Phần mở đầu: Đặt vấn để, bao gồm: Mục đích ý nghĩa của để tài. Lịch sử van dé. BỘ Nhiệm vụ và giới hạn của để tài. e9 Phương pháp nghiên cứu.
Kết cấu của công trình. mì O0 Đóng góp mới của công trình. : Khả năng ứng dụng của công trình. Phần thứ hai: gồm 3 chương: Chương ï: Trình bày hoàn cảnh ra đời của khuynh hướng văn học yêu nước, cách mạng, nhấn mạnh đến tính chất hết sức phức tạp của các mặt chính trị, xã hội, kinh tế, tư tưởng, văn hóa của hoàn cảnh.
Chương II: Tìm hiểu những đặc điểm chủ yếu của khuynh hướng văn học này. Cụ thể làm rõ mấy đặc điểm sau đây: 1. Văn học yêu nước, cách mạng, gắn bó chặt chế với phong trào đấu tranh ở Sài Gòn, ở các thành thị đang bị tạm chiếm cũng như với công cuộc giải phóng miễn Nam. Văn học yêu nước, cách mạng xác lập được khuynh hướng tư tưởng — nghệ thuật đúng đắn, nhất quán và sáng tạo được nhiều phương thức hoạt động độc đáo, đa dang.
Khuynh hướng này đã tập hợp được nhiều lực lượng viết, rất khác nhau về tư tưởng, chính trị cũng như quan điểm nghệ thuật và hình thành được phong trào đấu tranh rộng lớn, sôi nổi. Chương II: Đánh giá thành tựu của khuynh hướng văn học yêu nước, cách mạng. Đây là chương trọng tâm, gồm hai nội dung chính: - Một là, tìm hiểu giá trị nội dung tư tưởng. Chuyên luận tập trungphân tích sự kế thừa và phát triển chủ nghĩa yêu nước ~ một trong những truyền thống lớn nhất và sâu sắc nhất của văn học Việt Nam.
- Hai là, tìm hiểu những giá trị tư tưởng, những nét đặc sắc có ý nghĩa độc đáo, cách tân nghệ thuật của bốn thể loại nổi trội hơn cả: thơ, truyện, bút ký chính luận và lý luận phê bình. Phần thứ ba: Kết luận. Chúng tôi nhấn mạnh đến ý nghĩa của sự hình thành và phát triển của văn học yêu nước cách mạng, đánh giá những đóng góp chủ yếu của nó đối với cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc cũng như đối với văn học Việt Nam hiện đại. Phụ lục: để tiện theo dõi và kiểm chứng, chúng tôi xây dựng phụ lục thành 6 phần: Phụ lục 1: Những tác giả tiêu biểu (xếp theo thứ tự A, B, Œ).
Mỗi người đều được ghi rõ những tác phẩm chính da in. Phụ lục II: Danh mục 146 báo, tạp chí tiến bộ ở các thành thị miễn Nam mà chúng tôi đã trực tiếp khảo sát. Đây chưa phải là sự thống kê day đủ. Thời gian tới chúng tôi sẽ tiếp tục bổ sung.
Phụ lục IH: Tài liệu tham khảo. Không kể những tác phẩm đã ghi trong phụ lục 1, những báo chí đã ghi trong phụ lục H, phần này liệt kẻ 102 bộ sách và 22 tên báo, tạp chí. Những báo, tạp chí xuất bản ở Sài Gòn ghỉ ở đây đều là các tờ ôn hòa, hữu _— đã ghi trong phụ khuynh hoặc phần động, không thuộc hệ thống báo chí “ngược dòng” lục H. trước đây.
Phụ lục IV: ghỉ rõ tên một số tổ chức của Mỹ hoạt động ở miễn Nam báo chí Sài Gòn Trong chuyên luận, những tên này viết tất như trong các văn bản, thường dùng. Phụ lục V: Danh sách những công trình (dài và ngắn) mà chúng tôi đã kê những Ở đây chỉ ghỉ những bài viết có liên quan đến chuyên luận chứ không liệt sách và các bài viết thuộc các để tài khác. Phụ lục VI: Sao chụp một số tư liệu gốc. ĐÓNG GÓP MỚI CỦA CÔNG TRÌNH 1- Ghi nhận một cách cơ bản và hệ thống quá trình hình thành và phát triển của khuynh hướng văn học yêu nước cách mạng, qua đó bước đầu làm 1õ bức tranh toàn cảnh và những đặc điểm chủ yếu của hiện tượng văn học đặc sắc này.
2- Trên cơ sở phân tích nội dung và hình thức của hơn hai tam tác phẩm (tiểu thuyết, tập thơ, tập truyện ngắn, bút ký, tiểu luận .) chuyên luận cũng bước đầu khẳng định những giá trị chủ yếu của khuynh hướng văn học này. 3- Vềể mặt tư liệu, luận án đã thống kê tuy chưa đây đủ nhưng đã phong phú hơn tất cả các báo chí, tác phẩm, công tình nghiên cứu đi trước. Đây là hệ thống báo chí, tác phẩm tiêu biểu, hiện nay không được tập trung ở một nơi mà có rải rác trong các thư viện, các viện nghiên cứu khoa học xã hội, các trường đại học, các kho lưu trữ cũng như trong các tủ sách gia đình của nhiều trí thức văn nghệ sĩ ở Hà Nội, Huế, Đà Nẵng, Đà Lạt, thành phố Hồ Chí Minh. mà chúng tôi đã tiến hành sưu tầm, ghi chép từ non bốn mươi năm nay.
Hệ thống thư mục này nếu được công bố sẽ có ích cho giới nghiên cưú, khiến mọi người bớt mất thời giờ về công tác tư liệu. Tóm lại, đây là một công trình nghiên cứu văn học sử, do đó những kết quả của công trình có thể góp phẩn lấp bớt chỗ trống trong các công trình văn học sử đã công bố trước đây, làm cho điện mạo của văn học Việt Nam giai đoạn 1945 - 1975 được tái hiện đầy đủ, đúng với thực trạng vốn có của nó. KHẢ NĂNG ỨNG DỤNG CỦA CÔNG TRÌNH 1- Nội dụng của chuyên luận có thể được sử dụng để bổ sung, hoàn chỉnh phần văn học sử Việt Nam giai đoạn 1945 - 1975. 2- Trong công tác đào tạo, công trình có thể được dùng để giảng dạy với tư cách một chuyên để cho bậc sau đại học (đào tạo Thạc sĩ và Tiến sĩ) trong phạm vi 45 tiết học.
Nhiều vấn để thuộc khuynh hướng văn học này có thể dùng làm để tài luân án tốt nghiệp cho sinh viên thuộc hai hệ trên. 3- Thời gian tới, nếu được chấp thuận xuất bản, nội dung chủ yếu của chuyên luận sẽ được in mổ đầu cho một tuyển tập (khoảng hơn 1000 trang) tập hợp các tác phẩm tiêu biểu, có giá trị cÁ về nội dung tư Lưởng và nghệ thuật thuộc khuynh hướng văn học yêu nước, cách mạng trong các thành thị miễn Nam. trình này Tuy vậy, do khả năng của người viết chuyên luận có hạn nên công cứu, trước chắc chắn không tránh khỏi thiếu sót. Chân thành để nghị các nhà nghiên ở Sài Gòn thời Mỹ hết là các nhà cách mạng, các văn nghệ sị yêu nước đã hoạt động ngụy tạm chiếm chỉ ra những thiếu sót cho chúng tôi.
Ay CHUONG I VĂN HỌC YÊU NƯỚC, CÁCH MẠNG BA ĐỜI VÀ PHÁT TRIỂN TRONG HOÀN CẢNH XA HOI HET SỨC PHỨC TẠP U Đất nước chia hai, miễn Nam buộc phải sống dưới ách thống trị của chủ nghĩa thực dân mới của đế quốc Mỹ. Kể từ ngày 20-7-1954, những điều khoản của hiệp định Genève về ngưng bắn, chuyển quân tập kết được thực hiện, nước Việt Nam tạm chia làm hai miễn. Mỹ can thiệp vào Đông Dương từ năm 1950, nhưng bắt đâu từ thời điểm 1954 này, họ chính thức thay chân Pháp. Quyết định chiến lược của Mỹ là đứng vững trên địa bàn miễn Nam, tiêu diệt chế độ cách mạng ở miễn Bắc, sau đó vươn tới những mục tiêu xa hơn 6 địa bàn châu Á.
Từ năm 1971, tài liệu mật của Lẫu Năm góc đã bị phanh phui, đã tạo điều kiện để toàn thế giới hiểu rõ chủ trương chiến lược này của giới lãnh đạo Mỹ. Thực thi chủ nghĩa thực đân mới, đế quốc Mỹ muốn khắc phục sự thô bạo, lộ liễu, lỗi thời của chủ nghĩa thực dân Pháp thực hiện ở Việt Nam non 100 năm trước đó. Đặc điểm cơ bản của chính sách này là Mỹ có ý thức hoạt động giấu mặt, tích cực xây dựng tay sai thành một lực lượng mạnh mẽ: một hệ thống chính quyền từ trung ương đến địa phương hoàn chỉnh, một bộ máy quân sự đông đảo và hiện đại. Qua đó, Mỹ nhằm tạo ra trong nhân dân ảo tưởng độc lập, tự do.
1- Mỹ và chính quyển Sài Gòn ra sức thực hiện những thủ đoạn đàn áp nhân dân, chống phá cách mạng. Chủ nghĩa chống cộng được coi là “Quốc sách”. Thống nhất là khát vọng lịch sử của dân tộc ta, thiêng liêng và quan trọng không kém khát vọng độc lập, tự do. Thế nhưng ngay từ ngày đầu đất nước tạm chia hai, Mỹ và Ngô Đình Diệm đã thẳng thừng bác bổ khát vọng thiêng liêng ấy.
Nhiều sắc lệnh đẫm máu được ban hành. Chỉ riêng những năm Ngô Đình Diệm cẩm quyền đã có hàng chục sic lệnh tàn bạo: sắc lện số 6, thành lập trại giam người không cẩn xét xử. Sắc lệnh số 13, bóp nghẹt mọi quyển tự do. Sắc lệnh số 49, bỏ tù tất cả những người chống lại chính quyền của ông ta.
Luật 10/59 là đỉnh cao của chính sách chống cộng. Chính quyển Ngô Đình Diệm thiết lập 3 tòa án quân sự đặc biệt ở Sài Gòn, Huế, Ban Mê Thuột. Tòa án này chỉ có 2 mức xử: tử hình và khổ sai chung thân, không kháng án. Cũng chỉ tính riêng thời Ngô Đình Diệm, miễn Nam có tới 874 nhà tù chính thức, 270 ngàn đồng bào bị khủng bố, giam cầm.
Tỉnh Phú Yên nhỏ bé của khu Năm, dân số 250 ngàn người đã có tới 119 nhà tà. (1) Thông qua những thủ đoạn tàn ác này, Mỹ và chính quyển Sài Gòn muốn làm tiêu tan nguyện vọng độc lập, thống nhất, dân chủ và tiêu diệt ý chí chiến đấu của nhân đân ta. Cùng chung số phận với nhân dân, giới văn nghệ sĩ tiến bộ ở các thành thị miễn Nam cũng là một đối tượng bi dan áp dã man ngay từ những ngày đầu đất nước tạm chia hai. (1) Theo báo Thống nhất, số xuân (1963) 2- Mỹ và chính quyển Sài Gòn gây ra và kéo đài cuộc chiến tranh xâm jược vô nhân đạo ở miễn Nam.
- Những năm đâu (1954-1959) là cuộc chiến tranh một phía. Sau khi xóa bỏ lực lượng Bình Xuyên, đánh tan quân đội các giáo phái Cao Đài - Hòa Hảo ở Nam bộ, chắc bộ tiến công nhóm vũ trang Đại Việtở Trung bộ, Mỹ và Ngô Đình Diệm nắm máy cảnh sát và quân đội, kiểm soát hâu hết lãnh thổ miễn Nam. Chúng triển khai quốc sách tố cộng, truy nã những người kháng chiến cũ, bức hại gia đình họ, gây ra chia nhiều vụ tàn sát đẫm máu, cướp ruộng, đất của nông đân đo chính phủ. kháng chiến cho trước đây, bắn giết tà day những người tay không đòi chính quyền hai miễn hiệp thương để tổ chức tổng tuyển cử đi tới thống nhất nước nhà.
Từ 1960, để đối phó và hy vọng đàn áp được cuộc đấu tranh vũ trang của nhân dan mién Nam, Mỹ đã quyết định tài trợ để tăng nhanh lực lượng quân đội Sài Gòn.