Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Khóa luận tốt nghiệp "Hình tượng nhân vật vua Lê và vua Tây Sơn trong Hoàng Lê nhất thống chí" do sinh viên Lê Thị Dung (lớp K18A ĐHSP Ngữ Văn, Khoa Khoa học xã hội, Trường Đại học Hồng Đức) thực hiện dưới sự hướng dẫn của TS. Lê Thị Nương vào tháng 05 năm 2019. Đề tài thuộc chuyên ngành Sư phạm Ngữ văn, tập trung vào lĩnh vực nghiên cứu và thi pháp học văn học tự sự trung đại Việt Nam.

Về cơ sở lý luận và bối cảnh thực tiễn, tác giả chỉ ra rằng văn học và lịch sử luôn song hành trong tiến trình vận động của văn hóa dân tộc. Giai đoạn từ nửa cuối thế kỷ XVIII đến hết nửa đầu thế kỷ XIX là thời kỳ chế độ phong kiến Việt Nam khủng hoảng trầm trọng với sự tranh giành quyền lực giữa các tập đoàn phong kiến Lê - Trịnh - Nguyễn, cùng sự bùng nổ của các phong trào khởi nghĩa nông dân mà đỉnh cao là khởi nghĩa Tây Sơn. Trong bối cảnh đó, Hoàng Lê nhất thống chí của Ngô gia văn phái ra đời như một tác phẩm văn xuôi chữ Hán có quy mô đồ sộ nhất thời trung đại, phản ánh khoảng 30 năm lịch sử đầy bão táp (từ khi Trịnh Sâm lên ngôi chúa năm 1767 đến khi Nguyễn Ánh lên ngôi vua năm 1802). Về mặt thực tiễn giáo dục, tác phẩm được trích giảng trực tiếp trong chương trình Ngữ văn cấp Trung học phổ thông, đòi hỏi người dạy và người học phải có cái nhìn sâu sắc, toàn diện về giá trị nội dung và nghệ thuật xây dựng nhân vật lịch sử.

Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu được xác định cụ thể:

  1. Hệ thống hóa các vấn đề lý luận về nhân vật văn học và tiểu thuyết chương hồi trung đại;
  2. Khảo sát, thống kê và phân tích diện mạo, hành trạng của hệ thống nhân vật vua Lê và vua Tây Sơn trên phương diện nội dung phản ánh lịch sử;
  3. Khám phá các thủ pháp nghệ thuật xây dựng nhân vật, nghệ thuật miêu tả, ngôn ngữ, tình huống kịch tính và kết cấu tác phẩm;
  4. Làm rõ thái độ, thế giới quan và tình cảm thẩm mỹ của nhóm tác giả họ Ngô Thì đối với hai vương triều đối lập.

Đối tượng nghiên cứu của đề tài là hình tượng nhân vật vua Lê và vua Tây Sơn. Phạm vi nghiên cứu giới hạn trong văn bản 17 hồi của tiểu thuyết lịch sử Hoàng Lê nhất thống chí.

Điểm qua lịch sử vấn đề, tác giả ghi nhận các công trình nghiên cứu tiêu biểu của Bùi Duy Tân, Đặng Thanh Lê, Hoàng Hữu Yên, Phạm Luân, Lê Trí Viễn, Nguyễn Lộc, Phạm Tú Châu, Nguyễn Đăng Na, Phạm Thế Ngũ, Kiều Thu Hoạch, Đỗ Đức Dục, Trần Đình Sử, cùng các luận văn của Vũ Thanh Hà, Nguyễn Thị Chung Thủy, Cao Thị Vân Anh. Tác giả nhận định các tài liệu trước đây thường tiếp cận tác phẩm ở góc độ khái quát lịch sử, phản ánh xã hội hoặc chỉ nghiên cứu riêng lẻ một nhân vật, chưa có công trình nào đối sánh hệ thống và chuyên biệt về cặp hình tượng vua Lê và vua Tây Sơn.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khóa luận vận dụng hệ thống khái niệm của thi pháp học và lý luận văn học về nhân vật văn học:

  • Khái niệm nhân vật: Là hình tượng cá thể con người được nhà văn nhận thức, tái tạo bằng phương tiện nghệ thuật ngôn từ, là tiêu điểm bộc lộ chủ đề và quy định các yếu tố hình thức nghệ thuật.
  • Phân loại nhân vật: Tiếp cận theo vai trò tổ chức tác phẩm (nhân vật chính, nhân vật trung tâm, nhân vật phụ), theo hệ tư tưởng và lý tưởng thẩm mỹ (nhân vật chính diện, nhân vật phản diện), và theo chức năng nghệ thuật (nhân vật chức năng, nhân vật tư tưởng).
  • Khái niệm về tác giả tập thể Ngô gia văn phái: Nhóm tác giả thuộc dòng họ Ngô Thì ở làng Tả Thanh Oai (Thanh Oai, Hà Nội), tiêu biểu là Ngô Thì Chí (1753-1788) viết phần đầu và Ngô Thì Du (1772-1840) viết phần sau, phản ánh tính chất "văn - sử - triết bất phân" và khuynh hướng tiểu thuyết lịch sử chương hồi diễn nghĩa chịu ảnh hưởng văn học cổ phương Đông nhưng bám sát hiện thực Việt Nam.

Để xử lý nguồn dữ liệu 17 hồi tiểu thuyết, tác giả sử dụng bốn phương pháp nghiên cứu chính:

  1. Phương pháp khảo sát, thống kê: Xác định tần suất xuất hiện, vị trí các hồi và số lượt được kể của từng nhân vật vua chúa.
  2. Phương pháp thống kê phân loại: Phân chia các nhân vật theo nguồn gốc xuất thân, tính cách, vai trò lịch sử và vị thế chính trị.
  3. Phương pháp phân tích, tổng hợp: Làm rõ diện mạo nhân vật trên cả hai bình diện nội dung xã hội và giá trị biểu đạt nghệ thuật, từ đó đúc kết quy luật vận động của lịch sử được phản ánh trong tác phẩm.
  4. Phương pháp so sánh: Đối chiếu sự tương phản tính cách, tư thế và hành vi giữa các vị vua nhà Lê (đại diện cho sự suy tàn của ý thức hệ phong kiến chính thống) và các thủ lĩnh khởi nghĩa Tây Sơn (tiêu biểu cho lực lượng quật khởi mới).

Nguồn dữ liệu khảo sát căn cứ trên văn bản Hoàng Lê nhất thống chí gồm 17 hồi, sử dụng bản dịch của Nguyễn Đức Vân và Kiều Thu Hoạch.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Khái quát chung về hình tượng nhân vật và tác phẩm Hoàng Lê nhất thống chí

Chương mở đầu tập trung hệ thống hóa lý luận về bản chất và chức năng của nhân vật văn học. Tác giả nhấn mạnh nhân vật là phương tiện cơ bản để khái quát hiện thực, thực hiện tư tưởng chủ đề và quyết định kết cấu của tác phẩm tự sự. Phần khái quát văn bản làm rõ lai lịch nhóm Ngô gia văn phái kéo dài qua nhiều thế hệ với các cây bút tiêu biểu như Ngô Thì Sĩ, Ngô Thì Nhậm, Ngô Thì Chí, Ngô Thì Du.

Trong cơ cấu của Hoàng Lê nhất thống chí, hệ thống nhân vật vua chúa tuy chỉ chiếm tỷ lệ 13 trên tổng số khoảng 400 nhân vật, nhưng đóng vai trò then chốt chi phối tiến trình cốt truyện và thể hiện xung đột thời đại. Tác giả tiến hành lập bảng thống kê số lượt và vị trí các hồi xuất hiện của từng nhân vật vua Lê và vua Tây Sơn trong 17 hồi:

Nhóm nhân vật Tên nhân vật Các hồi xuất hiện và số lượt được kể tương ứng
Vua Lê Lê Hiển Tông Hồi 4 (6 lượt), Hồi 9 (4 lượt), Hồi 13 (1 lượt), Hồi 17 (1 lượt)
Lê Duy Cận Hồi 3 (2 lượt)
Lê Duy Vĩ Hồi 3 (12 lượt), Hồi 6 (1 lượt)
Lê Duy Kỳ (Chiêu Thống) Hồi 2 (2 lượt), Hồi 3 (5 lượt), Hồi 6 (10 lượt), Hồi 7 (6 lượt), Hồi 8 (2 lượt), Hồi 9 (6 lượt), Hồi 10 (9 lượt), Hồi 11 (11 lượt), Hồi 12 (9 lượt), Hồi 14 (1 lượt), Hồi 15 (5 lượt), Hồi 16 (11 lượt)
Vua Tây Sơn Nguyễn Nhạc Hồi 1 (1 lượt), Hồi 6 (12 lượt)
Nguyễn Huệ Hồi 4 (30 lượt), Hồi 6 (8 lượt), Hồi 7 (2 lượt), Hồi 9 (6 lượt), Hồi 10 (2 lượt), Hồi 11 (6 lượt), Hồi 12 (1 lượt), Hồi 14 (10 lượt), Hồi 15 (6 lượt), Hồi 16 (3 lượt)
Nguyễn Quang Toản Hồi 16 (4 lượt), Hồi 17 (6 lượt)

Chương 2: Hình tượng nhân vật vua Lê và vua Tây Sơn trong tác phẩm Hoàng Lê nhất thống chí về phương diện nội dung

Chương 2 phân tích chuyên sâu tính cách, số phận và vai trò lịch sử của các nhân vật qua các sự kiện được ghi chép:

  • Hình tượng các vua Lê:
    • Lê Hiển Tông (Lê Duy Niêu): Vị vua ở ngôi lâu nhất (46 năm, 1740-1786), thọ 69 tuổi, dùng một niên hiệu Cảnh Hưng. Lên ngôi nhờ giấc mộng của Vũ Tất Thận dưới thời chúa Trịnh Doanh. Hiển Tông là hiện thân của vị vua bù nhìn an phận, cam chịu, coi ngai vàng là gánh nặng ("Chúa gánh cái lo, ta hưởng cái vui. Mất chúa tức là cái lo lại về ta, ta còn vui gì"). Khi Nguyễn Huệ kéo quân ra Bắc "phù Lê diệt Trịnh", vua tiếp đón nhún nhường, gả công chúa Ngọc Hân và phong Nguyên soái Uy quốc công cho Nguyễn Huệ trước khi qua đời tại điện Vạn Thọ.
    • Lê Duy Vĩ: Thái tử tài hoa, khôi ngô, nuôi chí giành lại quyền bính nhưng bị Trịnh Sâm ghen ghét từ sự cố ngồi cùng mâm cơm với chính phi. Trịnh Sâm vu oan cho Duy Vĩ tư thông với cung nữ và câu kết cùng hai nho sinh Vũ Bá Sưởng, Lương Giản làm loạn, rồi bức tử bằng cách thắt cổ vào ngày 20 tháng Chạp năm Tân Mão (1771). Cái chết oan khiên gắn liền với các hiện tượng dị thường (trời đất tối tăm, giếng Tam Sơn nổ như sấm, hồn ma hiện về trách phạt Trịnh Sâm).
    • Lê Duy Cận: Con thứ tư của Hiển Tông, tính tình nhu nhược, thông đồng chạy chọt tranh đoạt ngôi vị thái tử, bị lính tam phủ khinh miệt đập nát kiệu phải cải trang trốn chạy. Sau này khi đất Bắc vắng bóng vua, Duy Cận được cử làm Giám quốc.
    • Lê Duy Kỳ (Lê Chiêu Thống / Lê Duy Khiêm): Cháu đích tôn của Hiển Tông, con trai Duy Vĩ. Sau 11 năm bị giam cầm ở ngục Đề Lãnh, Duy Kỳ được kiêu binh cứu thoát và lên ngôi năm 21 tuổi (1786). Chiêu Thống là nhân vật có số phận bi kịch nhất: bất lực trong việc giữ gìn ngai vị, phụ thuộc hoàn toàn vào quyền thần Nguyễn Hữu Chỉnh, bí mật lập mưu dùng rượu độc giết Chỉnh nhưng bất thành. Đỉnh điểm của sự suy đồi chính trị là hành động cầu viện nhà Thanh, cúi đầu làm bù nhìn dưới trướng Tổng đốc Tôn Sĩ Nghị, dùng niên hiệu Càn Long. Khi quân Thanh đại bại, Chiêu Thống chạy sang Bắc Kinh, bị Phúc Khang An lừa gọt tóc, đổi trang phục, dâng biểu xin viện binh bị khất lần, uất hận qua đời năm 1792 (thọ 28 tuổi). Năm 1804, di hài đưa về nước, ghi nhận hiện tượng kỳ lạ "trái tim không nát, sắc máu vẫn còn đỏ tươi".
  • Hình tượng các vua Tây Sơn:
    • Nguyễn Nhạc (Thái Đức hoàng đế): Xuất thân là biện lại thu thuế ở Vân Đồn (biện Nhạc), do đánh bạc tiêu hết tiền công mà trốn lên núi dựng cờ khởi nghĩa. Nguyễn Nhạc thể hiện sự quyền biến khi lập mưu nằm trong cũi giả bị bắt để đột nhập chiếm thành Quy Nhơn; biết hòa hoãn với quân Trịnh, sử dụng cánh quân người Hoa của Lý Tài, Tập Đình và trọng dụng tài năng quân sự của Nguyễn Hữu Chỉnh. Về tính cách, Nguyễn Nhạc chất phác, thật thà, bình dị (chi tiết gặp người dân ở cửa biển Hội Thống, tự nhận là họ ngoại chúa Nam Hà), song tầm nhìn hạn hẹp, mang tư tưởng cục bộ địa phương ("nhà mình đời đời vẫn ở Nam Hà, được xứ Thuận Hóa... là đủ rồi") và e ngại uy danh đang lên của người em Nguyễn Huệ.
    • Nguyễn Huệ: Hiện thân của thiên tài quân sự, lãnh tụ nông dân áo vải quật khởi. Nguyễn Huệ xuất hiện tại 10 hồi với tần suất áp đảo, hành động quyết đoán, đánh đổ chúa Trịnh, tiến quân thần tốc quét sạch 29 vạn quân Thanh, tiến vào Thăng Long với hình ảnh oai phong "cưỡi voi, áo bào sạm đen khói súng".
    • Nguyễn Quang Toản: Kế vị khi còn nhỏ, triều đình suy yếu, nội bộ mâu thuẫn, được khảo sát ở các hồi cuối khi triều đại Tây Sơn đi đến bờ vực sụp đổ trước thế lực Nguyễn Ánh.
  • Tình cảm, thái độ của tác giả: Tác phẩm bộc lộ mâu thuẫn sâu sắc giữa lập trường giai cấp và sự thật lịch sử. Thuộc tầng lớp sĩ phu trung quân phong kiến, các tác giả họ Ngô hoài niệm và thương xót cho sự suy vong của họ Lê, lên án hành động "cõng rắn cắn gà nhà" của Chiêu Thống. Tuy nhiên, với tinh thần tôn trọng sự thật lịch sử khách quan, ngòi bút của Ngô gia văn phái vẫn khắc họa chân thực và trân trọng tầm vóc anh hùng kiệt xuất của phong trào Tây Sơn và vua Quang Trung.

Chương 3: Hình tượng nhân vật vua Lê và vua Tây Sơn trong tác phẩm Hoàng Lê nhất thống chí về phương diện nghệ thuật

Chương 3 khảo sát các phương thức nghệ thuật xây dựng nhân vật:

  • Nghệ thuật miêu tả và sử dụng ngôn từ: Miêu tả nhân vật qua hành động cụ thể, chi tiết đời sống sinh động, cử chỉ, giọng nói mang tính cá thể hóa cao (sự nhút nhát của Hiển Tông, tính nhẫn nhục bi phẫn của Chiêu Thống, sự chất phác của Nguyễn Nhạc, khí phách hào hùng của Nguyễn Huệ).
  • Nghệ thuật xây dựng tình huống kịch tính: Tác phẩm đặt nhân vật vào các bước ngoặt căng thẳng, xung đột dồn dập: cảnh kiêu binh phá phủ chúa giành lại ngai vị cho Duy Kỳ, cảnh vua tôi bàn mưu đánh thuốc độc Nguyễn Hữu Chỉnh, các cuộc hội kiến ngoại giao đầy biến cố giữa vua Lê và anh em Tây Sơn, cảnh Chiêu Thống nhẫn nhục chầu chực ở doanh trại Tôn Sĩ Nghị.
  • Mối quan hệ giữa nhân vật và hoàn cảnh, quan hệ nhân vật với nhân vật: Hoàn cảnh bão táp lịch sử tác động trực tiếp đến sự tha hóa hoặc tôi luyện tính cách nhân vật. Các tuyến quan hệ đối lập được tổ chức chặt chẽ: thế lưỡng lập vua Lê - chúa Trịnh, sự đối lập giữa vua Lê bạc nhược và nghĩa quân Tây Sơn quật cường, quan hệ kèn cựa nghi kỵ giữa Nguyễn Nhạc và Nguyễn Huệ.
  • Kết cấu tác phẩm: Kế thừa hình thức tiểu thuyết chương hồi Trung Hoa ("muốn biết sự việc rồi ra sao xem đến hồi sau sẽ rõ") kết hợp lối ghi chép ký sự lịch sử trung thực, tạo nên cấu trúc vừa mang tính biên niên sử liệu, vừa đậm chất tự sự nghệ thuật.

Kết quả và đóng góp

Về kết quả cụ thể, công trình đã thực hiện:

  • Khảo sát toàn diện hệ thống nhân vật trong 17 hồi, định vị được 13 nhân vật vua chúa trên tổng số 400 nhân vật của toàn bộ tác phẩm.
  • Thống kê chi tiết tần suất xuất hiện của từng vị vua: Nguyễn Huệ là nhân vật có tần suất xuất hiện đậm đặc nhất (10 hồi với hàng chục lượt kể trực tiếp), theo sau là Lê Chiêu Thống (xuất hiện ở 12 hồi với tư cách nhân vật gắn liền với sự sụp đổ của triều đại), Lê Hiển Tông (4 hồi), Lê Duy Vĩ (2 hồi), Lê Duy Cận (1 hồi), Nguyễn Nhạc (2 hồi), Nguyễn Quang Toản (2 hồi).
  • Khái quát thành công hai tuyến hình tượng đối lập: một bên là các vua triều Lê trượt dài từ bù nhìn, an phận (Hiển Tông), uất ức bất lực (Duy Vĩ), luồn cúi phản bội (Chiêu Thống); một bên là các thủ lĩnh Tây Sơn từ buổi đầu khởi phát đầy bản năng, thực tế (Nguyễn Nhạc) đến đỉnh cao anh hùng dân tộc giải phóng đất nước (Nguyễn Huệ).

Về đóng góp khoa học, khóa luận là công trình chuyên khảo đầu tiên tiếp cận một cách có hệ thống, đối sánh đồng thời cả hai nhóm hình tượng vua Lê và vua Tây Sơn trong Hoàng Lê nhất thống chí. Tác giả đã chỉ ra sự thắng thế của quy luật hiện thực lịch sử trước định kiến ý thức hệ phong kiến bảo thủ của nhóm tác giả họ Ngô Thì, góp phần khẳng định giá trị thi pháp tiểu thuyết lịch sử thời trung đại.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế: Do giới hạn phạm vi trích xuất văn bản trong hồ sơ khóa luận, phần phân tích nhân vật vua Tây Sơn tập trung nhiều vào tư liệu khởi nguyên của Nguyễn Nhạc, trong khi các cứ liệu chi tiết về nghệ thuật quân sự của Nguyễn Huệ và giai đoạn thoái trào của Nguyễn Quang Toản chưa được mở rộng tương xứng với dung lượng dành cho các nhân vật vua Lê. Ngoài ra, việc so sánh tương quan với các triều đại lân bang hoặc lực lượng chúa Nguyễn chưa được đào sâu.
  • Hướng nghiên cứu tiếp: Mở rộng khảo sát toàn diện mạng lưới nhân vật phụ tá, tướng lĩnh xoay quanh hai vương triều; nghiên cứu sâu hơn về không gian - thời gian nghệ thuật và ngôn ngữ trần thuật mang tính nguyên hợp "văn - sử - triết" của Ngô gia văn phái.

Giá trị tham khảo

Tài liệu là nguồn tham khảo hữu ích cho:

  • Sinh viên, học viên chuyên ngành Sư phạm Ngữ văn, Cử nhân Văn học và Lịch sử khi tiếp cận thể loại tiểu thuyết chương hồi và văn học trung đại Việt Nam thế kỷ XVIII - XIX.
  • Giáo viên Trung học phổ thông trong việc soạn thảo giáo án, xây dựng tư liệu giảng dạy đoạn trích Hoàng Lê nhất thống chí (Hồi thứ mười bốn).
  • Các phần đáng tham khảo nhất: Bảng thống kê định lượng tần suất nhân vật qua 17 hồi; hệ thống tư liệu trích dẫn chi tiết về các sự kiện cung đình (vụ án oan thái tử Lê Duy Vĩ, đời sống lưu vong bi thảm của Lê Chiêu Thống, và tính cách bình dị của Nguyễn Nhạc).

Câu hỏi thường gặp

1. Khóa luận khảo sát bao nhiêu nhân vật trong toàn bộ tác phẩm Hoàng Lê nhất thống chí và nhóm vua chúa chiếm số lượng bao nhiêu?
Tác giả khảo sát khoảng 400 nhân vật xuất hiện trong 17 hồi của tác phẩm, trong đó hệ thống nhân vật vua chúa chiếm số lượng khiêm tốn là 13 nhân vật, nhưng giữ vai trò quyết định trong việc tổ chức cốt truyện và bộc lộ chủ đề.

2. Nhân vật vua Lê và vua Tây Sơn nào có tần suất xuất hiện nhiều nhất theo bảng thống kê của khóa luận?
Phía vua Lê, Lê Duy Kỳ (Chiêu Thống) xuất hiện nhiều nhất ở 12 hồi khác nhau (các hồi 2, 3, 6, 7, 8, 9, 10, 11, 12, 14, 15, 16). Phía vua Tây Sơn, Nguyễn Huệ xuất hiện áp đảo tại 10 hồi (các hồi 4, 6, 7, 9, 10, 11, 12, 14, 15, 16) với số lượt kể tập trung cao nhất (riêng hồi 4 có 30 lượt).

3. Vụ án oan của Thái tử Lê Duy Vĩ xảy ra vào thời gian nào và tác phẩm ghi nhận chi tiết kỳ dị nào?
Vụ án bức tử Thái tử Lê Duy Vĩ diễn ra vào ngày 20 tháng Chạp năm Tân Mão (1771). Tác phẩm ghi nhận hiện tượng kỳ dị: lúc hành hình giữa ban ngày trời bỗng tối tăm mịt mù hơn một khắc; trước đó giếng Tam Sơn nổ như sấm; sau khi chết, hồn ma Duy Vĩ hiện về vạch màn trừng mắt nhìn Trịnh Sâm trên hồ Tây.

4. Khóa luận ghi nhận những dữ kiện bi kịch nào trong những năm tháng cuối đời của vua Lê Chiêu Thống?
Lê Chiêu Thống phải sống luồn cúi dưới trướng Tôn Sĩ Nghị; khi sang Trung Quốc bị Phúc Khang An lừa cạo đầu đổi trang phục và dâng biểu giả xin thôi cầu viện; con trai mất vì bệnh đậu mùa năm 1792; Chiêu Thống ốm liệt giường và mất ngày 16 tháng Mười năm Càn Long thứ 58 (1792), thọ 28 tuổi. Khi đưa hài cốt về nước năm 1804, trái tim thi hài vẫn nguyên vẹn không nát.

5. Nhân vật Nguyễn Nhạc được khắc họa với những nét tính cách và hành trạng ban đầu như thế nào?
Nguyễn Nhạc nguyên làm biện lại Vân Đồn, vì đánh bạc tiêu mất tiền công nên trốn lên núi lập căn cứ; dùng mưu nằm cũi trá hàng để chiếm thành Quy Nhơn; tính tình mộc mạc, ăn nói thật thà, tự xưng là họ ngoại chúa Nam Hà khi nhận cá tôm của dân nghèo Nghệ An, nhưng có tâm lý an phận cát cứ ở Nam Hà và lo ngại tài năng quân sự của em trai Nguyễn Huệ.

Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của Lê Thị Dung là một công trình nghiên cứu nghiêm túc, có tính hệ thống cao về hình tượng các bậc vua chúa trong kiệt tác Hoàng Lê nhất thống chí. Bằng phương pháp thống kê định lượng kết hợp phân tích thi pháp học, tác giả đã làm nổi bật sự đối lập sâu sắc giữa sự suy tàn, bạc nhược của tập đoàn vua Lê và khí thế quật khởi, tài năng xuất chúng của các thủ lĩnh áo vải Tây Sơn. Công trình cung cấp nguồn ngữ liệu học thuật xác thực, có giá trị ứng dụng thiết thực cho công tác học tập, nghiên cứu và giảng dạy văn học trung đại trong nhà trường.