CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN VỀ MẠN KINH (Vitex trifolia L. Thực vật học 1. Vị trí phân loại Mạn kinh có tên khoa học là Vitex trifolia Linn.
Theo khung phân loại ngành Ngọc lan, vị trí phân loại của cây Mạn kinh được thể hiện như sau: Giới: Thực vật (Plantae) Ngành: Ngọc lan (Magnoliophyta) Lớp: Ngọc lan (Magnoliopsida) Phân lớp: Hoa môi (Lamiidae) Bộ: Hoa môi (Lamiales) Họ: Hoa môi (Lamiaceae) Chi: Vitex Loài: Trifolia Linn. Đặc điểm thực vật Hình 1. Một số hình ảnh về cây Mạn kinh [4], [5]. 3 Cây gỗ nhỏ hay cây bụi, có mùi thơm, có thể cao tới 3m.
Thân non có 4 cạnh, có lông mềm, mầu xám nhạt; thân già tròn, nhẵn, vỏ màu nâu. Lá kép lông chim, 3 lá chét, mọc đối (lá ở cành mang hoa thường đơn), phiến lá chét hình trứng, gốc lá tròn, đầu tù hoặc hơi nhọn, mép nguyên, mặt trên nhẵn hoặc đen lại khi khô, mặt dưới phủ đầy lông trắng, lá chét giữa lớn hơn lá chét bên, gân không nổi rõ; lá vò ra có mùi thơm; cuống gầy, hơi tròn, có lông, dài 1 - 3 cm, lá chét không có cuống. Hoa màu lơ nhạt dài 13 - 14 mm. Cụm hoa dạng chùy ở đầu cành, đôi khi có lá ở phần gốc, có lông dày; mang nhiều xim mọc đối, mỗi xim có 2 - 3 hoa mầu tím nhạt hoặc lam nhạt; lá bắc nhỏ, hình dải; đài hình chuông, có lông trắng, 5 răng nhỏ đều; tràng hình trụ có lông mặt ngoài trừ phần gốc, môi trên có 2 thùy ngắn, môi dưới 3 thùy, thùy giữa lớn hơn hai thùy bên; nhị 4, thò ra ngoài [5], [6].
Đặc điểm dược liệu Mạn kinh tử Quả của loài Mạn kinh (Mạn kinh tử) là quả hạch, hình cầu, đường kính 4 - 6 mm, mặt ngoài màu nâu đen hoặc xám đen, phủ lông nhung màu xám nhạt như sương, có 4 rãnh dọc, nông, đầu hơi dẹt, đỉnh hơi lõm, đáy có đài tồn tại màu xám nhạt và cuống quả ngắn. Lá đài bao bọc 1/3 - 2/3 quả, có răng, trong đó có 2 răng xẻ tương đối sâu, được phủ kín lông tơ mượt. Chất nhẹ và cứng, khó đập vỡ. Mặt cắt ngang quả có 4 ô, mỗi ô có 1 hạt, mùi thơm đặc biệt, vị nhạt, hơi cay.
Mùa hoa quả từ tháng 4 – 11 [6]. Phân bố Mạn kinh có nguồn gốc từ Nam Phi, vùng phân bố từ Madagasca đến Xrilanca, Afghanistan, Ấn Độ, Myanma, nam Trung Quốc, Nhật Bản, xuống đến các nước vùng Đông Nam Á đến vùng bắc Úc và phía đông Caledona [5]. Cây mọc ở độ cao 100 - 1700m các tỉnh ven biển khu vực Nam Á và Đông Nam Á, Úc, Quần đảo Thái Bình Dương [95]. Ở Việt Nam, cây mọc dọc theo bờ biển, rừng đến sau rừng sác các tỉnh Thanh Hóa, Đà Nẵng trở vào đến Gò Công, Hà Tiên [4].
Thành phần hóa học Theo các nghiên cứu, thành phần hóa học chính của Mạn kinh tử là tinh dầu, ngoài ra còn có các hợp chất terpenoid (mono-, di- và triterpen), flavonoid, lignan, acid hữu cơ, alkaloid, vitamin A, … a) Nghiên cứu trên thế giới Theo nghiên cứu của K. Djimabi và cộng sự năm 2021, quả của Mạn kinh bao gồm: - Mười lăm diterpenoid: Viterotulin D; viterotulin C; vitexilacton; rotundifuran; vitetrifolin H; 15,16–epoxy–9–hydroxylabda-13(16),14-dien; vitexifolin B, prevetexilacton; trisnor-γ-lacton; vitexifolin D; 13-hydroxy-5(10),14-halimadien-6-on; vitetrifolin D; abietatrien-3β-ol; 3β-acetoxyabieta-8,11,13-trien-12-ol; helipterol. - Một monoterpenoid: vitexoid. - Ba steroid: stigmast-4-en-3,6-dion, 6β-hydroxystigmast-4-en-3-on, β-sitosterol.
- Một flavonoid: casticin. - Bốn phenol: acid p-hydroxybenzoic ethyl este, p-hydroxyacetophenon, vanillin, và coniferaldehyd [22]. Masateru Ono và cộng sự đã phân lập từ cao chiết aceton quả Mạn kinh một diterpen khung abietan (1) có tên là vitetrifolin A, và 2 diterpen khung labdan (2) có tên vitetrifolin B và C cùng với 3 diterpen đã biết là rotundifuran, dihydrosolidagenon và abietatrien 3b- ol [54]. Jun Wu và cộng sự phân lập được 2 diterpen mới có khung labdan là vitetrifolin H, vitetrifolin I và 1 monoterpen mới là vitexoid từ Mạn kinh tử.
Các hợp chất này đều có hoạt tính ức chế sự phát triển của tế bào Hela với IC50 trong khoảng 4 - 28μM [66]. Năm 2008, Qiong Gu và cộng sự đã phân lập được một hợp chất lignan mới có khung benzofuran (3) là vitrifol A từ quả mạn kinh bên cạnh 3 hợp chất đã biết là dihydrodehydrodiconifenyl alcohol, stigmast-4-en-6b-ol-3-on và eucommiol [32]. Từ quả Mạn kinh, Wen-xin Li và cộng sự đã phân lập được 5 hợp chất diterpen mới có khung labdan là vitexilacton, (5S,6R,8R,9R,10S)-6-acetoxy-9-hydroxy-13(14)-labden- 16,15-olid, rotundifuran, vitetrifolin D và vitetrifolin E [46]. Một nghiên cứu khác của Masateru ONO đã phân lập được 4 hợp chất diterpen mới có khung haliman (4) là vitetrifolin D - G từ quả Mạn kinh [53].
Đáng chú ý, từ quả Mạn kinh thu hái tại Việt Nam, Fumiyuki KIUCHI và cộng sự đã định hướng phân lập các hoạt chất có tác dụng diệt ký sinh trùng thu được 2 hợp chất mới 5 và 5 hợp chất đã biết vitexifolin E, vitexifolin F, vitexilacton, 6-acetoxy-9-hydroxy-13(14)- labden-16,15-olid và previtexilacton [42]. Trong nghiên cứu của mình, Neerja Tiwari và cộng sự đã sử dụng phương pháp TLC để định lượng đồng thời negundoside, agnusid và acid 6-(p-hydroxybenzoyl)mussaenosidic trong Mạn kinh tử và thu được kết quả hàm lượng của negundosid, agnusid và acid 6-(p- hydroxybenzoyl)mussaenosidic trong lần lượt là 0,02%; 0,03% và 0,01% [61]. b) Nghiên cứu trong nước Cho đến thời điểm hiện tại, nghiên cứu về Mạn kinh tử ở Việt Nam còn rất hạn chế. Về hóa học, Nguyễn Văn Bời và cộng sự đã nghiên cứu về thành phần tinh dầu của lá và quả cây Mạn kinh.
Trong đó, thành phần chính của tinh dầu quả cây mạn kinh ở Việt Nam là α – cis – ocimen (7,29%), eucalyptol (9,45%), acetat p – menth – 1 – en – 8 – yl (5,56%), isocaryophyllen (9,04%) [2]. Theo nghiên cứu của Ninh Khắc Bân và cộng sự, lá Mạn kinh có chứa một triterpen lanostan mới, acid 3α-hydroxylanosta-8,24E-dien-26-oic, một lignan mới, matairesinol 4′- O-β-D-glucopyranosid cùng với năm hợp chất đã biết là ecdyson, 20-hydroxyecdyson, 20- hydroxyecdyson 2,3-monoacetonid, turkesteron và polypodin B [13]. Cấu trúc của một số khung hợp chất chính được phân lập từ Mạn kinh tử 6 1. Tác dụng và công dụng 1.
Công dụng trong dân gian Mạn kinh có vị cay, đắng, tính mát, quy vào các kinh: Can, vị và bàng quang, có tác dụng thư tán phong nhiệt, giảm thống. Theo kinh nghiệm dân gian, Mạn kinh tử được dùng làm thuốc chữa cảm mạo, sốt, đau đầu, nhức thái dương, nhức mắt, tối tăm mặt mũi [6]. Ở Philippin, người ta dùng dịch chiết từ lá chữa bệnh lao. Ở Ấn Độ, hoa, lá, rễ được dùng làm thuốc hạ sốt, chống nôn, quả chữa vô kinh.
Ở Malaysia, nhân dân dùng Mạn kinh chữa nhiều bệnh. Quả Mạn kinh tán nhỏ cho vào kho thóc gạo hoặc tủ quần áo để trừ côn trùng [5]. Các nghiên cứu về hoạt tính sinh học a) Nghiên cứu trên thế giới Tính đến thời điểm hiện tại, chưa có nhiều công trình nghiên cứu trên thế giới đánh giá tác dụng dược lý của loài thực vật này. Một số loài thuộc chi Vitex như Vitex agnus – catus và Vitex rotundifolia đã được nghiên cứu, đánh giá tác dụng tương tự estrogen.
Từ dịch chiết CHCl3 của quả Vitex agnus – catus đã phân lập được casticin, vitexilacton, pinnatasteron và 17 – OH – progesteron và thử tác dụng dược lý trên mô hình cắt 2 buồng trứng ở chuột nhắt trắng (OVX) thu được kết quả: tăng đáng kể trọng lượng tử cung và tăng tổng nồng độ estrogen, progesteron đồng thời làm giảm prolactin huyết tương; có tác dụng giảm các triệu chứng tiền mãn kinh [40]. Một nghiên cứu khác trên loài Vitex rotundifolia. Từ dịch chiết EtOH 60% của quả Vitex rotundifolia, thu được 4 thành phần chính là: casticin, luteolin, rotundifuran và agnusid. Cả 4 hợp chất với độ tinh khiết 87% đã được thử nghiệm và cho thấy hoạt tính tương tự estrogen đối với agnusid và rotundinfuran [38].
Quả Mạn kinh đã phân lập được các thành phần: agnusid, casticin, luteolin (flavonoid), rotundifuran (diterpen), vitexilacton (lacton) tương tự quả của Vitex agnus- catus, Vitex rotundifolia, những loài đã được nghiên cứu tác dụng giảm các triệu chứng của thời kỳ mãn kinh và hoạt tương tự estrogen của agnusid và rotundifuran phân lập từ Vitex rotundifolia [38], [40]. 7 Các nghiên cứu trên thế giới đã chứng minh loài Mạn kinh có tác dụng giảm đau, chống viêm, kháng khuẩn, diệt nấm, ức chế tăng sinh trên một số dòng tế bào ung thư, kháng histamin và làm lành vết thương, … • Hoạt động kháng khuẩn Nghiên cứu của K. Kannathasan và cộng sự so sánh tác dụng diệt ấu trùng của Culex quinquefasciatus của cao chiết từ lá 4 loài thuộc chi Vitex. Kết quả cho thấy cao chiết từ lá Mạn kinh cho thấy hoạt tính diệt ấu trùng cao nhất với LC50 = 41.
Các cao chiết từ lá Mạn kinh đã được thử nghiệm đối với 12 chủng vi khuẩn trong thử nghiệm in vitro cho thấy cao chiết methanol (MeOH) có mức độ hoạt động kháng khuẩn cao hơn so với ethanol (EtOH) và ethyl acetat [85]. Hợp chất methyl-p-hydroxybenzoat thể hiện 100% tỷ lệ tử vong của C. aegypti ở 20 ppm với giá trị LC50 lần lượt là 5,77 và 4,74 ppm [70]. Cao chiết EtOH và ete dầu của lá Mạn kinh cũng thể hiện hoạt tính ức chế trung bình đối với vi khuẩn lao Mycobacterium tuberculosis [62].
• Chống ung thư Cao chiết phân đoạn hexan và diclomethan của Mạn kinh từ các bộ phận trên mặt đất đã được báo cáo là có tác dụng gây độc tế bào đối với một số dòng tế bào ung thư SQC-1 UISO, OVCAR-5, HCT-15 COLADCAR và KB [35]. Một nghiên cứu khác đánh giá tác dụng gây độc tế bào của cao chiết MeOH và ete dầu từ Mạn kinh đối với dòng tế bào MCF-7 và Vero. Kết quả của nghiên cứu đã chứng minh khả năng gây độc tế bào mạnh đối với dòng tế bào MCF-7 và hoạt động trung bình đối với dòng tế bào Vero, cho thấy Mạn kinh là tác nhân hóa trị liệu đầy hứa hẹn trong điều trị ung thư vú [49] • Kháng nấm Cao chiết phân đoạn hexan Mạn kinh thu được từ lá cho thấy sự ức chế đáng kể đối với loài nấm Fusarium gây bệnh trên cây hẹ tây [87]. • Giảm đau, chống viêm Lá của loài Mạn kinh đã được nghiên cứu, chứng minh hoạt tính chống ung thư và tăng cường hoạt động giảm đau với các chất giảm đau tiêu chuẩn pentazocin (10 mg/kg) và aspirin (25 mg/kg) [30].
8 Cao chiết nước từ lá Mạn kinh đã được thử nghiệm trên các mô hình viêm cấp tính và mãn tính như phù chân do carrageenan, túi u hạt và các mô hình viêm khớp do formaldehyd. Kết quả cho thấy ức chế đáng kể sự hình thành phù chân và cũng ức chế đáng kể sự hình thành dịch tiết [30], [8]. • Kiểm soát hen Các cao chiết từ lá Mạn kinh đã được tiến hành sắc ký để phân lập ba hợp chất, đó là Viteosin - A, Vitexicarpin và Vitetrifolin - E.