Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Sơ lược giải phẫu và sinh lý tai giữa Tai vừa là cơ quan thính giác, vừa là cơ quan điều chỉnh thăng bằng cho cơ thể, bao gồm: tai ngoài, tai giữa và tai trong. Khoang tai giữa bao gồm một hệ thống thông khí rộng rãi được thông khí bởi vòi tai [14]. Tai giữa gồm: vòi tai, hòm tai giữa, khối xương chũm [8].
Tai giữa có nhiệm vụ dẫn truyền và điều chỉnh âm thanh từ màng nhĩ đến tai trong [15]. Lối vào xương chũm Ống bán khuyên Xương búa Xương đe Tiền đình Xương bàn đạp Dây TK tiền đình Dây TK ốc tai Màng nhĩ Ốc tai Cửa sổ bầu dục Vòi tai Tĩnh mạch cảnh trong Cửa sổ tròn Hình 1. Giải phẫu tai giữa (Nguồn: Atlas of Middle Ear Surgery, 2016, [32]) 1. Vòi tai Vòi tai là một ống sụn - xương nhỏ nối liền hòm nhĩ với thành bên vòm mũi họng, dài khoảng 35mm đi từ trên xuống dưới, từ sau ra trước, đi từ hòm nhĩ đổ vào thành bên họng bằng loa vòi [20].
Gồm 2 đoạn: gồm một phần sụn (2/3) treo từ nền sọ và một phần xương (1/3), hai đầu vòi tai thì rộng nhưng chỗ nối của 2 đoạn thì hẹp và được gọi là 4 eo vòi, eo là nơi dễ bị tắc do viêm vòi tai [14]. Lỗ vòi phía dưới luôn đóng kín do 2 thành sụn khép lại, mở ra khi cơ bao màn hầu co lại (khi nuốt), quanh lỗ vòi có tổ chức lympho vòi [14], [20]. Chức năng của vòi nhĩ [20], [23]: − Chức năng thông khí: Thông khí tai giữa với hầu làm cân bằng áp lực thông khí tai giữa và bên ngoài, đổi mới và bù lại lượng oxy đã bị hấp thụ ở tai giữa thông qua chức năng đóng mở loa vòi. − Dẫn lưu và làm sạch các chất dịch tiết từ tai giữa xuống mũi họng nhờ hệ thống niêm dịch – lông chuyển của niêm mạc hòm nhĩ và vòi.
− Chức năng bảo vệ: Chống áp lực âm trong tai giữa và chống trào ngược chất xuất tiết từ vòm mũi họng. Vòi nhĩ thông là một điều kiện đảm bảo cho tai nghe tốt, nếu tắc vòi nhĩ sẽ gây giảm áp lực trong hòm nhĩ, ứ đọng chất tiết gây viêm tai giữa. Việc đánh giá các chức năng này của vòi nhĩ là rất có lợi để ta hiểu được sinh lý bình thường và tình trạng bệnh của vòi nhĩ cũng như để chẩn đoán và điều trị các bệnh tai giữa. Hòm nhĩ Đây là phần trung tâm quan trọng của tai giữa, là khoảng trống chứa không khí nằm trong xương thái dương [14].
Hòm nhĩ giống như một cái trống hình dẹp có 6 thành, bao gồm chuỗi xương con, cơ búa, cơ bàn đạp, các dây chằng treo xương, mạng mạch máu, thần kinh phân bố ở niêm mạc [38]. Các thành của hòm nhĩ: − Thành trên: ngăn cách hòm nhĩ với hố não giữa, liên quan với màng não và não. Đây là nơi lan truyền nhiễm trùng trực tiếp từ hòm tai giữa vào hộp sọ, gây nên các biến chứng như viêm màng não, áp – xe não… [46]. − Thành dưới: thuộc tầng hạ nhĩ, sâu độ 2mm, chiều ngang rất hẹp có liên quan với thành động, tĩnh mạch (TM) cảnh [14].
5 − Thành trong (là thành mê đạo): ngăn cách tai giữa và tai trong, cũng là thành ngoài của vỏ mê đạo tai: + Ở gần trung tâm thành này có phần lồi ra ngoài gọi là ụ nhô, có những rãnh nhỏ gọi là rãnh ụ nhô, cho các nhánh của đám rối nhĩ thuộc thần kinh nhĩ, nhánh của thần kinh lưỡi hầu nằm. Ở phía trên sau ụ nhô có cửa sổ bầu dục để bàn của xương bàn đạp lắp vào, liên quan đến tiền đình tai trong. Ở trước dưới ụ nhô có cửa sổ tròn để màng nhĩ phụ đậy lại. Mỏm hình ốc ở phía trước trên ụ nhô, có gân cơ căng màng nhĩ thoát ra ở mỏm.
+ Lồi ống bán khuyên ngoài: nằm trên lồi ống thần kinh mặt. + Nằm trên cửa sổ bầu dục có lồi ống thần kinh mặt: hòm nhĩ liên quan rất chặt với thần kinh mặt nên khi VTGMT có thể làm liệt mặt [14]. − Thành trước (thành động mạch (ĐM) cảnh): rộng ở trên hơn ở dưới. Thành này liên quan đến động mạch cảnh trong.
Ở phía trên có ống chứa cơ căng màng nhĩ, phía trước có lỗ vào của vòi nhĩ. Qua lỗ này có sự lưu thông không khí giữa hòm tai giữa và họng mũi. Dưới lỗ là một vách xương mỏng ngăn cách hòm nhĩ và động mạch cảnh trong. Vì vậy, khi bị viêm tai giữa có thể bị đau tai theo nhịp mạch.
− Thành ngoài: chính là màng nhĩ, ngăn cách hòm nhĩ với ống tai ngoài. Ở góc giữa thành màng và thành động mạch cảnh có ống của thừng nhĩ để thần kinh thừng nhĩ từ hòm tai thoát ra [47]. Màng nhĩ Hình 1. Màng nhĩ (Nguồn: Otologic Surgery Atlas, 2016, [35]) − Vị trí và kích thước: là thành ngoài hòm nhĩ, màu trắng bóng, hình bầu dục, rộng ở trên hơn ở dưới.
Màng nhĩ ở người trưởng thành nằm nghiêng hợp 7 với mặt phẳng thành trên ống tai ngoài một góc 140˚. Đường kính lớn nhất của màng nhĩ là 9 – 10 mm, đường kính ngắn nhất khoảng 8 – 9 mm [23], [48]. − Màng nhĩ dày khoảng 0,1mm, gồm 3 lớp [23]: + Lớp ngoài (lớp da): mỏng, liên tiếp với lớp da ống tai ngoài, gồm hai phần. Phần trên là phần chùng, nhỏ, mỏng, mềm tương ứng khuyết nhĩ, dính trực tiếp vào phần đá xương thái dương.
Phần dưới là phần căng, lớn, dày và chắc chắn hơn phần chùng, bám vào rãnh nhĩ bởi một vòng sụn sợi. Giới hạn hai phần này là hai nếp: nếp búa trước và nếp búa sau đi từ đầu trước và đầu sau khuyết nhĩ tới mỏm ngoài xương búa. Mặt ngoài màng nhĩ lõm do cán xương búa kéo vào trong, nơi lõm sâu nhất gọi là rốn nhĩ. + Lớp giữa: gồm các sợi liên kết hình vòng tròn và hình nan hoa, vùi trong lớp này là cán xương búa, đảm bảo cho màng nhĩ có độ co dãn cần thiết.
+ Lớp trong cùng là lớp niêm mạc: liên tiếp với niêm mạc hòm tai. − Màng nhĩ gồm: Góc trước trên, sau trên: liên quan chặt với xương con và thừng nhĩ và góc sau dưới, trước dưới được chia bởi hai đường thẳng: một đường trùng với cán búa, đường kia vuông góc với đường trên [23] [48]. − Mạch máu của màng nhĩ: động mạch (ĐM) là động mạch nhĩ và động mạch châm chũm, tĩnh mạch chạy vào tĩnh mạch hàm trong, bạch mạch ở mặt ngoài màng nhĩ thì chạy vào hạch mang tai trước, ở mặt trong chạy vào hạch TM cảnh trong. − Thần kinh của màng nhĩ: ở mặt ngoài là dây tai thái dương, ở mặt trong là dây Jacobson.
Các xương con của tai − Gồm 1 chuỗi 3 xương là xương búa, xương đe và xương bàn đạp. Cán xương búa dính vào màng nhĩ, đế xương bàn đạp lắp vào cửa sổ bầu dục nên chuỗi xương con nối màng nhĩ với cửa sổ bầu dục [20]. 8 − Các xương này được nối với nhau bằng các khớp, dính vào thượng nhĩ bởi mạc treo và dây chằng, có các cơ chi phối hoạt động của chúng [20] [5]: + Xương búa gồm có: chỏm búa có diện tiếp khớp với xương đe, cổ xương búa có liên quan đến màng chùng, cán xương búa dính vào màng nhĩ. + Xương đe: trông như một cái răng hàm có hai chân gồm các phần: thân xương đe tiếp khớp với chỏm xương búa, ngành trên ngắn nằm ngang ra sau, ngành dưới dài đứng thẳng, ở đầu có mỏm đậu tiếp giáp với xương bàn đạp.
+ Xương bàn đạp nằm ngang, chỏm tiếp khớp với xương đe, đế bàn đạp gắn vào cửa sổ bầu dục, xương bàn đạp có hai ngành trước và sau. Các xương con của tai (Nguồn: Atlas giải phẫu người, chú giải và trắc nghiệm, 2014, [5]) 1. Khối thông bào xương chũm Về mặt giải phẫu: người ta coi xương chũm như là một hình tháp tam giác bị cắt gọn, để ngược, 5 mặt có tầm quan trọng phẫu thuật khác nhau [23]. Tế bào xương chũm: Trong khối xương chũm có nhiều hốc rỗng gọi là tế bào chũm, một trong những hốc đó phát triển to hơn những cái khác, gọi là sào bào 9 thông với hòm nhĩ qua sào bào.
Xung quanh sào bào là các thông bào xương chũm thông với sào bào. Xương chũm được chia làm 3 thể: Thể xốp, thể thông bào, thể đặc ngà [23]. Sinh lý tai giữa và cơ chế thủng màng nhĩ − Sinh lý tai giữa: Hai chức năng của tai giữa được thực hiện bằng sự hoạt động của màng nhĩ, chuỗi xương con, cơ xương búa, cơ xương bàn đạp và vòi nhĩ [15] [22]. Dẫn truyền và tăng năng lượng âm: + Màng nhĩ: • Biến rung động âm ba trong không khí thành rung động cơ học và chuyển các rung động đó cho xương búa.
• Diện tích rung động của màng nhĩ gấp 17 lần diện tích cửa sổ bầu dục, nên cường độ sức ép của cửa sổ bầu dục cũng tăng 17 lần so với cường độ sức ép ở màng nhĩ. + Xương con: • Vận động của xương con: xương bàn đạp di động theo hai chiều: với cường độ nhỏ di động như một cánh cửa mà bản lề ở cửa sổ bầu dục, với cường độ lớn di động theo trục trước sau. • Tác dụng của xương con: như các đòn bẩy, nó làm giảm biên độ và tăng cường độ rung động cơ học. + Các cửa sổ: • Ở màng nhĩ thì sóng âm cường độ nhỏ biên độ cao khi vào đến cửa sổ bầu dục thì biên độ sóng âm giảm cường độ tăng.
• Chức năng chung của hai cửa sổ là có tính chất hợp lực tính. Chức năng bảo vệ của tai giữa: + Chức năng các cơ: • Cơ búa: làm căng màng nhĩ, tăng áp lực màng nhĩ. 10 • Cơ bàn đạp: co lại làm màng nhĩ bớt căng. → Hai cơ hoạt động phối hợp thống nhất với nhau.
Với cường độ thấp chỉ có cơ bàn đạp co bảo vệ loa đạo chống lại những rung động quá mạnh của chuỗi xương con. Với cường độ cao thì hai cơ có kết quả cộng lực. + Khối không khí đệm trong tai: khoảng 2 𝑐𝑚3. • Tác dụng như đệm hơi che chở tai trong chống lại những thay đổi áp lực đột ngột và tiếng động quá mạnh.
• Đảm bảo độ căng màng nhĩ. + Sào bào và các tế bào chũm: thông với hòm nhĩ, chứa không khí làm tăng lượng không khí của tai giữa, giảm tác hại khi áp lực bên ngoài thay đổi.