Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA ĐỀ TÀI Trong sản xuất nông nghiệp giống là một nhân tố quyết định năng suất, chất lượng của sản phẩm, các biện pháp kỹ thuật canh tác chỉ có thể đạt được hiệu quả cao trên cơ sở các giống tốt. Các nhà khoa học ước tính khoảng 30 đến 50% mức tăng năng suất hạt của các cây lương thực trên thế giới là nhờ việc đưa vào sản xuất những giống tốt. Ở nước ta, từ năm 1981 đến 1996 giống đã đóng góp cho sự tăng sản lượng cây trồng lên 43,68% trong khi đó yếu tố phân bón hóa học - thuốc bảo vệ thực vật và yếu tố thủy lợi đóng góp với các tỷ lệ tương ứng là 32,57% và 31,97%, thấp hơn khoảng 10% so với giống (Phan Huy Thông, 2007) [28].
Sản xuất nông nghiệp thế giới ngày nay luôn luôn phải trả lời câu hỏi: Làm thế nào để cung cấp đủ năng lượng cho 8 tỷ người vào năm 2021 và 16 tỷ người vào năm 2030? Để giải quyết vấn đề này ngoài biện pháp phát triển kỹ thuật canh tác bền vững, đòi hỏi các nhà khoa học phải nhanh chóng tạo ra những giống mới có năng suất cao, ổn định đáp ứng được yêu cầu của một nền nông nghiệp hiện đại. Chọn tạo các giống tốt, thích hợp với điều kiện tự nhiên và điều kiện canh tác là cơ sở đạt được năng suất cao, ổn định với mức chi phí sản xuất thấp nhất. Giống mới đóng vai trò hết sức quan trọng trong việc nâng cao năng suất và sản lượng cây trồng, nhưng để giống phát huy hiệu quả phải sử dụng chúng hợp lý với điều kiện khí hậu, đất đai, kinh tế xã hội từng vùng. Giống cao sản của vùng thâm canh sẽ không cho năng suất mong muốn nếu trồng ở vùng nông nghiệp quảng canh, thậm chí hiệu quả kinh tế còn thấp hơn sử dụng giống địa phương.
Vì vậy, xác định bộ giống thích hợp với mỗi vùng sinh thái là rất cần thiết. n 5 Do điều kiện sinh thái và trình độ canh tác của các vùng khác nhau nên giống mới phải qua quá trình đánh giá khả năng sinh trưởng, phát triển, khả năng thích nghi, tính ổn định, độ đồng đều,. trước khi mở rộng sản xuất. ƯU THẾ LAI VÀ PHƯƠNG PHÁP ĐÁNH GIÁ ƯU THẾ LAI Ở NGÔ 1.
Khái niệm ưu thế lai Ưu thế lai là sự tăng cường về sức sống, khả năng phát triển, khả năng thích ứng, khả năng sinh sản. của con lai thế hệ thứ nhất so với bố mẹ. Khi lai các dòng tự thụ phấn hoặc cận phối với nhau (đặc biệt là các dòng đã đạt tới mức cận phối tối thiểu) con lai thế hệ thứ nhất luôn luôn đồng nhất, có sức sống và năng suất cao hơn hẳn bố mẹ. Từ thế hệ thứ hai trở đi, tính ưu việt đó giảm đi nhanh chóng và mất dần ở các thế hệ tiếp theo.
Phân loại ưu thế lai Ngô lai là kết quả tác động của hiệu ứng gen trội và siêu trội. Ưu thế lai được biểu hiện ở hầu hết các tính trạng, cụ thể như sau: - Ưu thế lai về hình thái: Biểu hiện qua sức mạnh phát triển trong thời gian sinh trưởng và phát triển như tầm vóc cây, số lá… - Ưu thế lai về năng suất: Là biểu hiện quan trọng nhất của giống ngô lai đối với sản xuất đại trà. Ưu thế lai về năng suất được biểu hiện qua tỷ lệ hạt/bắp, khối lượng hạt, chiều dài bắp, số bắp/cây… Theo Richey (1927) ưu thế lai về năng suất ở cây ngô với giống lai đơn giữa các dòng có thể đạt từ 193% - 263% so với trung bình bố mẹ (Trần Hồng Uy, 1985)[31]. - Ưu thế lai thích ứng: Biểu hiện thông qua khả năng chống chịu với điều kiện bất thuận như hạn, rét, sâu bệnh… - Ưu thế lai về tính chín sớm: Biểu hiện tổ hợp lai chín sớm hơn so với trung bình bố mẹ.
Nguyên nhân là do sự tăng cường hoạt động của quá trình sinh lý, sinh hóa, trao đổi chất của tổ hợp lai mạnh hơn bố mẹ. - Ưu thế lai về sinh lý, sinh hóa: Là sự tăng cường biểu hiện quá trình trao đổi chất (Nguyễn Văn Cương, 1995) [4]. n 6 Ưu thế lai ở ngô thể hiện rất rõ khi lai giữa các giống và khi lai giữa các dòng tự phối. Kết quả nghiên cứu ở nhiều nước cho thấy trong điều kiện tương tự, ngô lai giữa các giống tăng năng suất 10-20%, giống lai giữa các dòng thuần tăng năng suất 20-30% so với các giống địa phương tốt nhất.
Sự tăng năng suất ở thế hệ lai F1 ở ngô là 20 - 30%. Hiện tượng ưu thế lai không nhất thiết phải biểu hiện ra đồng thời ở tất cả các tính trạng của cây lai. Có thể ở tính trạng này ưu thế lai biểu hiện mạnh còn ở một số tính trạng khác ưu thế lai biểu hiện yếu hoặc không có. Khi lai hai vật liệu với nhau có thể thu được cây lai với 3 mức độ biểu hiện: Tốt hơn hẳn so với bố mẹ, đạt mức trung bình giữa bố và mẹ, kém hơn so với bố mẹ.
Cơ sở di truyền của hiện tượng ưu thế lai Để sử dụng tối đa hiệu ứng ưu thế lai, cần hiểu rõ về cơ sở di truyền của ưu thế lai. Tuy nhiên, qua nhiều năm nghiên cứu và ứng dụng vẫn chưa có một cơ sở lý thuyết thống nhất và trọn vẹn về ưu thế lai. Hiện tại vẫn tồn tại nhiều giả thuyết, mỗi giả thuyết chỉ giới hạn bởi những kết quả thực nghiệm nhất định. Ưu thế lai có thể là kết quả của trội hoàn toàn và không hoàn toàn (siêu trội), tương tác giữa các gen (ức chế), tương tác giữa tế bào chất của mẹ và nhân của bố hoặc có thể tổ hợp tất cả các yếu tố trên.
Về bản chất, ưu thế lai là một biểu hiện phức tạp không thể giải thích được khi dựa vào một nguyên nhân đơn lẻ nào. Hai giả thuyết quan trọng có ý nghĩa ứng dụng thực tế nhất là giả thuyết tính trội và siêu trội. Để tạo ra giống lai có ưu thế lai cao, nguồn bố mẹ phải đa dạng, xa nhau về di truyền và thuộc các nhóm ưu thế lai khác nhau. * Giả thuyết tính trội: Theo giả thuyết tính trội, ưu thế lai là kết quả tác động và tương tác của alen trội có lợi.
Dị hợp tử không cần thiết chừng nào bố n 7 mẹ của con lai có tối đa số alen trội kết hợp với nhau hay bổ sung tính trội (tác động tích lũy các gen trội có lợi). * Giả thuyết siêu trội: Đối với giả thuyết siêu trội, dị hợp tử là cần thiết để tạo nên ưu thế lai. Trạng thái dị hợp tử vượt hiệu ứng của gen trội; kiểu hình của thể dị hợp tử ưu việt hơn kiểu hình thể đồng hợp tử. Thuyết này giải thích sự suy yếu của các dòng cận phối là do tích lũy các gen lặn cũng như gen trội ở trạng thái đồng hợp tử đều yếu hơn, kém ưu việt hơn kiểu gen ở trạng thái dị hợp tử.
Thuyết siêu trội giải thích ưu thế lai như tích lũy các gen ở trạng thái dị hợp tử làm tăng tính trội, ảnh hưởng đến sức sống vượt xa bất cứ tác dụng của một loại alen đồng hợp tử nào. Phương pháp đánh giá ưu thế lai Ưu thế lai ở cây trồng được biểu hiện thông qua các tính trạng, tùy thuộc vào mục đích được sử dụng để so sánh năng suất của con lai. - Ưu thế lai trung bình (heterosis) còn gọi là ưu thế lai giả định: Là sự hơn hẳn của con lai so với giá trị trung bình của bố mẹ. P1 + P2 F1 − Hm = 2 x100 P1 + P2 2 Hm: Ưu thế lai trung bình F1: Giá trị trung bình của tính trạng ở cây lai F1 - Ưu thế lai thực (heterobetiosis): Là sự hơn hẳn của con lai so với bố hoặc mẹ tốt nhất ở một tính trạng nào đó.
F1 − PB HB = x100 (HB: Ưu thế lai thực) PB - Ưu thế lai chuẩn (standar heterosis): Biểu thị tính ưu việt của con lai về một hay một số tính trạng nào đó so với giống thường dùng tốt nhất ở một vùng nhất định. F1 − S Hs = x100 S n 8 Hs: Ưu thế lai chuẩn F1: Chỉ giá trị tính trạng cần quan tâm của con lai F1 P1, P2: Chỉ giá trị tính trạng tương ứng của bố mẹ đem lai PB: Chỉ giá trị tương ứng của bố hoặc mẹ tốt nhất S: Chỉ giá trị tính trạng của giống chuẩn tốt nhất của vùng - Ưu thế lai có thể có giá trị dương (F1 tốt hơn bố hoặc mẹ, giống chuẩn), có thể có giá trị âm (F1 thấp hơn bố hoặc mẹ hoặc giống chuẩn về chiều cao cây, thời gian sinh trưởng. Đối với cây giao phấn, ưu thế lai được tạo ra qua các tổ hợp lai từ các dòng thuần cho nên khi đánh giá ưu thế lai chỉ cần dựa vào công thức tính của ưu thế lai chuẩn (Trần Văn Minh, 2004) [17]. CÁC LOẠI GIỐNG NGÔ Sản xuất ngô trên thế giới và Việt Nam những năm gần đây có sự thay đổi đáng kể nhờ công tác nghiên cứu và chọn tạo giống.
Theo phương pháp chọn tạo giống, giống ngô được chia làm 2 nhóm chính là nhóm ngô thụ phấn tự do và nhóm ngô lai. Giống ngô thụ phấn tự do (Maize open pollinated variety - OPV) Giống ngô thụ phấn tự do là những giống mà trong quá trình sản xuất hạt giống con người không cần can thiệp vào quá trình thụ phấn, chúng được tự do thụ phấn - thụ phấn mở (Ngô Hữu Tình, 2003) [26]. Đây là khái niệm tương đối để phân biệt với loại giống lai. Giống thụ phấn tự do được chia làm 2 loại: 1.
Giống địa phương (local variety) Là những giống được trồng lâu đời ở một địa phương nhất định. Ưu điểm của giống địa phương là có khả năng thích nghi cao, có chất lượng tốt nhưng năng suất thấp. Ngoài việc sử dụng trong sản xuất, giống địa phương còn là vật liệu quan trọng trong quá trình tạo giống. Phần lớn các giống ngô được tạo ra từ vật liệu địa phương có tính thích nghi cao, cấu trúc bắp tốt, chống chịu sâu đục thân khá.
n 9 Hiện nay, ở một số vùng vẫn sử dụng giống ngô địa phương, đặc biệt ở các vùng xa xôi, hẻo lánh như miền núi phía Bắc, Tây Nguyên,…. Giống tổng hợp (Synthetic variety) Là thế hệ tiên tiến của của giống lai nhiều dòng (thường là đòng đời thấp) bằng thụ phấn tự do. Giống tổng hợp được sử dụng đầu tiên trong sản xuất nhờ đề xuất của Hayse và Garber năm 1919 (Ngô Hữu Tình, 1997) [25].