Nghiên cứu hoạt tính tương tự estrogen của mạn kinh tử trên tế bào MCF-7

Khóa luận tốt nghiệp nghiên cứu Phan văn đức nghiên cứu hoạt tính tương tự estrogen của mạn kinh tử trên tế bào mcf 7 khóa luận tốt, vận dụng lý thuyết vào thực tế, đề xuất giải

Chuyên ngành

Dược sĩ

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Khóa luận tốt nghiệp

2022

58
2
0

Phí lưu trữ

30 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CẢM ƠN

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ MẠN KINH (Vitex trifolia L.)

1.1. Vị trí phân loại

1.2. Đặc điểm thực vật

1.3. Đặc điểm dược liệu Mạn kinh tử

1.4. Thành phần hóa học

1.4.1. Nghiên cứu ở nước ngoài

1.4.2. Nghiên cứu trong nước

1.5. Tác dụng và công dụng

1.5.1. Công dụng trong dân gian

1.5.2. Các nghiên cứu về hoạt tính sinh học

1.5.2.1. Nghiên cứu nước ngoài
1.5.2.2. Nghiên cứu trong nước

1.6. HỘI CHỨNG MÃN KINH

1.6.1. Sơ lược về hội chứng mãn kinh

1.6.2. Triệu chứng, các bệnh liên quan

1.6.3. Liệu pháp thay thế estrogen trong hỗ trợ/điều trị hội chứng mãn kinh. Bảo vệ tim mạch và ảnh hưởng đến lưu lượng máu

1.6.3.1. Tác dụng chống xơ vữa động mạch
1.6.3.2. Phòng ngừa và điều trị loãng xương sau mãn kinh
1.6.3.3. Liệu pháp thay thế estrogen và bệnh Alzheimer
1.6.3.4. Ung thư ruột kết và liệu pháp thay thế hormon

1.6.4. Những dược liệu có tác dụng tương tự estrogen trong hội chứng mãn kinh đã được nghiên cứu. Một số mô hình nghiên cứu hội chứng mãn kinh

2. CHƯƠNG 2: NGUYÊN LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1. Nguyên vật liệu, thiết bị. Đối tượng nghiên cứu

2.2. Hóa chất và thiết bị

2.3. Thiết bị, dụng cụ

2.4. Nội dung nghiên cứu

2.5. Phương pháp nghiên cứu

2.6. Thiết kế nghiên cứu

2.7. Phương pháp chiết xuất cao EtOH 70% và hợp chất Agnusid từ Mạn kinh tử để thử hoạt tính tương tự estrogen

2.8. Xử lý sơ bộ dược liệu

2.9. Chiết xuất cao EtOH 70% và hợp chất agnusid từ Mạn kinh tử

2.10. Khảo sát tác dụng tương tự estrogen của cao chiết EtOH 70%, hợp chất agnusid phân lập từ Mạn kinh tử in vitro. Nuôi cấy tế bào

2.11. Đánh giá độc tính của các mẫu nghiên cứu trên tế bào MCF-7

2.12. Đánh giá tác dụng kích thích tăng sinh tế bào MCF-7 của các mẫu nghiên cứu

2.13. Ảnh hưởng của chất đối kháng thụ thể estrogen ICI 182,780 đối với khả năng tăng sinh tế bào MCF-7 gây bởi các mẫu nghiên cứu

2.14. Xử lý số liệu

3. CHƯƠNG 3: THỰC NGHIỆM, KẾT QUẢ, BÀN LUẬN

3.1. Đánh giá độc tính của các mẫu nghiên cứu trên tế bào MCF-7

3.1.1. Đánh giá độc tính của cao chiết EtOH 70% từ Mạn kinh tử trên tế bào MCF-7

3.1.2. Đánh giá độc tính của hợp chất agnusid phân lập từ Mạn kinh tử trên tế bào MCF-7

3.2. Đánh giá tác dụng kích thích tăng sinh tế bào MCF-7 của các mẫu nghiên cứu trên thí nghiệm in vitro. Khảo sát tác dụng kích thích tăng sinh tế bào MCF-7 của E2

3.3. Đánh giá tác dụng kích thích tăng sinh tế bào MCF-7 của cao chiết EtOH 70% Mạn kinh tử. Đánh giá tác dụng kích thích tăng sinh tế bào MCF-7 của hợp chất agnusid phân lập từ Mạn kinh tử. Ảnh hưởng của ICI 182, 780 đối với khả năng tăng sinh tế bào MCF-7 gây bởi các mẫu nghiên cứu

3.4. Ảnh hưởng của ICI 182, 780 đối với khả năng tăng sinh tế bào MCF-7 gây bởi cao chiết EtOH 70% Mạn kinh tử

3.5. Ảnh hưởng của ICI 182,780 đối với khả năng tăng sinh tế bào MCF-7 gây bởi hợp chất agnusid phân lập từ Mạn kinh tử. Bàn luận về dược liệu nghiên cứu

3.6. Bàn luận về mô hình nghiên cứu

3.7. Bàn luận về các kết quả nghiên cứu

KẾT LUẬN VÀ ĐỀ XUẤT

1. Đề xuất

TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

1. DANH MỤC CÁC CHỮ VÀ KÍ HIỆU VIẾT TẮT

2. DANH MỤC CÁC BẢNG

3. DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ, SƠ ĐỒ, ĐỒ THỊ

Tóm tắt

I. Tổng quan về nghiên cứu hoạt tính estrogen của mạn kinh tử

Nghiên cứu về hoạt tính estrogen của mạn kinh tử (Vitex trifolia L.) trên tế bào MCF-7 đang thu hút sự chú ý trong lĩnh vực y học. Mạn kinh tử được biết đến với nhiều công dụng trong y học cổ truyền, đặc biệt là trong việc điều trị các triệu chứng liên quan đến hormon sinh dục nữ. Việc tìm hiểu hoạt tính estrogen của loài thực vật này có thể mở ra hướng đi mới trong điều trị các bệnh lý liên quan đến mãn kinh.

1.1. Mạn kinh tử và vai trò của estrogen trong y học

Mạn kinh tử là một loại thảo dược có tác dụng tương tự estrogen. Estrogen đóng vai trò quan trọng trong việc duy trì sức khỏe của phụ nữ, đặc biệt là trong giai đoạn mãn kinh. Việc thiếu hụt estrogen có thể dẫn đến nhiều vấn đề sức khỏe như loãng xương, bệnh tim mạch và các triệu chứng khó chịu khác.

1.2. Tế bào MCF 7 và ứng dụng trong nghiên cứu

Tế bào MCF-7 là một dòng tế bào ung thư vú được sử dụng rộng rãi trong nghiên cứu dược lý. Chúng có khả năng phản ứng với estrogen, do đó là mô hình lý tưởng để đánh giá hoạt tính estrogen của các hợp chất tự nhiên như mạn kinh tử.

II. Vấn đề và thách thức trong nghiên cứu hoạt tính estrogen

Mặc dù có nhiều nghiên cứu về hoạt tính estrogen của các loại thảo dược, nhưng việc xác định chính xác tác dụng của mạn kinh tử vẫn còn nhiều thách thức. Các vấn đề như độ an toàn, hiệu quả và cơ chế tác động của các hợp chất trong mạn kinh tử cần được làm rõ.

2.1. Những thách thức trong nghiên cứu dược lý

Nghiên cứu dược lý thường gặp khó khăn trong việc xác định liều lượng và thời gian sử dụng hợp lý. Các nghiên cứu trước đây chưa đủ để khẳng định tính an toàn và hiệu quả của mạn kinh tử trong điều trị các triệu chứng mãn kinh.

2.2. Cần có nghiên cứu sâu hơn về cơ chế tác động

Để hiểu rõ hơn về tác dụng của mạn kinh tử, cần có các nghiên cứu sâu hơn về cơ chế tác động của các hợp chất trong cây đối với tế bào MCF-7. Điều này sẽ giúp xác định rõ hơn vai trò của mạn kinh tử trong việc hỗ trợ điều trị các triệu chứng mãn kinh.

III. Phương pháp nghiên cứu hoạt tính estrogen của mạn kinh tử

Nghiên cứu này sử dụng phương pháp chiết xuất cao EtOH 70% từ mạn kinh tử để thử nghiệm hoạt tính estrogen trên tế bào MCF-7. Các phương pháp này đã được áp dụng thành công trong nhiều nghiên cứu trước đây và cho thấy hiệu quả cao trong việc đánh giá hoạt tính sinh học của các hợp chất tự nhiên.

3.1. Quy trình chiết xuất cao EtOH 70

Quy trình chiết xuất cao EtOH 70% từ mạn kinh tử bao gồm các bước như thu hái, phơi khô, nghiền nát và chiết xuất bằng ethanol. Phương pháp này giúp giữ lại các hợp chất có hoạt tính sinh học cao nhất.

3.2. Đánh giá hoạt tính estrogen trên tế bào MCF 7

Sau khi chiết xuất, các mẫu sẽ được thử nghiệm trên tế bào MCF-7 để đánh giá khả năng kích thích tăng sinh tế bào. Kết quả sẽ cho thấy mức độ tương tự estrogen của các hợp chất trong mạn kinh tử.

IV. Kết quả nghiên cứu và ứng dụng thực tiễn

Kết quả nghiên cứu cho thấy cao chiết EtOH 70% từ mạn kinh tử có khả năng kích thích tăng sinh tế bào MCF-7, cho thấy hoạt tính estrogen đáng kể. Điều này mở ra hướng đi mới trong việc phát triển các sản phẩm hỗ trợ điều trị các triệu chứng mãn kinh.

4.1. Kết quả từ thí nghiệm in vitro

Các thí nghiệm in vitro cho thấy cao chiết từ mạn kinh tử có tác dụng kích thích tăng sinh tế bào MCF-7, cho thấy tiềm năng trong việc phát triển các liệu pháp điều trị cho phụ nữ mãn kinh.

4.2. Ứng dụng trong điều trị hội chứng mãn kinh

Với kết quả tích cực từ nghiên cứu, mạn kinh tử có thể được phát triển thành sản phẩm hỗ trợ điều trị hội chứng mãn kinh, giúp cải thiện chất lượng cuộc sống cho phụ nữ trong giai đoạn này.

V. Kết luận và triển vọng tương lai của nghiên cứu

Nghiên cứu về hoạt tính estrogen của mạn kinh tử trên tế bào MCF-7 đã chỉ ra tiềm năng lớn của loài thực vật này trong việc hỗ trợ điều trị các triệu chứng mãn kinh. Tuy nhiên, cần có thêm nhiều nghiên cứu để khẳng định tính an toàn và hiệu quả của nó.

5.1. Tương lai của nghiên cứu mạn kinh tử

Nghiên cứu trong tương lai cần tập trung vào việc xác định các hợp chất hoạt tính trong mạn kinh tử và cơ chế tác động của chúng. Điều này sẽ giúp phát triển các sản phẩm dược phẩm an toàn và hiệu quả hơn.

5.2. Khuyến nghị cho nghiên cứu tiếp theo

Cần khuyến khích các nghiên cứu lâm sàng để đánh giá hiệu quả của mạn kinh tử trong điều trị các triệu chứng mãn kinh. Điều này sẽ giúp xác định rõ hơn vai trò của nó trong y học hiện đại.

14/08/2025
Phan văn đức nghiên cứu hoạt tính tương tự estrogen của mạn kinh tử trên tế bào mcf 7 khóa luận tốt nghiệp dược sỹ

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN VỀ MẠN KINH (Vitex trifolia L. Thực vật học 1. Vị trí phân loại Mạn kinh có tên khoa học là Vitex trifolia Linn.

Theo khung phân loại ngành Ngọc lan, vị trí phân loại của cây Mạn kinh được thể hiện như sau: Giới: Thực vật (Plantae) Ngành: Ngọc lan (Magnoliophyta) Lớp: Ngọc lan (Magnoliopsida) Phân lớp: Hoa môi (Lamiidae) Bộ: Hoa môi (Lamiales) Họ: Hoa môi (Lamiaceae) Chi: Vitex Loài: Trifolia Linn. Đặc điểm thực vật Hình 1. Một số hình ảnh về cây Mạn kinh [4], [5]. 3 Cây gỗ nhỏ hay cây bụi, có mùi thơm, có thể cao tới 3m.

Thân non có 4 cạnh, có lông mềm, mầu xám nhạt; thân già tròn, nhẵn, vỏ màu nâu. Lá kép lông chim, 3 lá chét, mọc đối (lá ở cành mang hoa thường đơn), phiến lá chét hình trứng, gốc lá tròn, đầu tù hoặc hơi nhọn, mép nguyên, mặt trên nhẵn hoặc đen lại khi khô, mặt dưới phủ đầy lông trắng, lá chét giữa lớn hơn lá chét bên, gân không nổi rõ; lá vò ra có mùi thơm; cuống gầy, hơi tròn, có lông, dài 1 - 3 cm, lá chét không có cuống. Hoa màu lơ nhạt dài 13 - 14 mm. Cụm hoa dạng chùy ở đầu cành, đôi khi có lá ở phần gốc, có lông dày; mang nhiều xim mọc đối, mỗi xim có 2 - 3 hoa mầu tím nhạt hoặc lam nhạt; lá bắc nhỏ, hình dải; đài hình chuông, có lông trắng, 5 răng nhỏ đều; tràng hình trụ có lông mặt ngoài trừ phần gốc, môi trên có 2 thùy ngắn, môi dưới 3 thùy, thùy giữa lớn hơn hai thùy bên; nhị 4, thò ra ngoài [5], [6].

Đặc điểm dược liệu Mạn kinh tử Quả của loài Mạn kinh (Mạn kinh tử) là quả hạch, hình cầu, đường kính 4 - 6 mm, mặt ngoài màu nâu đen hoặc xám đen, phủ lông nhung màu xám nhạt như sương, có 4 rãnh dọc, nông, đầu hơi dẹt, đỉnh hơi lõm, đáy có đài tồn tại màu xám nhạt và cuống quả ngắn. Lá đài bao bọc 1/3 - 2/3 quả, có răng, trong đó có 2 răng xẻ tương đối sâu, được phủ kín lông tơ mượt. Chất nhẹ và cứng, khó đập vỡ. Mặt cắt ngang quả có 4 ô, mỗi ô có 1 hạt, mùi thơm đặc biệt, vị nhạt, hơi cay.

Mùa hoa quả từ tháng 4 – 11 [6]. Phân bố Mạn kinh có nguồn gốc từ Nam Phi, vùng phân bố từ Madagasca đến Xrilanca, Afghanistan, Ấn Độ, Myanma, nam Trung Quốc, Nhật Bản, xuống đến các nước vùng Đông Nam Á đến vùng bắc Úc và phía đông Caledona [5]. Cây mọc ở độ cao 100 - 1700m các tỉnh ven biển khu vực Nam Á và Đông Nam Á, Úc, Quần đảo Thái Bình Dương [95]. Ở Việt Nam, cây mọc dọc theo bờ biển, rừng đến sau rừng sác các tỉnh Thanh Hóa, Đà Nẵng trở vào đến Gò Công, Hà Tiên [4].

Thành phần hóa học Theo các nghiên cứu, thành phần hóa học chính của Mạn kinh tử là tinh dầu, ngoài ra còn có các hợp chất terpenoid (mono-, di- và triterpen), flavonoid, lignan, acid hữu cơ, alkaloid, vitamin A, … a) Nghiên cứu trên thế giới Theo nghiên cứu của K. Djimabi và cộng sự năm 2021, quả của Mạn kinh bao gồm: - Mười lăm diterpenoid: Viterotulin D; viterotulin C; vitexilacton; rotundifuran; vitetrifolin H; 15,16–epoxy–9–hydroxylabda-13(16),14-dien; vitexifolin B, prevetexilacton; trisnor-γ-lacton; vitexifolin D; 13-hydroxy-5(10),14-halimadien-6-on; vitetrifolin D; abietatrien-3β-ol; 3β-acetoxyabieta-8,11,13-trien-12-ol; helipterol. - Một monoterpenoid: vitexoid. - Ba steroid: stigmast-4-en-3,6-dion, 6β-hydroxystigmast-4-en-3-on, β-sitosterol.

- Một flavonoid: casticin. - Bốn phenol: acid p-hydroxybenzoic ethyl este, p-hydroxyacetophenon, vanillin, và coniferaldehyd [22]. Masateru Ono và cộng sự đã phân lập từ cao chiết aceton quả Mạn kinh một diterpen khung abietan (1) có tên là vitetrifolin A, và 2 diterpen khung labdan (2) có tên vitetrifolin B và C cùng với 3 diterpen đã biết là rotundifuran, dihydrosolidagenon và abietatrien 3b- ol [54]. Jun Wu và cộng sự phân lập được 2 diterpen mới có khung labdan là vitetrifolin H, vitetrifolin I và 1 monoterpen mới là vitexoid từ Mạn kinh tử.

Các hợp chất này đều có hoạt tính ức chế sự phát triển của tế bào Hela với IC50 trong khoảng 4 - 28μM [66]. Năm 2008, Qiong Gu và cộng sự đã phân lập được một hợp chất lignan mới có khung benzofuran (3) là vitrifol A từ quả mạn kinh bên cạnh 3 hợp chất đã biết là dihydrodehydrodiconifenyl alcohol, stigmast-4-en-6b-ol-3-on và eucommiol [32]. Từ quả Mạn kinh, Wen-xin Li và cộng sự đã phân lập được 5 hợp chất diterpen mới có khung labdan là vitexilacton, (5S,6R,8R,9R,10S)-6-acetoxy-9-hydroxy-13(14)-labden- 16,15-olid, rotundifuran, vitetrifolin D và vitetrifolin E [46]. Một nghiên cứu khác của Masateru ONO đã phân lập được 4 hợp chất diterpen mới có khung haliman (4) là vitetrifolin D - G từ quả Mạn kinh [53].

Đáng chú ý, từ quả Mạn kinh thu hái tại Việt Nam, Fumiyuki KIUCHI và cộng sự đã định hướng phân lập các hoạt chất có tác dụng diệt ký sinh trùng thu được 2 hợp chất mới 5 và 5 hợp chất đã biết vitexifolin E, vitexifolin F, vitexilacton, 6-acetoxy-9-hydroxy-13(14)- labden-16,15-olid và previtexilacton [42]. Trong nghiên cứu của mình, Neerja Tiwari và cộng sự đã sử dụng phương pháp TLC để định lượng đồng thời negundoside, agnusid và acid 6-(p-hydroxybenzoyl)mussaenosidic trong Mạn kinh tử và thu được kết quả hàm lượng của negundosid, agnusid và acid 6-(p- hydroxybenzoyl)mussaenosidic trong lần lượt là 0,02%; 0,03% và 0,01% [61]. b) Nghiên cứu trong nước Cho đến thời điểm hiện tại, nghiên cứu về Mạn kinh tử ở Việt Nam còn rất hạn chế. Về hóa học, Nguyễn Văn Bời và cộng sự đã nghiên cứu về thành phần tinh dầu của lá và quả cây Mạn kinh.

Trong đó, thành phần chính của tinh dầu quả cây mạn kinh ở Việt Nam là α – cis – ocimen (7,29%), eucalyptol (9,45%), acetat p – menth – 1 – en – 8 – yl (5,56%), isocaryophyllen (9,04%) [2]. Theo nghiên cứu của Ninh Khắc Bân và cộng sự, lá Mạn kinh có chứa một triterpen lanostan mới, acid 3α-hydroxylanosta-8,24E-dien-26-oic, một lignan mới, matairesinol 4′- O-β-D-glucopyranosid cùng với năm hợp chất đã biết là ecdyson, 20-hydroxyecdyson, 20- hydroxyecdyson 2,3-monoacetonid, turkesteron và polypodin B [13]. Cấu trúc của một số khung hợp chất chính được phân lập từ Mạn kinh tử 6 1. Tác dụng và công dụng 1.

Công dụng trong dân gian Mạn kinh có vị cay, đắng, tính mát, quy vào các kinh: Can, vị và bàng quang, có tác dụng thư tán phong nhiệt, giảm thống. Theo kinh nghiệm dân gian, Mạn kinh tử được dùng làm thuốc chữa cảm mạo, sốt, đau đầu, nhức thái dương, nhức mắt, tối tăm mặt mũi [6]. Ở Philippin, người ta dùng dịch chiết từ lá chữa bệnh lao. Ở Ấn Độ, hoa, lá, rễ được dùng làm thuốc hạ sốt, chống nôn, quả chữa vô kinh.

Ở Malaysia, nhân dân dùng Mạn kinh chữa nhiều bệnh. Quả Mạn kinh tán nhỏ cho vào kho thóc gạo hoặc tủ quần áo để trừ côn trùng [5]. Các nghiên cứu về hoạt tính sinh học a) Nghiên cứu trên thế giới Tính đến thời điểm hiện tại, chưa có nhiều công trình nghiên cứu trên thế giới đánh giá tác dụng dược lý của loài thực vật này. Một số loài thuộc chi Vitex như Vitex agnus – catus và Vitex rotundifolia đã được nghiên cứu, đánh giá tác dụng tương tự estrogen.

Từ dịch chiết CHCl3 của quả Vitex agnus – catus đã phân lập được casticin, vitexilacton, pinnatasteron và 17 – OH – progesteron và thử tác dụng dược lý trên mô hình cắt 2 buồng trứng ở chuột nhắt trắng (OVX) thu được kết quả: tăng đáng kể trọng lượng tử cung và tăng tổng nồng độ estrogen, progesteron đồng thời làm giảm prolactin huyết tương; có tác dụng giảm các triệu chứng tiền mãn kinh [40]. Một nghiên cứu khác trên loài Vitex rotundifolia. Từ dịch chiết EtOH 60% của quả Vitex rotundifolia, thu được 4 thành phần chính là: casticin, luteolin, rotundifuran và agnusid. Cả 4 hợp chất với độ tinh khiết 87% đã được thử nghiệm và cho thấy hoạt tính tương tự estrogen đối với agnusid và rotundinfuran [38].

Quả Mạn kinh đã phân lập được các thành phần: agnusid, casticin, luteolin (flavonoid), rotundifuran (diterpen), vitexilacton (lacton) tương tự quả của Vitex agnus- catus, Vitex rotundifolia, những loài đã được nghiên cứu tác dụng giảm các triệu chứng của thời kỳ mãn kinh và hoạt tương tự estrogen của agnusid và rotundifuran phân lập từ Vitex rotundifolia [38], [40]. 7 Các nghiên cứu trên thế giới đã chứng minh loài Mạn kinh có tác dụng giảm đau, chống viêm, kháng khuẩn, diệt nấm, ức chế tăng sinh trên một số dòng tế bào ung thư, kháng histamin và làm lành vết thương, … • Hoạt động kháng khuẩn Nghiên cứu của K. Kannathasan và cộng sự so sánh tác dụng diệt ấu trùng của Culex quinquefasciatus của cao chiết từ lá 4 loài thuộc chi Vitex. Kết quả cho thấy cao chiết từ lá Mạn kinh cho thấy hoạt tính diệt ấu trùng cao nhất với LC50 = 41.

Các cao chiết từ lá Mạn kinh đã được thử nghiệm đối với 12 chủng vi khuẩn trong thử nghiệm in vitro cho thấy cao chiết methanol (MeOH) có mức độ hoạt động kháng khuẩn cao hơn so với ethanol (EtOH) và ethyl acetat [85]. Hợp chất methyl-p-hydroxybenzoat thể hiện 100% tỷ lệ tử vong của C. aegypti ở 20 ppm với giá trị LC50 lần lượt là 5,77 và 4,74 ppm [70]. Cao chiết EtOH và ete dầu của lá Mạn kinh cũng thể hiện hoạt tính ức chế trung bình đối với vi khuẩn lao Mycobacterium tuberculosis [62].

• Chống ung thư Cao chiết phân đoạn hexan và diclomethan của Mạn kinh từ các bộ phận trên mặt đất đã được báo cáo là có tác dụng gây độc tế bào đối với một số dòng tế bào ung thư SQC-1 UISO, OVCAR-5, HCT-15 COLADCAR và KB [35]. Một nghiên cứu khác đánh giá tác dụng gây độc tế bào của cao chiết MeOH và ete dầu từ Mạn kinh đối với dòng tế bào MCF-7 và Vero. Kết quả của nghiên cứu đã chứng minh khả năng gây độc tế bào mạnh đối với dòng tế bào MCF-7 và hoạt động trung bình đối với dòng tế bào Vero, cho thấy Mạn kinh là tác nhân hóa trị liệu đầy hứa hẹn trong điều trị ung thư vú [49] • Kháng nấm Cao chiết phân đoạn hexan Mạn kinh thu được từ lá cho thấy sự ức chế đáng kể đối với loài nấm Fusarium gây bệnh trên cây hẹ tây [87]. • Giảm đau, chống viêm Lá của loài Mạn kinh đã được nghiên cứu, chứng minh hoạt tính chống ung thư và tăng cường hoạt động giảm đau với các chất giảm đau tiêu chuẩn pentazocin (10 mg/kg) và aspirin (25 mg/kg) [30].

8 Cao chiết nước từ lá Mạn kinh đã được thử nghiệm trên các mô hình viêm cấp tính và mãn tính như phù chân do carrageenan, túi u hạt và các mô hình viêm khớp do formaldehyd. Kết quả cho thấy ức chế đáng kể sự hình thành phù chân và cũng ức chế đáng kể sự hình thành dịch tiết [30], [8]. • Kiểm soát hen Các cao chiết từ lá Mạn kinh đã được tiến hành sắc ký để phân lập ba hợp chất, đó là Viteosin - A, Vitexicarpin và Vitetrifolin - E.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ