khoán hoặc nhờ một đối tác bên ngoài đứng ra bao tiêu phát hành. 3 Các cổ đông nắm giữ cổ phần thường là chủ sở hữu của doanh nghiệp và vì thế, có quyền kiểm soát tối hậu các công việc của doanh nghiệp. Trên thực tế quyền kiểm soát này được giới hạn vào quyền biểu quyết, đích thân hay ủy quyền, để bổ nhiệm hội đồng quản trị và một số các vấn đề khác. Phát hành trái phiếu Trái phiếu là một chứng khoán nợ, là một giấy nợ chứng nhận người cầm nó có quyền đòi nợ người phát hành nó.
Ngược lại với cổ phiếu, người mua trái phiếu là trái chủ, là chủ nợ của doanh nghiệp phát hành. Trái phiếu là nguồn tài trợ dài hạn cho doanh nghiệp, doanh nghiệp vay bằng trái phiếu sẽ cam kết hoàn trả cả vốn gốc và tiền lãi cho trái chủ vào những thời hạn cụ thể. Tùy theo mục đích tài trợ của doanh nghiệp mà phát hành những loại trái phiếu thích hợp, thường có các loại trái phiếu sau: Trái phiếu có chiết khấu cao và trái phiếu không có lãi Trái phiếu trả lãi theo thu nhập Trái phiếu có lãi suất thả nổi. Trái phiếu có khả năng chuyển đổi thành cổ phiếu.
Vay ngân hàng Bên cạnh hai hình thức tài trợ qua phát hành cổ phiếu hoặc trái phiếu, doanh nghiệp còn có thể huy động nguồn tài trợ qua hình thức tín dụng ngân hàng. Đó là các khoản vay ngân hàng, nó thường xuất hiện trong các Bảng cân đối kế toán dưới khoản mục “các khoản phải trả”. Để tiếp cận các nguồn vốn vay của ngân hàng, doanh nghiệp thường phải có tài sản thế chấp để đảm bảo số tiền vay và có hệ thống báo cáo tài chính rõ ràng để ngân hàng đánh giá trước khi cho vay. Tài sản thế chấp của khách hàng có thể là bất động sản, chứng từ có giá hoặc chính giá trị hàng hóa được hình thành từ nguồn vốn vay.
Chiếm dụng vốn của đối tác thông qua hình thức tín dụng thương mại Đây là nguồn tài trợ ngắn hạn của doanh nghiệp có được nhờ quan hệ đối tác với nhà cung cấp. Trên cơ sở xác định quan hệ mua bán chịu nhà cung ứng sẽ xây dựng 4 một hạn mức tín dụng nhất định cho doanh nghiệp dựa trên các cam kết doanh số giữa hai bên và lịch sử thanh toán được ghi nhận. Hạn mức tín dụng thương mại bao gồm số ngày được thanh toán chậm và giá trị nợ tối đa tại một thời điểm mà doanh nghiệp được phép, nếu vượt quá nhà cung ứng sẽ ngừng cung cấp hàng đến khi doanh nghiệp đưa giá trị tín dụng thương mại về bằng hạn mức cho phép. Điều kiện xét hạn mức tín dụng thương mại giữa doanh nghiệp với doanh nghiệp linh động và hiệu quả hơn rất nhiều so với hình thức tài trợ thông qua phát hành cổ phiếu, trái phiếu.
Chính vì vậy, tín dụng thương mại là nguồn tài trợ hữu hiệu với các doanh nghiệp, đặc biệt các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực phân phối, họ thường nỗ lực chiếm dụng vốn của đối tác càng nhiều, càng lâu thì hiệu quả càng cao. Tín dụng thương mại 1. Khái niệm Tín dụng có nguồn gốc từ thuật ngữ La tinh credittum có nghĩa là sự tin tưởng, tín nhiệm. Quan hệ tín dụng đã hình thành và phát triển qua nhiều hình thái kinh tế xã hội.
Tín dụng thương mại là nguồn tài trợ qua hình thức bán hàng trả chậm của đơn vị cung cấp để có nguyên liệu, hàng hóa phục vụ cho mục đích sản xuất, kinh doanh. Khi mua hàng trả chậm, đơn vị bán hàng đã cung cấp tín dụng cho doanh nghiệp. Khoản phải trả của doanh nghiệp mua hàng thể hiện tổng số tiền mà doanh nghiệp nợ nhà cung cấp. Vai trò Đối với doanh nghiệp o Tín dụng thương mại là kênh tài trợ vốn thuận tiện cho doanh nghiệp trong điều kiện tài chính hiện tại.Trong thực tế, do có sự khác biệt về chu kỳ sản xuất – kinh doanh giữa các doanh nghiệp, việc thừa vốn ở doanh nghiệp này và thiếu vốn ở doanh nghiệp khác là hiện tượng phổ biến và có tính tất yếu.
Trong điều kiện thành phẩm của doanh nghiệp thừa vốn lại là nguyên, nhiên, vật liệu của doanh nghiệp thiếu vốn, nếu quan hệ 5 mua bán chịu được thực hiện trong một thời hạn nhất định thì cả hai đều có lợi. Đó chính là quan hệ tín dụng thương mại. So với những điều kiện ràng buộc của các kênh tài trợ từ việc phát hành cổ phiếu, trái phiếu và vay ngân hàng thì nguồn tài trợ thông qua chiếm dụng vốn của đối tác được doanh nghiệp khai thác triệt để do những nguyên nhân sau: Quan hệ tín dụng thương mại chủ yếu dựa trên cơ sở tín chấp, không có những ràng buộc về tài sản thế chấp cho khoản tín dụng mà doanh nghiệp được thụ hưởng ngoài việc doanh nghiệp thực hiện đúng cam kết thanh toán với nhà cung ứng. “Người cho vay” – nhà cung ứng thường không yêu cầu doanh nghiệp xuất trình phương án sản xuất kinh doanh hay chứng minh tính minh bạch của báo cáo tài chính mà chỉ cần doanh nghiệp thực hiện đúng cam kết doanh số hai bên đã thỏa thuận.
Trong quan hệ mua bán chịu, người mua thường có nhiều lợi thế hơn người bán do sự cạnh tranh giữa các nhà cung ứng, từ đó doanh nghiệp có nhiều cơ hội đàm phán các điều khoản tín dụng thương mại có lợi hơn cho mình, cụ thể như đề nghị ngày công nợ lâu hơn hay hạn mức nợ lớn hơn. Có được tín dụng thương mại từ nhà cung ứng, doanh nghiệp sẽ có nguồn đầu vào ổn định để hoạch định những kế hoạch sản xuất, kinh doanh dài hạn của đơn vị mình. Hơn nữa, những đối tác lâu dài với nhà cung ứng còn được hỗ trợ tư vấn thêm về kỹ thuật sản phẩm, đào tạo kỹ năng bán hàng cho nhân viên và được cung cấp những thông tin thị trường giúp doanh nghiệp có thể ứng phó trước những biến động của ngành mà có thể gây thiệt hại cho doanh nghiệp. o Đưa hàng hóa ra thị trường nhanh hơn, hạn chế các rủi ro giảm giá do tồn kho lâu ngày.