chương 1 được thiết kế thành 5 phần. Tuần tự tác giả thực hiện như sau: phần 1 Giới thiệu; phần 2 Tổng quan các công trình nghiên cứu đã công bố trên thế giới; phần 3 Tổng quan các công trình nghiên cứu đã công bố trong nước; phần 4 N hận định về các công trình nghiên cứu trước và xác định khe trống nghiên cứu; và phần 5 Kết luận. Tổng quan các công trình nghiên cứu đã công bố trên thế giới. Trên thế giới, sự gia tăng sử dụng công cụ tài chính phái sinh không thể chối cãi.
Mức độ sử dụng công cụ tài chính phái sinh theo nghiên cứu của Bartov và cộng sự (1996) là 39% ở Hoa Kỳ; 53% ở N ew Zealand (Berkman và cộng sự, 1997) và Thụy Điển là 52% (Alkeback và Hagelin, 1999); 80% doanh nghiệp sử dụng để tự phòng ngừa rủi ro, 44% sử dụng để phòng ngừa rủi ro và có trình bày trên Báo cáo tài chính, 67% quan tâm đến hạch toán kế toán công cụ tài chính phái sinh (Bodnar và cộng sự, 1998). Theo nghiên cứu của Bodnar và Gebhardt (1999), khả năng sử dụng sản phNm phái sinh ở Mỹ là 57%, ở Đức là 78%, phái sinh ngoại tệ được sử dụng phổ biến nhất, theo sau là lãi suất, hàng hóa; theo Sheedy (2001) thì Mỹ chiếm 50%, Hồng Kong 81%, Singapore 75%; 59% ở Thụy Điển (Alkeback và cộng sự, 2006); 67% ở Anh (El-Masry, 2006). Qua hàng loạt các hoạt động nghiên cứu về mức độ sử dụng công cụ tài chính phái sinh, cũng như các sản phNm phái sinh ở mỗi quốc gia qua từng thời kỳ, có thể thấy được tầm quan trọng của công cụ tài chính phái sinh trong nền kinh tế toàn cầu. Chính từ việc các doanh nghiệp sử dụng các công cụ tài chính phái sinh cho hoạt động phòng ngừa rủi ro, dẫn đến cần phải có các quy chuNn về kế toán công cụ tài chính và công cụ tài chính phái sinh là tất yếu.
Trong phần tổng quan 2 các công trình nghiên cứu đã công bố, chúng tôi tập trung xác định sự cần thiết của kế toán công cụ tài chính phái sinh, thông qua làm rõ: (i) Mục đích, ý nghĩa của công cụ tài chính phái sinh. (ii) N hu cầu cần có kế toán cho các doanh nghiệp sử dụng công cụ tài chính phái sinh. (iii) Kế toán công cụ tài chính phái sinh trong doanh nghiệp.1 Mục đích, ý nghĩa của việc sử dụng công cụ tài chính phái sinh.1 Mục đích của việc sử dụng công cụ tài chính phái sinh. Với thị trường không hoàn hảo, phòng ngừa rủi ro là quá trình bù đắp các rủi ro trong kinh doanh (Glaum và Klocker, 2011), trong đó khoản bù đắp cho sự thay đổi giá trị hợp lý của các công cụ tài chính phái sinh.
Môi trường kinh doanh biến đổi liên tục khiến các công ty phải đối mặt với sự gia tăng rủi ro. Hầu hết các công ty sử dụng công cụ tài chính phái sinh làm công cụ phòng ngừa rủi ro. Mặc dù các công cụ tài chính phái sinh có thể được sử dụng cho mục đích đầu cơ, tuy nhiên qua nghiên cứu của Tufano (1996), Gezcy và cộng sự (1997), Guay (1999), Allayanis và Weston (2001), có thể nhận thấy các công ty sử dụng công cụ tài chính phái sinh cho mục đích phòng ngừa rủi ro nhằm cố gắng giảm sự biến đổi của dòng tiền và giảm chi phí liên quan đến tình trạng tài chính khi gặp khó khăn (Stultz, 1996). Trong chuỗi nghiên cứu của Bodnar và cộng sự (1995), nghiên cứu đầu tiên của nhóm nghiên cứu là vào tháng 11 năm 1994, trong đó nghiên cứu cho biết trung tâm Weiss thuộc Wharton School đã tiến hành 2.000 thư khảo sát, và nhận được 530 thư trả lời có liên quan đến quản trị rủi ro tập trung vào việc sử dụng các công cụ tài chính phái sinh của các công ty phi tài chính của Mỹ.
Kết quả nghiên cứu cho thấy các công ty phi tài chính Mỹ sử dụng công cụ tài chính phái sinh nhằm mục đích: (i) Hoạch định chính sách quản trị rủi ro, chi phí giao dịch và xác định chiến lược; (ii) Giảm sự biến động của dòng tiền; (iii) Đáp ứng các yêu cầu cho việc công bố và giám sát các hoạt động tài chính trong các doanh nghiệp chặt chẽ hơn; (iv) Giám sát, kiểm tra, xử lý kế toán, và đánh giá rủi ro kế toán do những thay đổi bất lợi trong thu nhập được trình bày trong báo cáo. Tuy nhiên, nghiên cứu cũng cho thấy các doanh nghiệp vẫn chưa sử dụng phổ biến rộng rãi các công cụ tài chính phái sinh, đặc biệt là các công ty nhỏ. 3 N ghiên cứu thứ hai của Bodnar và cộng sự (1996) là vào tháng 10 năm 1995, cho biết sau nghiên cứu lần một năm 1994, nghiên cứu lần này cũng tập trung nghiên cứu vào kết quả khảo sát của trung tâm Weiss do CIBC Wood Gundy tài trợ. Kết quả nghiên cứu của nhóm Bodnar và cộng sự (1996) cho thấy ngoài việc sử dụng các công cụ tài chính phái sinh để quản trị rủi ro do sự biến động trong thu nhập kế toán được trình bày trong báo cáo tài chính; biến động dòng tiền; giá trị thị trường của công ty; còn khảo sát thêm các vấn đề về: (i) Rủi ro tín dụng, lãi suất, giá cả hàng hóa, tỷ giá, thanh khoản; (ii) Sự không chắc chắn về xử lý kế toán phòng ngừa; (iii) Vấn đề về pháp lý, yêu cầu công bố thông tin, chi phí giao dịch, sự thiếu hiểu biết về các công cụ tài chính phái sinh, định lượng rủi ro của công ty, định giá, giám sát.
N ghiên cứu lần thứ ba nằm trong chuỗi nghiên cứu của nhóm Bodnar và cộng sự (1998) về thực tiễn quản trị rủi ro tài chính thông qua sử dụng CCTCPS của các tập đoàn phi tài chính ở Mỹ do Trung tâm Weiss thuộc Wharton School thực hiện. Trên cơ sở của hai nghiên cứu trước, nghiên cứu lần này mở rộng nội dung so với hai nghiên cứu trước bằng cách đưa ra những câu hỏi mới về một số khía cạnh của việc sử dụng CCTCPS và thực hành quản trị rủi ro. Một số phát hiện chính đó là: (i) mức độ sử dụng CCTCPS ở các doanh nghiệp cao hơn rất nhiều và các quy định mới của FASB về hoạt động phái sinh không ảnh hưởng đến chiến lược quản trị rủi ro; (ii) khẳng định và củng cố những kết quả được tìm thấy trong hai nghiên cứu trước đây, một nửa các công ty trong mẫu khảo sát sử dụng các sản phNm phái sinh dưới bất kỳ hình thức nào. Phái sinh ngoại tệ được sử dụng phổ biến nhất, theo sau là lãi suất, hàng hóa và các công cụ vốn cổ phần; (iii) doanh nghiệp sử dụng CCTCPS cho mục đích quản trị rủi ro và khuynh hướng nhận diện thiệt hại, cụ thể là có sự thiệt hại về giá cả và tiền tệ; (iv) những thay đổi nhỏ trong chính sách phòng ngừa rủi ro đối với các sản phNm phái sinh, đặc biệt là sự chuyển hướng về định giá các sản phNm phái sinh.
N goài ra, khảo sát của Weiss cũng cho thấy mặc dù tỷ lệ các công ty sử dụng các công cụ tài chính phái sinh không thay đổi, tuy nhiên đối với các doanh nghiệp hiện chưa sử dụng các CCTCPS sẽ bắt đầu sử dụng vì kiến thức và sự nhận thức về các công cụ này đã tăng lên và sự biến động của giá cả trên thế giới có xu hướng 4 tiếp tục gia tăng. Đồng thời, việc áp dụng chuNn mực kế toán mới cho các CCTCPS và chính sách phòng ngừa rủi ro có xu hướng thay đổi (Bodnar và cộng sự, 1998). Tóm lại, kết quả chuỗi nghiên cứu của nhóm tác giả Bodnar và cộng sự (1995, 1996, 1998), cho thấy sự tiến triển của việc sử dụng các CCTCPS qua thời gian. Kết quả rất đáng chú ý là tốc độ tăng trưởng liên tục của việc sử dụng CCTCPS đã tăng từ 35% năm 1994, lên 41% năm 1995, đến 50% năm 1998.
N hóm tác giả cho thấy nhu cầu sử dụng công cụ phái sinh của các DN với mức độ ngày càng gia tăng. Về bản chất, chuỗi nghiên cứu muốn nhấn mạnh rằng có một tỷ lệ lớn các nhà quản trị cho rằng họ được hưởng lợi ích rất nhiều từ việc sử dụng CCTCPS để quản trị rủi ro. Tuy nhiên, trong chuỗi nghiên cứu này, mặc dù kết quả nghiên cứu chỉ đề cập đến việc sử dụng, mức độ sử dụng và lợi ích của việc sử dụng các CCTCPS, nhưng đứng ở góc độ thị trường có thể thấy rằng nhà quản trị chính là người tạo lập thị trường thông qua việc sử dụng CCTCPS. Đồng thời, với mức độ sử dụng ngày càng gia tăng cho thấy không những sự gia tăng tham gia thị trường của các doanh nghiệp mà trong đó nhà quản trị là người quyết định việc sử dụng CCTCPS.
N hư vậy, để đi đến quyết định quản trị rủi ro hiệu quả cần phải có nhân tố con người đó là nhà quản trị và để có sự gắn kết hiệu quả thì không thể thiếu vắng nhân tố thị trường.2 Ý nghĩa của việc sử dụng công cụ tài chính phái sinh. Gắn liền với sự phát triển của thị trường hàng hóa, thị trường chứng khoán, thị trường tài chính thế giới, CCTCPS ngày càng trở nên quan trọng và cần thiết cho các doanh nghiệp. Các doanh nghiệp sử dụng công cụ phái sinh như là công cụ kinh tế hữu ích, có ý nghĩa trong chiến lược quản trị của doanh nghiệp, bao gồm: Quản trị rủi ro. Việc sử dụng các công cụ phái sinh có lẽ là phổ biến nhất khi mà các công ty cố gắng giảm thiểu các rủi ro về lãi suất, rủi ro về giá cả hàng hóa, rủi ro về ngoại tệ.
N goài ra, Theobald và cộng sự (1994), còn cho rằng các công cụ phái sinh còn được các công ty quyết định sử dụng nhằm thực hiện quản trị rủi ro về vốn trong doanh nghiệp, bao gồm: rủi ro tín dụng, rủi ro thanh khoản, rủi ro hoạt động và rủi ro pháp lý. Còn theo Vashishtha & Kumar (2010), sử dụng phái sinh để hạn chế hoặc tránh những rủi ro mang tính hệ thống và không hệ thống mà các tổ chức phải đối mặt trong việc thực hiện các hoạt động kinh doanh bình thường của 5 doanh nghiệp; tiết kiệm chi phí, tăng lợi nhuận cho doanh nghiệp, qua đó nâng cao hiệu quả kinh tế của quốc gia, khu vực và toàn cầu. Tuy nhiên, phải có sự hiểu biết thấu đáo về các nguyên tắc cơ bản, quy định việc định giá các CCTCPS (Sajjad & cộng sự, 2013). Giảm chi phí tài trợ.
Đôi khi doanh nghiệp khó có thể tìm được các khoản vay theo lãi suất cố định.