Chương 1: Tổng quan nghiên cứu và phương pháp nghiên cứu Chương 2: Cơ sở lý luận và thực tiễn quản lý nhà nước đối với kiểm toán độc lập Chương 3: Thực trạng quản lý nhà nước đối với kiểm toán độc lập ở Việt Nam Chương 4: Hoàn thiện quản lý nhà nước đối với kiểm toán độc lập ở Việt Nam 5 CHƢƠNG 1: TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU VÀ PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu 1.1 Các nghiên cứu về kiểm toán độc lập Các nghiên cứu về vai trò của kiểm toán độc lập Parasuraman (A conceptual model of service quality and its implications for future research, 1985), cho rằng, đơn vị được kiểm toán là người đầu tiên sử dụng dịch vụ do KTĐL cung cấp. Thông qua kiểm toán, đơn vị được kiểm toán sẽ có được sự tin cậy, khả năng đáp ứng, năng lực phục vụ và mong muốn nhận được ý kiến về sự trung thực, khách quan của các thông tin tài chính đã được kiểm toán, có được sự đảm bảo rằng mọi sai phạm (bao gồm sai sót và gian lận) trọng yếu trên BCTC đều được phát hiện và báo cáo cho Ban lãnh đạo. Các kiến nghị, các bút toán điều chỉnh mà KTV đưa ra sẽ giúp khách hàng có thể hoàn thiện hệ thống KSNB nhằm đạt được mục tiêu hữu hiệu và hiệu quả của hoạt động. Với đối tượng sử dụng kết quả kiểm toán sẽ có được thông tin đáng tin cậy, trung thực và hợp lý.
Tiêu biểu cho quan điểm này là Krishnan và Schauer (Differences in quality among audit firms, 2001); Canning, M. Một số nhà nghiên cứu khác lại cho rằng, vai trò của KTĐL được xem xét trên các khía cạnh: (1) Khả năng mà kiểm toán viên sẽ (a) phát hiện ra khiếm khuyết của hệ thống kế toán của khách hàng và (b) báo cáo các khiếm khuyết này, DeAngelo (Auditor Independence, “Lowballing” and Disclosure Regulation, 1981); Warming- Rasmussen, B and L Jensen (Quality dimensions in external audit services - an external user perspective, 1998) (2) Khả năng kiểm toán viên sẽ không phát hành báo cáo chấp nhận toàn phần cho các BCTC có chứa đựng những sai sót trọng yếu, Lee, T. (Competence and dependence: the congenial twins of auditing, 1995); (3) Sự chính xác của thông tin được báo cáo bởi kiểm toán viên, Beatty, R. (A note on the association between audit firm size and audit quality, 1993); (4) Thang đo của khả năng KTV có thể làm giảm các sai sót và nâng cao tính trung thực của BCTC, Wallace, W.
Như vậy, dưới góc độ người sử dụng kết quả kiểm toán, vai trò của KTĐL được đo lường bởi sự phát hiện ra các khiếm khuyết trên BCTC, phát hành báo cáo thích hợp nhằm thỏa mãn yêu cầu của khách hàng về tính trung thực hợp lý của thông tin để họ có thể ra quyết định thích hợp. 6 Phan Thanh Hải (Xác lập mô hình tổ chức cho hoạt động KTĐL ở Việt Nam để nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động trong xu thế hội nhập, 2013), đã chỉ rõ, KTĐL có vai trò và vị trí như là một công cụ quan trọng không thể thiếu được trong sự phát triển kinh tế xã hội. KTĐL đã giúp cho các đơn vị được kiểm toán thấy được những sơ hở, yếu kém trong công tác quản lý tài chính, trong việc thực hiện chế độ kế toán của nhà nước, qua đó đưa ra các biện pháp tư vấn nhằm giúp cho đơn vị khắc phục những yếu kém, sơ hở trong công tác quản lý, ngăn ngừa các hành vi gian lận, tham ô, tham nhũng, lãng phí các nguồn lực phát triển nhằm thực thi mục tiêu tối đa hóa lợi nhuận của mình; thông qua các kết luận trên các báo cáo kiểm toán. KTĐL cũng đã cung cấp cho các cơ quan quản lý cấp trên những thông tin, dữ liệu tin cậy làm cơ sở cho việc thống kê, hoạch định các chính sách và đề ra các biện pháp nhằm tăng cường quản lý vĩ mô và vi mô nền kinh tế.
Để nâng cao vai trò của KTĐL trong xu thế hội nhập, Trần Thị Kim Anh (Việt nam hội nhập kinh tế quốc tế trong lĩnh vực dịch vụ kế toán, kiểm toán – Thực trạng và giải pháp, 2008), chỉ rõ, những vấn đề đặt ra đối với Việt Nam trong việc thực hiện các cam kết của các Hiệp định song phương, đa phương về thương mại dịch vụ. Đồng thời cũng đánh giá thực trạng hội nhập của Việt Nam trong lĩnh vực dịch vụ kế toán, kiểm toán trước yêu cầu của tiến trình Việt Nam hội nhập kinh tế quốc tế. Đề tài đã làm rõ vai trò của KTĐL trong xu thế hội nhập, những cơ hội và thách thức đối với dịch vụ kế toán, kiểm toán nói chung và các tổ chức cung cấp dịch vụ kế toán, kiểm toán nói riêng trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế, đặc biệt là sau khi Việt Nam gia nhập WTO. Trên cơ sở các phân tích và đánh giá, tác giả cho rằng, để hội nhập thành công cần thực hiện đồng bộ các giải pháp điển hình như: Tiếp tục rà soát để hoàn thiện khung pháp luật về kế toán, kiểm toán theo hướng phù hợp với các cam kết của Việt Nam trong GATS; Nghiên cứu tiếp thu kinh nghiệm quản lý kế toán, kiểm toán của các hội nghề nghiệp; Các DNKiT cần phải thực hiện chiến lược quốc tế hóa đội ngũ nhân viên, nâng cao đạo đức nghề nghiệp của KTV; Cần xây dựng quy trình kiểm soát chất lượng kiểm toán trong nội bộ các DNKiT, tăng cường công tác tuyên truyền lợi ích của KTĐL đối với khách hàng; Nâng cao hơn nữa công tác đào tạo bồi dưỡng nhân lực cho ngành kế toán, kiểm toán ngay từ các cơ sở giáo dục đào tạo.
Các nghiên cứu về chất lƣợng kiểm toán và hiệu quả hoạt động KTĐL Phan Thanh Hải (Xác lập mô hình tổ chức cho hoạt động KTĐL ở Việt Nam để nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động trong xu thế hội nhập, 2013), chỉ rõ, trên cơ sở những đánh giá thực trạng mô hình tổ chức hoạt động KTĐL ở Việt Nam đã đưa ra đề xuất về định hướng và các giải pháp để xác lập và hoàn thiện các yếu tố 7 cụ thể liên quan đến việc ứng dụng một mô hình tổ chức hoạt động KTĐL trong xu thế hội nhập nhằm nâng cao hơn nữa chất lượng và hiệu quả hoạt động KTĐL. Từ năm 1999 trở lại đây, với xu thế mở của và hội nhập nền kinh tế, nhận thức của xã hội (Nhà nước, các đối tượng được kiểm toán, KTV, DNKiT, các đối tượng sử dụng kết quả kiểm toán) về KTĐL trong và yêu cầu chất lượng và hiệu quả KTĐL đã đòi hỏi ở mức độ cao hơn. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu đã chú trọng rất nhiều vào chất lượng kiểm toán và hiệu quả của hoạt động KTĐL, tuy nhiên, đánh giá chất lượng kiểm toán lại không hề dễ dàng. Do quá trình cung cấp dịch vụ kiểm toán là không thể quan sát được bởi bên thứ ba, Krishnan, J.
(Differences in quality among audit firms, 2001), nên trong các nghiên cứu thực nghiệm các nhà nghiên cứu đã lựa chọn hai phương pháp để đo lường chất lượng kiểm toán, đó là: phương pháp trực tiếp và/hoặc phương pháp gián tiếp. Phương pháp đo lường trực tiếp chất lượng kiểm toán là đánh giá từ chính quá trình kiểm toán của KTV và DNKiT. Phương pháp này đòi hỏi các nhà nghiên cứu phải tham gia trực tiếp vào nhóm kiểm toán như các KTV độc lập, hoặc được quyền trực tiếp truy cập vào các giấy tờ làm việc và hồ sơ kiểm toán của KTV, hoặc được tham gia vào kiểm tra chéo việc thực hiện quá trình kiểm toán có liên quan đến từng hợp đồng kiểm toán cụ thể (Carlin và cộng sự, 2009). Sử dụng phương pháp trực tiếp, chất lượng kiểm toán sẽ được đo lường bởi: kiểm soát chất lượng kiểm toán (Donald &Giroux, 1992), quá trình kiểm toán của KTV (Sutton & Lampe, 1991), chất lượng kiểm tra chéo (Colber &Murray, 1998), chất lượng thực hiện các thủ tục kiểm toán (Blokdijk và cộng sự, 2006), và ý kiến của KTV về khả năng hoạt động liên tục của khách hàng (Geiger và Raghunandan, 2002).
Đo lường chất lượng kiểm toán theo phương pháp trực tiếp đòi hỏi trình độ nghiệp vụ và chi phí cao, đồng thời, chỉ được đánh giá sau khi DNKiT và KTV đã hoàn tất quá trình kiểm toán. Bên cạnh đó, điểm bất lợi nhất của phương pháp trực tiếp là chất lượng kiểm toán chỉ được đánh giá sau khi DNKiT đã hoàn tất quá trình kiểm toán, do vậy các kết luận về chất lượng kiểm toán thường không kịp thời, không giúp DNKiT hoặc người sử dụng thông tin tránh được rủi ro; hậu quả vì thế sẽ không được ngăn chặn. Ví dụ, chất lượng kiểm toán được cho là kém khi các DNKiT và KTV trước đó đã phát hành ý kiến về khả năng hoạt động liên tục của đơn vị được kiểm toán buộc phải tuyên bố phá sản ở năm tiếp theo; hoặc DNKiT bị kiện do đưa ra các ý kiến chuyên môn sai sót gây thiệt hại cho khách hàng hoặc bên thứ ba (Geiger và Raghunandan, 2002). Như vậy, việc đo lường trực tiếp chất lượng kiểm toán vừa khó thực hiện do yêu cầu bí mật thông tin khách hàng của KTĐL vừa không kịp thời khi chất lượng kiểm toán chỉ là các đánh giá sau (feedback), khi các „sự cố‟ kiểm toán (nếu có) đã xảy ra mà không được ngăn chặn.
Vì thế tính dự báo hoặc sự can thiệp của các 8 chủ thể trong quá trình kiểm toán để nâng cao chất lượng kiểm toán không được kịp thời. Đánh giá chất lượng kiểm toán theo phương pháp trực tiếp sẽ rất phù hợp với kiểm soát chất lượng kiểm toán từ bên ngoài (KSCL kiểm toán do cơ quan QLNN và tổ chức nghề nghiệp về kiểm toán thực hiện). Đánh giá chất lượng kiểm toán theo phương pháp gián tiếp là thông qua các yếu tố ảnh hưởng (proxy), mà các yếu tố này dễ dàng quan sát và đo lường được, như: quy mô DNKiT, nhiệm kỳ kiểm toán của KTV, mức độ chuyên sâu ngành nghề của KTV, phí kiểm toán, danh tiếng DNKiT,. trở nên phổ biến hơn và cũng ưu việt hơn so với phương pháp trực tiếp.
Nhiều nhà nghiên cứu cho rằng cách đánh giá gián tiếp chất lượng kiểm toán giống như đánh giá trạng thái sức khỏe của một cơ thể sống thông qua một loạt các chỉ số có thể quan sát và đo lường được, như: nhiệt độ, các chỉ số về máu, các chỉ số về nhịp tim, … DeAngelo (Auditor Size and Audit Quality, 1981), đã đề xuất quy mô của công ty kiểm toán là một chỉ số để đo lường chất lượng kiểm toán vì các công ty lớn hơn sẽ có các điều kiện tốt hơn để thực hiện kiểm toán.