Tổng quan luận án
Hoạt động kiểm toán độc lập (KTĐL) giữ vai trò là bên thứ ba độc lập xác nhận tính trung thực, hợp lý của các thông tin tài chính, góp phần giảm thiểu tình trạng bất cân xứng thông tin và bảo vệ quyền lợi của các chủ thể trong nền kinh tế thị trường. Tuy nhiên, các doanh nghiệp kiểm toán (DNKiT) hoạt động theo mục tiêu lợi nhuận, dẫn đến những xung đột lợi ích tiềm ẩn giữa kiểm toán viên (KTV), đơn vị được kiểm toán và người sử dụng kết quả kiểm toán. Thực tiễn quốc tế (như các sai phạm tài chính của Enron và Arthur Andersen dẫn đến sự ra đời của Đạo luật Sarbanes-Oxley tại Hoa Kỳ) chứng minh rằng thị trường dịch vụ kiểm toán không thể tự điều tiết hoàn toàn mà đòi hỏi sự can thiệp, quản lý chặt chẽ từ Nhà nước.
Tại Việt Nam, sau 30 năm hình thành và phát triển (từ năm 1991), hoạt động quản lý nhà nước (QLNN) đối với KTĐL đã đạt được những chuyển biến nhất định nhưng vẫn bộc lộ hạn chế: khung khổ pháp lý chưa đồng bộ, sự phối hợp giữa các cơ quan quản lý chưa cao, công tác kiểm tra, giám sát chủ yếu dừng lại ở việc đánh giá tính tuân thủ quy định hành chính mà chưa đi sâu vào kiểm soát chất lượng (KSCL) chuyên môn. Mặt khác, các công trình nghiên cứu trước đây tại Việt Nam chủ yếu tiếp cận theo từng khía cạnh riêng lẻ hoặc được thực hiện trước khi Luật Kiểm toán độc lập năm 2011 có hiệu lực. Khoảng trống nghiên cứu đặt ra là cần một công trình toàn diện, tiếp cận theo chu trình quản lý và vận dụng công cụ định lượng để đánh giá thực trạng QLNN đối với KTĐL.
Mục tiêu nghiên cứu tổng quát của luận án là xác lập cơ sở khoa học và thực tiễn nhằm đề xuất các giải pháp hoàn thiện QLNN đối với KTĐL ở Việt Nam. Tác giả xác định 04 nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể:
- Hệ thống hóa các cơ sở lý luận về QLNN đối với KTĐL.
- Khảo sát và đánh giá thực trạng về nội dung QLNN, thực trạng theo các tiêu chí đánh giá và các yếu tố ảnh hưởng đến QLNN đối với KTĐL ở Việt Nam.
- Nhận xét những thành công, hạn chế, tồn tại và phân tích nguyên nhân của những hạn chế, tồn tại trong QLNN đối với KTĐL ở Việt Nam.
- Đề xuất các nhóm giải pháp nhằm hoàn thiện QLNN đối với KTĐL ở Việt Nam đến năm 2025 và tầm nhìn đến năm 2030.
Để hiện thực hóa mục tiêu và nhiệm vụ, luận án đặt ra 05 câu hỏi nghiên cứu:
- Câu hỏi 1: QLNN đối với KTĐL ở Việt Nam có những khác biệt gì so với các quốc gia khác?
- Câu hỏi 2: Những yếu tố nào ảnh hưởng đến QLNN đối với KTĐL? Những tiêu chí nào được sử dụng để đánh giá QLNN đối với KTĐL?
- Câu hỏi 3: Thực trạng về nội dung QLNN, thực trạng theo các tiêu chí đánh giá và các yếu tố ảnh hưởng đến QLNN đối với KTĐL ở Việt Nam diễn ra như thế nào?
- Câu hỏi 4: QLNN đối với KTĐL ở Việt Nam đã đạt được những thành công và còn những tồn tại, hạn chế nào? Nguyên nhân của những hạn chế và tồn tại đó?
- Câu hỏi 5: Để hoàn thiện QLNN đối với KTĐL ở Việt Nam, Nhà nước nên cải thiện những khâu quản lý nào và sử dụng những biện pháp nào để hỗ trợ KTĐL phát triển?
Đối tượng nghiên cứu là cơ sở lý luận và thực tiễn về QLNN đối với KTĐL, bao gồm nội dung quản lý, tiêu chí đánh giá và các yếu tố ảnh hưởng. Phạm vi nghiên cứu được xác định rõ:
- Về nội dung: Luận án tiếp cận theo chu trình quá trình quản lý gồm 03 khâu: (i) Xây dựng hệ thống pháp lý; (ii) Tổ chức thực hiện chính sách và pháp luật; (iii) Kiểm tra, giám sát KTĐL. Về loại hình dịch vụ, luận án tập trung vào các dịch vụ đảm bảo (kiểm toán báo cáo tài chính, soát xét báo cáo tài chính, kiểm toán quyết toán dự án hoàn thành...), không nghiên cứu các dịch vụ phi đảm bảo (tư vấn thuế, tư vấn tài chính, kế toán).
- Về chủ thể quản lý: Tập trung vào Bộ Tài chính với tư cách là cơ quan quản lý chuyên ngành trực tiếp, đồng thời xem xét mối quan hệ phối hợp với Ủy ban Chứng khoán Nhà nước (UBCKNN), Ngân hàng Nhà nước (NHNN) và các hội nghề nghiệp.
- Về thời gian: Phân tích thực trạng từ năm 1991 đến thời điểm hoàn thành nghiên cứu (năm 2021); tầm nhìn đề xuất giải pháp đến năm 2025, định hướng đến năm 2030 và 2035.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Luận án thực hiện điểm luận có hệ thống các nghiên cứu trong và ngoài nước theo bốn nhóm chủ đề chính:
Thứ nhất, nhóm nghiên cứu về vai trò và chất lượng của kiểm toán độc lập: Các nghiên cứu của Parasuraman (1985), DeAngelo (1981), Beatty (1993), Lee (1995), Warming-Rasmussen và Jensen (1998), Krishnan và Schauer (2001) đã phân tích vai trò của KTĐL dưới góc độ người sử dụng thông tin và chỉ ra hai phương pháp đo lường chất lượng kiểm toán: trực tiếp (thông qua kiểm soát quy trình làm việc, hồ sơ kiểm toán) và gián tiếp (thông qua các biến đại diện như quy mô DNKiT, thời kỳ kiểm toán/audit tenure, mức độ chuyên sâu ngành nghề, tính độc lập của KTV). Tại Việt Nam, Phan Thanh Hải (2013) và Trần Thị Kim Anh (2008) phân tích mô hình tổ chức và giải pháp phát triển dịch vụ kiểm toán trong điều kiện gia nhập WTO và hội nhập quốc tế.
Thứ hai, nhóm nghiên cứu về nội dung QLNN đối với KTĐL:
- Về xây dựng khung pháp lý: Ngô Thế Chi và cộng sự (2006), Lê Hoài Phương, Báo cáo ROSC của World Bank (2016), Maskin và Tirole (2008), Hà Thị Ngọc Hà (2011) khẳng định thể chế pháp lý minh bạch là nền tảng gia tăng niềm tin của thị trường và định hướng hành vi của các chủ thể kiểm toán.
- Về tổ chức thực hiện chính sách: Phạm Thị Hồng Điệp (2017) đề xuất áp dụng 8 đặc tính của mô hình quản trị nhà nước tốt vào quản lý kinh tế. Báo cáo của World Bank và IMF (2016) khuyến nghị nâng cao năng lực vận hành bộ máy giám sát tại các quốc gia đang phát triển.
- Về kiểm tra, giám sát: Hà Thị Ngọc Hà (2011), Cục Quản lý, giám sát kế toán, kiểm toán - Bộ Tài chính (2012), Nguyễn Anh Tuấn (2014), Trần Khánh Lâm (2011) đã phân tích cơ chế KSCL từ bên trong DNKiT và kiểm soát từ bên ngoài của cơ quan quản lý, nhấn mạnh tác động của việc hạ giá phí và quy mô DNKiT đến chất lượng kiểm toán.
Thứ ba, nhóm nghiên cứu về yếu tố ảnh hưởng và tiêu chí đánh giá QLNN: Đào Anh Tuấn (2013), Mai Thị Dung (2019), Lê Hà Trang (2019) đã phân chia các yếu tố ảnh hưởng đến QLNN thành ba nhóm (chủ thể quản lý, khách thể quản lý, môi trường quản lý) và áp dụng các tiêu chí hiệu lực, hiệu quả, phù hợp, bền vững. Về phương pháp đánh giá, các nghiên cứu quốc tế của Kaufmann (1997), World Bank (1996), Acemoglu và Robinson (2012), Tim Cadman (2012) cùng các nghiên cứu trong nước đã gợi mở việc sử dụng mô hình ma trận tầm quan trọng - mức độ thực hiện (IPA) và mô hình Kano để đo lường khoảng cách chính sách.
Khoảng trống nghiên cứu được luận án nhận diện: Phần lớn các công trình quốc tế được xây dựng dựa trên bối cảnh thị trường phát triển lâu đời, không tương thích hoàn toàn với điều kiện chuyển đổi kinh tế tại Việt Nam. Các công trình trong nước trước đây chủ yếu đi vào từng khía cạnh kỹ thuật riêng lẻ, chưa có công trình nào đánh giá toàn diện QLNN đối với KTĐL theo cả 03 khâu của chu trình quản lý gắn với việc lượng hóa bộ tiêu chí đánh giá dựa trên lý thuyết quản trị nhà nước tốt. Luận án lựa chọn giải quyết khoảng trống này bằng cách thiết lập khung phân tích toàn diện và áp dụng mô hình định lượng kết hợp Kano – IPA.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Luận án dựa trên các nền tảng lý thuyết kinh tế và quản lý:
- Lý thuyết thông tin bất cân xứng (Information Asymmetry): Giải thích nguyên nhân phát sinh nhu cầu kiểm toán độc lập nhằm xác nhận độ tin cậy của báo cáo tài chính cho bên thứ ba.
- Lý thuyết chi phí - lợi ích (Cost-Benefit Theory): Phân tích hành vi của các bên tham gia thị trường dịch vụ kiểm toán khi cân nhắc giữa chi phí tuân thủ và lợi ích kinh tế.
- Lý thuyết Quản trị nhà nước tốt (Good Governance Theory): Luận án kế thừa quan điểm của World Bank, UNDP và Daniel Kaufmann về các tiêu chuẩn quản trị (tính minh bạch, trách nhiệm giải trình, hiệu lực, hiệu quả, sự tham gia của các bên) để thiết lập Bộ chỉ số đánh giá QLNN đối với KTĐL (SGEAI) gồm 04 tiêu chí: Hiệu lực, Hiệu quả, Phù hợp và Bền vững.
3. Kiểm tra, giám sát
Khung phân tích của luận án kết nối 03 nhóm chủ thể/yếu tố tác động (chủ thể quản lý, khách thể quản lý, môi trường quản lý) thông qua quá trình QLNN (3 nội dung: xây dựng pháp luật, tổ chức thực hiện, kiểm tra giám sát) để tạo ra kết quả đầu ra và được đo lường bởi bộ tiêu chí SGEAI.
Về phương pháp luận, luận án sử dụng phương pháp duy vật biện chứng và duy vật lịch sử để phân tích sự phát triển của KTĐL và các cơ chế quản lý tương ứng qua từng thời kỳ lịch sử. Các phương pháp nghiên cứu cụ thể bao gồm:
-
Phương pháp nghiên cứu định tính:
- Nghiên cứu tại bàn (Desk Research): Thu thập dữ liệu thứ cấp từ văn bản quy phạm pháp luật, báo cáo thường niên của Bộ Tài chính, Hội Kiểm toán viên hành nghề Việt Nam (VACPA), Hội Kế toán và Kiểm toán Việt Nam (VAA), World Bank, Niên giám thống kê và các kỷ yếu khoa học.
- Nghiên cứu tại hiện trường (Field Research): Thực hiện phỏng vấn sâu bán cấu trúc với mẫu có chủ đích gồm 10 chuyên gia/nhà quản lý: 02 lãnh đạo Cục Quản lý, giám sát kế toán, kiểm toán (Bộ Tài chính); 01 lãnh đạo UBCKNN; 01 lãnh đạo NHNN; 01 lãnh đạo VACPA; 01 lãnh đạo VAA; 01 lãnh đạo DNKiT; 02 nhà khoa học/giảng viên chuyên ngành kiểm toán tại các trường đại học; 01 KTV hành nghề. Kết quả phỏng vấn được sử dụng để hiệu chỉnh bảng hỏi khảo sát và làm rõ nguyên nhân các hạn chế quản lý.
-
Phương pháp nghiên cứu định lượng:
- Thu thập dữ liệu sơ cấp qua bảng hỏi sử dụng thang đo Likert 5 mức độ để đánh giá tầm quan trọng (Importance) và mức độ thực hiện (Performance) của các biến quan sát thuộc 4 tiêu chí QLNN.
- Phân tích thống kê mô tả, tính điểm trung bình (Mean), độ lệch chuẩn (Standard Deviation), kiểm định độ tin cậy thang đo và hệ số tương quan.
- Sử dụng ma trận tầm quan trọng - mức độ thực hiện (IPA) kết hợp mô hình Kano (Ma trận tích hợp Kano – IPA) nhằm nhận diện khoảng cách (I-P gaps), phân loại các tiêu chí thành các vùng ưu tiên cải tiến (tập trung cải thiện, duy trì, ưu tiên thấp, có thể thái quá).
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Tổng quan nghiên cứu và phương pháp nghiên cứu
Chương 1 trình bày chi tiết bức tranh tổng quan về các công trình nghiên cứu liên quan đến KTĐL và QLNN đối với KTĐL trong và ngoài nước. Tác giả phân loại các nghiên cứu theo bốn hướng chính, phân tích ưu nhược điểm của các phương pháp đo lường chất lượng kiểm toán (trực tiếp và gián tiếp), từ đó chỉ rõ khoảng trống nghiên cứu về mặt lý luận và thực tiễn tại Việt Nam.
Trên cơ sở đó, chương này thiết lập khung phân tích của luận án (Sơ đồ 1.1), xác định phương pháp luận duy vật biện chứng, duy vật lịch sử, cùng quy trình kết hợp phương pháp nghiên cứu định tính (nghiên cứu tài liệu thứ cấp, phỏng vấn chuyên gia 10 phần tử đạt điểm bão hòa thông tin) và định lượng (thiết kế bảng hỏi, thu thập dữ liệu sơ cấp, phân tích tương quan và tích hợp ma trận Kano – IPA).
Chương 2: Cơ sở lý luận và thực tiễn quản lý nhà nước đối với kiểm toán độc lập
Chương 2 chuẩn hóa hệ thống khái niệm, phân loại và đặc trưng của KTĐL trong nền kinh tế thị trường, đồng thời phân biệt KTĐL với Kiểm toán Nhà nước (KTNN) và Kiểm toán nội bộ (KTNB):
| Tiêu chí phân biệt |
Kiểm toán độc lập (KTĐL) |
Kiểm toán Nhà nước (KTNN) |
Kiểm toán nội bộ (KTNB) |
| Chủ thể thực hiện |
Doanh nghiệp kiểm toán, Kiểm toán viên hành nghề |
Cơ quan Kiểm toán Nhà nước, Kiểm toán viên nhà nước |
Bộ phận kiểm toán nội bộ trong doanh nghiệp/đơn vị |
| Bản chất hoạt động |
Dịch vụ kinh doanh có điều kiện, thu phí dịch vụ |
Cơ quan công quyền thực hiện theo luật định, kinh phí từ ngân sách |
Tuyến phòng thủ nội bộ phục vụ quản trị và kiểm soát rủi ro |
| Đối tượng kiểm toán |
Báo cáo tài chính, dự án, hệ thống KSNB của khách thể hợp đồng |
Tài chính công, tài sản công của các cơ quan, đơn vị sử dụng ngân sách |
Hoạt động, hệ thống KSNB, quy trình quản trị nội bộ đơn vị |
| Văn bản báo cáo |
Báo cáo kiểm toán/Báo cáo soát xét gửi khách hàng và bên thứ ba |
Báo cáo kiểm toán trình Quốc hội/HĐND và cơ quan có thẩm quyền |
Báo cáo kiểm toán nội bộ trình Hội đồng quản trị/Ban giám đốc |
Về QLNN đối với KTĐL, chương 2 xác định 03 mục tiêu cơ bản: (1) Nâng cao nhận thức xã hội để phát triển KTĐL về quy mô, số lượng và chất lượng; (2) Quản lý chặt chẽ nhằm bảo đảm tính công khai, minh bạch của hệ thống thông tin tài chính; (3) Hài hòa lợi ích và xử lý xung đột giữa các bên. Quá trình QLNN được phân tích qua 03 nội dung: xây dựng pháp luật, tổ chức thực hiện, và kiểm tra giám sát. Đồng thời, chương 2 thiết lập bộ tiêu chí đánh giá SGEAI và phân tích 03 nhóm yếu tố ảnh hưởng (môi trường, chủ thể, khách thể).
Chương này cũng tổng kết kinh nghiệm QLNN đối với KTĐL tại các quốc gia đại diện cho các mô hình khác nhau: Hoa Kỳ (mô hình giám sát độc lập thông qua PCAOB sau đạo luật SOX), Hà Lan, Nhật Bản, Singapore (mô hình kết hợp cơ quan giám sát độc lập và hiệp hội nghề nghiệp), Trung Quốc (CICPA chịu sự chỉ đạo của Bộ Tài chính), từ đó rút ra bài học cho Việt Nam về hoàn thiện mô hình giám sát và tăng cường tính độc lập nghề nghiệp.
Chương 3: Thực trạng quản lý nhà nước đối với kiểm toán độc lập ở Việt Nam
Chương 3 khái quát lịch sử 30 năm hình thành và phát triển của KTĐL tại Việt Nam, phân tích thực trạng hoạt động thông qua các số liệu thống kê về quy mô thị trường, cơ cấu DNKiT, lực lượng lao động và doanh thu:
| Nhóm chỉ tiêu thống kê |
Dữ liệu và thực trạng ghi nhận trong luận án |
| Cơ cấu và loại hình DNKiT |
Số lượng DNKiT tăng dần nhưng phân bổ không đồng đều; chiếm tỷ trọng lớn là công ty TNHH 2 thành viên trở lên, trong khi các DNKiT có vốn đầu tư nước ngoài (nhóm Big 4) chiếm lĩnh thị phần lớn về doanh thu và khách hàng công chúng. |
| Cơ cấu nhân lực kiểm toán |
Đội ngũ KTV có chứng chỉ hành nghề tăng về số lượng, tuy nhiên số lượng KTV làm việc thực tế tại các DNKiT quy mô nhỏ còn mỏng; tỷ lệ KTV có chứng chỉ quốc tế tập trung chủ yếu ở khối DNKiT có vốn đầu tư nước ngoài. |
| Doanh thu và kết quả kinh doanh |
Doanh thu toàn ngành duy trì tốc độ tăng trưởng; nguồn thu chính đến từ dịch vụ kiểm toán BCTC và kiểm toán quyết toán dự án hoàn thành; xuất hiện tình trạng cạnh tranh gay gắt bằng cách giảm giá phí kiểm toán. |
Phân tích sâu thực trạng QLNN theo 03 khâu nội dung:
- Xây dựng pháp lý: Đã ban hành Luật Kiểm toán độc lập 2011, hệ thống Chuẩn mực kiểm toán Việt Nam (VSA) gồm 37 chuẩn mực và Chuẩn mực kiểm soát chất lượng VSQC 1. Dù vậy, các văn bản dưới luật còn chồng chéo, chậm sửa đổi trước sự biến động của thị trường.
- Tổ chức thực hiện: Bộ máy quản lý tập trung tại Bộ Tài chính; bước đầu đã chuyển giao một số nhiệm vụ hành chính cho VACPA (như đào tạo cập nhật kiến thức, thi sát hạch KTV). Tuy nhiên, năng lực đội ngũ công chức quản lý chuyên trách còn hạn chế về số lượng so với tốc độ tăng trưởng của DNKiT.
- Kiểm tra, giám sát: Hoạt động kiểm tra KSCL định kỳ do Bộ Tài chính, UBCKNN và VACPA phối hợp thực hiện. Hạn chế lớn là hoạt động kiểm tra chủ yếu tập trung vào hồ sơ tuân thủ hành chính, chưa đủ nguồn lực để kiểm tra chuyên sâu các ước tính kế toán phức tạp và rủi ro gian lận.
Kết quả định lượng từ mô hình Kano – IPA chỉ ra khoảng cách (I-P gaps) rõ rệt: Điểm đánh giá mức độ quan trọng (Importance) của các tiêu chí Hiệu lực, Hiệu quả, Phù hợp, Bền vững đều ở mức cao, nhưng điểm mức độ thực hiện (Performance) thực tế của các cơ quan quản lý thấp hơn đáng kể. Các biến quan sát liên quan đến tính nghiêm minh của chế tài xử phạt, KSCL kiểm toán độc lập và cơ chế phối hợp liên ngành rơi vào góc phần tư "Tập trung cải thiện" (Concentrate Here) trên ma trận IPA.
Chương 3 kết luận những kết quả đạt được, đồng thời chỉ rõ các tồn tại và nguyên nhân: nguyên nhân khách quan do KTĐL là ngành đặc thù, kinh tế thị trường chuyển đổi nhanh; nguyên nhân chủ quan do tổ chức bộ máy quản lý chưa đủ thẩm quyền độc lập, nguồn lực thanh tra còn mỏng và nhận thức xã hội về kiểm toán chưa đồng đều.
Chương 4: Hoàn thiện quản lý nhà nước đối với kiểm toán độc lập ở Việt Nam
Trên cơ sở dự báo bối cảnh kinh tế - xã hội đến năm 2025, định hướng đến năm 2030 và quan điểm hoàn thiện QLNN theo hướng tiếp cận thông lệ quốc tế, chương 4 đề xuất 04 nhóm giải pháp đồng bộ:
- Nhóm giải pháp hoàn thiện hệ thống pháp lý: Rà soát, sửa đổi Luật Kiểm toán độc lập 2011; nghiên cứu lộ trình xây dựng và ban hành Luật Kế toán viên hành nghề (Luật CPA) nhằm quản lý thống nhất hành vi và trách nhiệm nghề nghiệp; cập nhật hệ thống Chuẩn mực kiểm toán Việt Nam tương thích hoàn toàn với Chuẩn mực kiểm toán quốc tế (ISA); xây dựng và ban hành Bộ chỉ số chất lượng kiểm toán (AQIs - Audit Quality Indicators) làm công cụ giám sát công khai.
- Nhóm giải pháp về tổ chức thực hiện chính sách và pháp luật: Kiện toàn bộ máy quản lý nhà nước theo hướng chuyên trách; phân định rõ thẩm quyền và nâng cao trách nhiệm giải trình giữa Bộ Tài chính, UBCKNN, NHNN; tăng cường vai trò tự quản của tổ chức nghề nghiệp (VACPA) trong việc đào tạo, sát hạch và giám sát đạo đức nghề nghiệp.
- Nhóm giải pháp về kiểm tra, giám sát KTĐL: Đổi mới quy trình kiểm tra KSCL từ tiền kiểm sang kết hợp hậu kiểm dựa trên đánh giá rủi ro; nghiên cứu chuyển đổi mô hình cơ quan giám sát KTĐL sang mô hình luật định có sự tham gia của Ủy ban giám sát độc lập (tương tự mô hình PCAOB hoặc mô hình Hội đồng giám sát hỗn hợp quốc tế); công khai kết quả kiểm tra chất lượng định kỳ và xử lý nghiêm các trường hợp gian lận hoặc hạ giá phí phi lý.
- Nhóm giải pháp khác và điều kiện thực hiện: Tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý dữ liệu kiểm toán viên và DNKiT; nâng cao nhận thức của doanh nghiệp và công chúng về giá trị của báo cáo kiểm toán; chuẩn bị các điều kiện về nguồn lực tài chính, nhân lực quản lý chuyên trách để triển khai các giải pháp.
Kết quả và những đóng góp mới
Luận án tự xác định các đóng góp mới về mặt học thuật, lý luận và thực tiễn ứng dụng:
Về lý luận và học thuật:
- Hệ thống hóa và làm sáng tỏ khung lý luận về QLNN đối với KTĐL theo cách tiếp cận chu trình quản lý (gồm 3 khâu: xây dựng pháp luật, tổ chức thực hiện, kiểm tra giám sát) gắn với các đặc trưng của dịch vụ đảm bảo trong nền kinh tế thị trường.
- Vận dụng lý thuyết Quản trị nhà nước tốt (Good Governance) để thiết lập Bộ chỉ số đánh giá QLNN đối với KTĐL (SGEAI) gồm 04 tiêu chí thành phần: Hiệu lực, Hiệu quả, Phù hợp và Bền vững.
Về phát hiện thực tiễn và giải pháp đề xuất:
- Sử dụng mô hình định lượng Kano – IPA cung cấp bằng chứng thực nghiệm về khoảng cách giữa mức độ quan trọng kỳ vọng và mức độ thực hiện thực tế (I-P gaps) trong QLNN đối với KTĐL tại Việt Nam, chỉ rõ các điểm nghẽn cần ưu tiên giải quyết.
- Đề xuất các giải pháp mang tính định hướng dài hạn: kiến nghị nghiên cứu ban hành Luật Kế toán viên hành nghề (Luật CPA); thiết lập Bộ chỉ số chất lượng kiểm toán (AQIs); từng bước xây dựng mô hình cơ quan giám sát kiểm toán độc lập có tính độc lập cao, phù hợp với tiến trình hội nhập thị trường tài chính khu vực và quốc tế.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Hạn chế của luận án (dựa trên phạm vi nghiên cứu được công bố):
- Về nội dung, luận án chỉ tập trung vào các dịch vụ kiểm toán đảm bảo, không đi sâu phân tích mảng dịch vụ phi đảm bảo (dịch vụ tư vấn thuế, tư vấn tài chính, kế toán) dù các dịch vụ này cũng có khả năng gây ảnh hưởng đến tính độc lập của KTV.
- Về chủ thể, trọng tâm khảo sát và đánh giá tập trung vào cơ quan quản lý chuyên ngành là Bộ Tài chính, chưa đánh giá chi tiết toàn bộ các cơ quan thanh tra liên ngành khác.
- Dữ liệu khảo sát sơ cấp phản ánh quan điểm của các chuyên gia và đối tượng khảo sát tính đến thời điểm năm 2021.
Hướng nghiên cứu tiếp:
- Mở rộng nghiên cứu tác động qua lại giữa việc cung cấp dịch vụ phi đảm bảo với chất lượng dịch vụ kiểm toán đảm bảo dưới góc độ quản lý nhà nước.
- Tiếp tục kiểm chứng và hoàn thiện thang đo Bộ chỉ số SGEAI với quy mô mẫu khảo sát mở rộng sang các đối tượng sử dụng báo cáo tài chính như nhà đầu tư cá nhân và tổ chức tín dụng.
Giá trị tham khảo
Luận án là tài liệu tham khảo chuyên khảo có giá trị đối với các nhóm đối tượng:
- Cơ quan quản lý nhà nước (Bộ Tài chính, UBCKNN, NHNN): Tham khảo khung phân tích, kết quả định lượng Kano – IPA và các đề xuất về mô hình cơ quan giám sát độc lập, xây dựng Bộ chỉ số chất lượng kiểm toán (AQIs) phục vụ công tác hoạch định chiến lược phát triển ngành kiểm toán.
- Hội nghề nghiệp (VACPA, VAA) và các DNKiT: Sử dụng kết quả phân tích thực trạng để hoàn thiện hệ thống kiểm soát chất lượng nội bộ, chuẩn hóa quy trình đào tạo KTV và nâng cao tính tuân thủ đạo đức nghề nghiệp.
- Nghiên cứu sinh, học viên cao học và giảng viên chuyên ngành Kinh tế, Quản lý kinh tế, Kế toán - Kiểm toán: Tham khảo khung lý thuyết, phương pháp luận kết hợp Kano – IPA và hệ thống tổng quan tài liệu về quản lý thị trường dịch vụ tài chính.
Câu hỏi thường gặp
1. Luận án tiếp cận nội dung quản lý nhà nước đối với kiểm toán độc lập theo hướng nào?
Luận án tiếp cận theo chu trình quá trình quản lý gồm 03 khâu chính: (i) Xây dựng hệ thống pháp lý đối với KTĐL; (ii) Tổ chức thực hiện chính sách và pháp luật đối với KTĐL; (iii) Kiểm tra, giám sát KTĐL. Về phạm vi dịch vụ, luận án giới hạn nghiên cứu ở các dịch vụ đảm bảo do DNKiT cung cấp.
2. Bộ tiêu chí đánh giá QLNN đối với KTĐL (SGEAI) trong luận án gồm những tiêu chí nào?
Dựa trên lý thuyết Quản trị nhà nước tốt (Good Governance), tác giả xây dựng Bộ tiêu chí SGEAI gồm 04 tiêu chí: Tính hiệu lực, Tính hiệu quả, Tính phù hợp và Tính bền vững.
3. Phương pháp định lượng nào được tác giả sử dụng để đánh giá thực trạng QLNN?
Tác giả sử dụng phương pháp khảo sát bằng bảng hỏi cấu trúc thang đo Likert 5 mức độ, phân tích thống kê mô tả, hệ số tương quan và tích hợp ma trận Tầm quan trọng - Mức độ thực hiện (IPA) với mô hình Kano (Kano – IPA) để xác định các khoảng cách chính sách (I-P gaps).
4. Mẫu khảo sát chuyên gia định tính của luận án gồm những ai?
Mẫu phỏng vấn sâu bán cấu trúc gồm 10 chuyên gia/nhà quản lý: 02 lãnh đạo Cục Quản lý, giám sát kế toán, kiểm toán (Bộ Tài chính), 01 lãnh đạo UBCKNN, 01 lãnh đạo NHNN, 01 lãnh đạo VACPA, 01 lãnh đạo VAA, 01 lãnh đạo DNKiT, 02 giảng viên/chuyên gia đại học và 01 KTV hành nghề.
5. Các đề xuất chính sách nổi bật được luận án đưa ra tại chương 4 là gì?
Các đề xuất nổi bật gồm: nghiên cứu ban hành Luật Kế toán viên hành nghề (Luật CPA); xây dựng Bộ chỉ số chất lượng kiểm toán (AQIs); đổi mới mô hình kiểm tra, giám sát KTĐL theo hướng chuyển dịch sang mô hình cơ quan giám sát luật định có tính độc lập cao.
Kết luận
Luận án tiến sĩ "Quản lý nhà nước đối với kiểm toán độc lập ở Việt Nam" của tác giả Nguyễn Thị Hà đã giải quyết toàn diện các mục tiêu nghiên cứu đặt ra thông qua việc kết hợp cơ sở lý luận quản trị nhà nước tốt với phân tích thực chứng thị trường dịch vụ kiểm toán tại Việt Nam. Bằng việc áp dụng phương pháp nghiên cứu định tính kết hợp định lượng Kano – IPA, luận án đã chỉ rõ thực trạng, các khoảng cách chính sách trong ba khâu của quá trình QLNN giai đoạn 1991–2021. Hệ thống giải pháp được đề xuất trong luận án cung cấp luận cứ khoa học thực tiễn phục vụ công tác hoàn thiện thể chế pháp lý, đổi mới mô hình giám sát và nâng cao chất lượng hoạt động kiểm toán độc lập tại Việt Nam đến năm 2030.