CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG VỀ KẾ TOÁN DOANH THU, CHI PHÍ VÀ KẾT QUẢ HOẠT ĐỘNG KINH DOANH TRONG DOANH NGHIỆP 1.1 LÝ LUẬN CHUNG VỀ DOANH THU, CHI PHÍ VÀ XÁC ĐỊNH KẾT QUẢ KINH DOANH TRONG DOANH NGHIỆP 1.1 Khái niệm về doanh thu, chi phí và kết quả kinh doanh trong doanh nghiệp 1.1 Khái niệm và phân loại doanh thu, thu nhập khác Bất kỳ một doanh nghiệp nào đều phải có một kế hoạch và lộ trình phát triển và quan trọng là phải tạo ra khoản lợi ích nhất định. Khoản lợi ích đó chính là doanh thu hoặc thu nhập khác. Theo quan điểm Giáo trình kế toán doanh nghiệp tài chính của GS.NGND Ngô Thế Chi & TS Trương Thị Thủy biên soạn năm 2013: “doanh thu và thu nhập khác là tổng giá trị các lợi ích kinh tế doanh nghiệp thu được trong kỳ kế toán, phát sinh từ các hoạt động sản xuất kinh doanh thông thường và các hoạt động khác của doanh nghiệp, góp phần làm tăng vốn chủ sở hữu, không bao gồm các khoản góp vốn của cổ đông hoặc chủ sở hữu”. Theo quan điểm tài liệu bồi dưỡng kế toán trưởng doanh ngiệp xuất bản năm 2013 của Bộ Tài chính: “doanh thu là tổng giá trị các lợi ích kinh tế mà doanh nghiệp thu được trong kỳ kế toán, phát sinh từ các hoạt động của doanh nghiệp.
Thu nhập khác là các khoản thu nhập ngoài khoản doanh thu nói trên phát sinh trong kỳ kế toán như thu nhập từ nhượng bán, thanh lý TSCĐ, thu phạt hợp đồng.” Theo quan điểm “Giáo trình kế toán tài chính của Học Viện tài chính” xuất bản năm 2006 thì doanh thu là: ”tổng các lợi ích kinh tế doanh nghiệp thu được trong kỳ hạch toán, phát sinh từ hoạt động sản xuất kinh doanh thông thường của doanh nghiệp và làm tăng vốn chủ sở hữu”. Theo VAS Việt Nam số 01: “Doanh thu và thu nhập khác là tổng giá trị các khoản lợi ích kinh tế doanh nghiệp thu được trong kỳ kế toán, phát sinh từ hoạt động sản xuất, kinh doanh thông thường và các hoạt động khác của doanh nghiệp, góp phần làm tăng vốn chủ sở hữu, không bao gồm khoản góp vốn của cổ đông hoặc chủ sở hữu”. Luan van 10 Mỗi doanh nghiệp có một đặc thù kinh doanh riêng, các doanh nghiệp cùng ngành nghề thì đặc thù kinh doanh cũng sẽ khác, yêu cầu quản lý của mỗi nhà quản lý cũng khác. Do đó, dựa vào chuẩn mực và chế độ kế toán Việt Nam quy định thì kế toán sẽ phản ánh doanh thu, chi phí và kết quả kinh doanh theo từng mặt hàng, từng sản phẩm.
để phục vụ cho nhu cầu quản lý của doanh nghiệp. Ngoài ra, doanh thu hoạt động sản xuất kinh doanh còn bao gồm: - Các khoản phí thu thêm ngoài giá bán (nếu có), trợ giá, phụ thu, phụ trội. - Giá trị các sản phẩm đem làm quà tặng, biếu, cho, trao đổi hoặc tiêu dùng xuất trong nội bộ công ty. Theo chuẩn mực kế toán Việt Nam số 14 quy định về doanh thu và thu nhập khác ban hành và công bố theo quyết định số 149/2001/QĐ-BTC ngày 31 tháng 12 năm 2001 của Bộ Tài Chính như sau: “Doanh thu là tổng giá trị các lợi ích kinh tế doanh nghiệp thu được trong kỳ kế toán, phát sinh từ hoạt động sản xuất, kinh doanh thông thường của doanh nghiệp, góp phần làm tăng vốn chủ sở hữu”.
“Doanh thu chỉ bao gồm tổng giá trị của các lợi ích kinh tế doanh nghiệp đã thu được hoặc sẽ thu được. Các khoản thu hộ bên thứ 3 không phải là nguồn lợi ích kinh tế, không làm tăng vốn chủ sở hữu của doanh nghiệp sẽ không được coi là doanh thu. Các khoản góp vốn của cổ đông hoặc chủ sở hữu làm tăng vốn chủ sở hữu nhưng không phải doanh thu”. Có rất nhiều phương thức phân loại doanh thu.
Nếu căn cứ vào nghiệp vụ tạo ra doanh thu, có thể phân loại doanh thu làm 4 loại: - Doanh thu bán hàng hóa dịch vụ là lợi ích thu được từ hoạt động bán hàng hóa dịch vụ. - Doanh thu cung cấp dịch vụ là lợi ích kinh tế doanh nghiệp thu được khi cung cấp dịch vụ cho khách hàng. - Doanh thu từ tiền lãi, tiền bản quyền, cổ tức và lợi nhuận được chia: đây là khoản lợi ích thu được khi đầu tư vốn, bán bản quyền. Luan van 11 Ngoài ra, doanh thu còn được phân loại theo các cách khác nhau như theo mức độ thường xuyên gồm doanh thu thường xuyên và doanh thu bất thường.
Hoặc theo hình thức thanh toán gồm doanh thu chưa thanh toán và doanh thu đã thanh toán. Để tạo ra nguồn doanh thu thì doanh nghiệp cần phải bỏ ra lượng chi phí nhất định. Do đó việc hạch toán đúng và đầy đủ doanh thu và chi phí sẽ là cơ sở để doanh nghiệp lên kế hoạch và đưa ra quyết định kinh tế hợp lý. - Thu nhập khác: “là lợi ích các khoản thu được từ hoạt động xảy ra không thường xuyên, ngoài các hoạt động tạo ra doanh thu như thu về thanh lý nhượng bán tài sản, thu tiền phạt, thu xóa nợ.và các khoản thu khác”.
Các khoản giảm trừ vào doanh thu bán hàng, cung cấp dịch vụ phát sinh trong kỳ gồm: Chiết khấu thương mại, giảm giá hàng bán và hàng bán bị trả lại. Trong đó: +“Chiết khấu thương mại: khi khoản doanh nghiệp bán giảm giá niêm yết cho khách hàng mua hàng với khối lượng lớn”. + “Giảm giá hàng bán: là khoản trừ cho người mua do hàng kém phẩm chất, sai quy cách hoặc lạc hậu thị hiếu.” +“Hàng bán trả lại: làm giảm doanh thu do hàng hóa đã được ghi nhận doanh thu. Tuy nhiên, hàng bị trả lại do một số nguyên nhân như hàng kém chất lượng, không đúng quy cách, chủng loại.
vi phạm hợp đồng, cam kết”. Các khoản giảm trừ được theo dõi theo từng mặt hàng để giảm trừ doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ vào cuối kỳ kế toán. -> Doanh thu thuần được xác định bằng tổng doanh thu sau khi trừ đi các khoản chiết khấu thương mại, giảm giá hàng bán và doanh thu hàng bán bị trả lại. Tóm lại, doanh thu và thu nhập đóng vai trò quan trọng, là nguồn lợi ích thu được bù đắp các khoản chi phí đã bỏ ra đồng thời làm tăng vốn chủ sở hữu của doanh nghiệp.
Việc hạch toán doanh thu, chi phí chính xác sẽ tạo điều kiện cho việc phản ánh kết quả kinh doanh một cách đáng tin cậy, từ đó đưa ra các quyết định kinh doanh phù hợp. Vì vậy, vấn đề đặt ra cho kế toán tại Doanh nghiệp là làm thế nào để phản ánh doanh thu và thu nhập khác đầy đủ, chính xác và kịp thời giúp cho nhà quản lý có những quyết định đúng đắn, kịp thời về chiến lược kinh doanh. Luan van 12 Khái niệm và phân loại chi phí a) Khái niệm Quá trình bắt đầu hoạt động sản xuất kinh doanh, Các nhà quản lý luôn quan tâm đến bài toán để tạo ra một đồng doanh thu thì phải bỏ ra bao nhiêu chi phí. Bài toán doanh thu, chi phí luôn là bài toán khó và liên tục.
Doanh thu tạo ra phải trang trải được các chi phí đã đầu tư để sản xuất kinh doanh, ít nhất là duy trì hoạt động của doanh nghiệp. Sau đó, trên đà phát triển sẽ bù đắp hết chi phí và tạo ra lợi nhuận. Theo Giáo trình kế toán doanh nghiệp tài chính của GS.NGND Ngô Thế Chi & TS Trương Thị Thủy biên soạn năm 2013, “chi phí là tổng giá trị các khoản làm giảm lợi ích trong kỳ kế toán dưới hình thức các khoản tiền chi ra, các khoản khấu trừ tài sản hoặc phát sinh các khoản nợ dẫn đến làm giảm nguồn vốn chủ sở hữu, không bao gồm khoản phân phối cho cổ đông hoặc chủ sở hữu. Chi phí sản xuất kinh doanh và chi phí khác được ghi nhận để xác định lãi lỗ trong kỳ khi các khoản chi phí này làm giảm bớt lợi ích kinh tế trong tương lai có liên quan tới việc giảm bớt tài sản hoặc tăng nợ phải trả và chi phí này được xác định một cách đáng tin cậy”.
Chi phí là các hao phí về nguồn lực để doanh nghiệp đạt được một hoặc những mục tiêu cụ thể. Chi phí được xác định là “tổng giá trị các khoản làm giảm lợi ích kinh tế trong kỳ kế toán, dưới hình thức các khoản tiền chi ra, các khoản khấu trừ tài sản hoặc phát sinh các khoản nợ dẫn đến làm giảm vốn chủ sở hữu”. Chi phí được hiểu một cách trừu tượng là biểu hiện bằng tiền của những hao phí lao động sống và lao động vật hóa phát sinh trong quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh được tính trong một kỳ nhất định. Hoặc chi phí là những phí tổn về nguồn lực, tài sản được sử dụng trong hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.
Theo điều 82 của thông tư 200/2014/TT-BTC: “Chi phí là những khoản làm giảm lợi ích kinh tế, được ghi nhận tại thời điểm giao dịch phát sinh hoặc khi có khả năng tương đối chắc chắn sẽ phát sinh trong tương lai không phân biệt đã chi tiền hay chưa”. Luan van 13 Theo chuẩn mực kế toán số 01 -chuẩn mực chung(VAS 01): “chi phí là tổng giá trị các khoản làm giảm lợi ích kinh tế trong kỳ kế toán dưới hình thức các khoản tiền chi ra, các khoản khấu trừ tài sản hoặc phát sinh các khoản nợ dẫn đến làm giảm vốn chủ sở hữu, không bao gồm các khoản phân phối cho cổ đông hoặc chủ sở hữu”. Chi phí được nhận thức và nghiện cứu phụ thuộc vào quan điểm của từng loại kế toán. Ví dụ như kế toán tài chính: chi phí được nhìn nhận như các khoản phí tổn phát sinh gắn liền với hoạt động của doanh nghiệp để tạo ra sản phẩm dịch vụ nhất định.
Chi phí được xác định bằng tiền của những hao phí về lao động sống, lao động vật hóa trên cơ sở pháp lý chắc chắn. Đặc điểm chung của chi phí: - Chi phí là hao phí tài nguyên (kể cả hữu hình và vô hình), vật chất, lao động. - Những hao phí này phải gắn liền với mục đích sản xuất kinh doanh. - Phải định lượng được bằng tiền và được xác định trong một khoảng thời gian nhất định.
Như vậy, chi phí là một chỉ tiêu quan trọng, giúp nhà quản lý nắm được chi phí bỏ ra để duy trì và tạo ra doanh thu từ đó giảm thiểu chi phí và tăng doanh thu. b) Phân loại chi phí Chi phí sản xuất kinh doanh phát sinh trong các doanh nghiệp gồm nhiều loại với tính chất kinh tế, mục đích, công dụng và yêu cầu quản lý khác nhau.