Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÍ LUẬN VÀ HÀNH TRÌNH SÁNG TÁC CỦA NHÀ VĂN BÙI THỊ NHƯ LAN 1. Một số vấn đề lí luận về đề tài chiến tranh 1. Khái niệm đề tài Trong sáng tác nghệ thuật nói chung và văn học nói riêng, một trong những điều quan tâm, trăn trở đầu tiên của người sáng tác đó là câu hỏi viết cái gì? Trả lời được câu hỏi ấy là xác định được đề tài cho tác phẩm của mình. Vậy đề tài là gì? Theo Từ điển thuật ngữ văn học, “đề tài là khái niệm dùng để chỉ loại hiện tượng đời sống được miêu tả, phản ánh trực tiếp trong sáng tác văn học.
Đề tài là phương diện khách quan của nội dung tác phẩm”.[ 5,96] Sự phong phú của hiện thực đời sống được các nhà văn nhận thức, đưa vào trong sáng tác của mình tạo nên sự đa dạng của đề tài trong văn học. Từ cuộc sống của người nông dân, người công nhân cho đến những cuộc phiêu lưu của những nhà thám hiểm, từ những vấn đề xã hội như chiến tranh, bạo lực, đói nghèo cho tới những vấn đề cá nhân như tình yêu, niềm tin, sự mất mát… tất cả là hiện thực cuộc sống khách quan được người nghệ sĩ quan sát, nhận thức và lựa chọn làm nội dung cho sáng tác của mình. Đó là con đường để cuộc sống in hình trong nghệ thuật nói chung và văn học nói riêng. Chính điều ấy cũng tạo nên sự gắn bó khăng khít giữa nghệ thuật với đời sống.
Theo các tác giả sách Lí luận văn học "Thực chất đề tài là một khái niệm về loại của hiện tượng đời sống được miêu tả. Có bao nhiêu hiện tượng đời sống, có bấy nhiêu đề tài" [20, 261]. Từ những khái niệm trên có thể hiểu đề tài là một trong những yếu tố quan trọng tạo nên nội dung tác phẩm văn học. Nó thể hiện rõ nhất thế giới khách quan của đời sống xã hội.
Thông qua lăng của mình, nhà văn đã phản ánh, miêu tả thế giới. Những vấn đề được miêu tả, đánh giá đó chính là đề tài trong tác phẩm. Nghệ thuật nói chung và văn học nói riêng là công cụ để người nghệ sĩ khám phá, tìm hiểu và tác động đến đời sống xã hội. Bối cảnh lịch sử là yếu tố tạo nên phương diện khách quan của đề tài trong sáng tác của nghệ sĩ.
Tuy nhiên, văn học không sao chép lại lịch sử mà phản ánh lịch sử theo cách riêng của mình. Chiến tranh thế giới thứ 11 hai có thể coi là ví dụ. Cuộc chiến bắt đầu từ năm 1939 và kết thúc vào năm 1945 nhưng âm hưởng của nó tỏa rộng trong văn học thế giới rất nhiều năm sau đó. "Chiến tranh không có khuôn mặt phụ nữ" của S.
Alexivich xuất bản lần đầu năm 1983 gợi lại trong kí ức của con người về cuộc chiến ấy. Xa hơn nữa, ngay trong thời đại của chúng ta hôm nay, những tác phẩm lấy bối cảnh của thế chiến thứ hai vẫn tiếp tục tạo tiếng vang trên văn đàn thế giới như: "Kẻ trộm sách" của Markus Zusak, "Những đứa con của tự do" của Marc Levvy, "Ánh sáng vô hình" của Anthony Doerr… Như vậy có thể thấy, chiến tranh đã trở thành một đề tài lớn của văn học nhân loại. Văn học mang chức năng phản ánh hiện thực bởi vậy, những cuộc chiến đã đi vào trang văn một cách tự nhiên. Từ trang văn, người ta nhận ra chiến tranh không chỉ có thắng - thua mà bên cạnh đó, nụ cười và nước mắt, hạnh phúc và hi sinh của mỗi con người trong chiến tranh mới là điều gợi nhiều suy nghĩ.
Với người sáng tác, đề tài không chỉ làm phong phú và hấp dẫn nội dung tác phẩm mà còn là cách để nhà văn thể hiện tư tưởng, gửi gắm thông điệp đến độc giả. Đề tài là cơ sở để nhà văn đi sâu khám phá cuộc sống, tâm hồn, niềm vui và trăn trở của con người, từ đó xây dựng hình tượng văn học. Với độc giả, xác định đề tài là bước đầu tiên tìm hiểu phương diện nội dung, là chìa khóa để mở cánh cửa khám phá chủ đề, tư tưởng của tác phẩm. Một số biểu hiện của đề tài Trong mỗi giai đoạn phát triển, văn học đều có những đề tài trung tâm tương ứng.
Sở dĩ có điều đó là bởi sự phát triển của xã hội và yêu cầu của văn học phải phản ánh kịp thời những đổi thay của cuộc sống. Một đề tài được phản ánh trong nghệ thuật nói chung và văn học nói riêng đều bắt nguồn từ hiện thực đời sống xã hội. Bối cảnh xã hội và lịch sử đóng vai trò rất quan trọng tạo nên tính khách quan của đề tài. Có thể thấy, sự xuất hiện của đề tài tiểu sư sản, thị dân nghèo… trong văn học Việt Nam giai đoạn 1930 – 1945 có cơ sở từ chính bối cảnh xã hội đương thời.
Cuộc khai thác thuộc địa của thực dân Pháp cuối thế kỉ XIX, đầu thế kỉ XX đã ảnh hưởng mạnh mẽ tới cơ cấu xã hội Việt Nam. Sự xuất hiện của những giai cấp, tầng lớp mới trong xã hôi như: tư sản, tiểu tư sản, công nhân, dân nghèo thành thị…không chỉ tác động tới cơ cấu xã hội mà còn là tiền đề tạo cho sự hình thành đề tài mới trong văn học. Cũng như thế, bối 12 cảnh xã hội Việt Nam từ sau Cách mạng tháng Tám 1945 đến 1975 với hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ đã đóng vai trò quan trọng làm xuất hiện đề tài mới trong văn học giai đoạn này. Có thể kể đến như: đề tài kháng chiến chống Pháp ("Sống mãi với thủ đô" - Nguyễn Huy Tưởng, "Cao điểm cuối cùng" - Hữu Mai, "Trước giờ nổ súng" - Phan Tứ…), đề tài người lính ("Nhớ" - Hồng Nguyên, "Đồng chí"- Chính Hữu, "Tây Tiến" – Quang Dũng…), đề tài kháng chiến chống Mỹ ("Dấu chân người lính" – Nguyễn Minh Châu, "Người mẹ cầm súng"- Nguyễn Thi, "Hòn Đất"- Anh Đức…).
Bản thân đề tài là phương diện khách quan nên có thể thấy nhiều cây bút khác nhau chọn chung một đề tài cho sáng tác của mình. Có thể lấy ví dụ như: đề tài người nông dân trước Cách mạng tháng Tám trong sáng tác của Ngô Tất Tố, Nguyễn Công Hoan, Nam Cao,… đề tài xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc trong các sáng tác của Nguyễn Khải, Đào Vũ … Bản chất của văn chương bao giờ cũng bắt nguồn từ hiện thực đời sống. Sự bắt nguồn ấy thể hiện đầu tiên ở đề tài của tác phẩm. Đề tài là phương diện thuộc về nội dung của tác phẩm, là đối tượng của thực tiễn cuộc sống được nhà văn nhận thức và lựa chọn theo dụng ý của mình.
Việc lựa chọn phạm vi hiện thực để phản ánh trong tác phẩm là quá trình nhà văn xác định đề tài cho sáng tác của mình. Lựa chọn đề tài này mà không lựa chọn đề tài khác, điều ấy thể hiện tính chủ quan của người nghệ sĩ. Văn học Việt Nam giai đoạn 1930- 1945 xuất hiện những cây bút xuất sắc thể hiện những thiên hướng sáng tạo cụ thể: Ngô Tất Tố đã lựa chọn đề tài về người nông dân trước Cách mạng tháng Tám với cuộc sống bần cùng, bế tắc; Nam Cao không chỉ viết về người nông dân mà còn viết về người trí thức nghèo, Vũ Trọng Phụng lại lựa chọn cho ngòi bút của mình đề tài thành thị với giai cấp tư sản đương thời…. Cùng đề tài về kháng chiến chống Mỹ, văn học Việt Nam trước 1975 không chỉ xuất hiện một kiểu con người, một kiểu cuộc sống chiến đấu chung chung.
Trái lại, ở đây có sự nở rộ của những phong cách sáng tác, tạo nên một bức tranh nhiều màu sắc, thể hiện đầu tiên ở sự lựa chọn lĩnh vực phản ánh hiện thực. Chúng ta có một Nguyễn Trung Thành gắn bó sâu nặng với mảnh đất Tây Nguyên để rồi mảnh đất ấy trở thành đề tài rất riêng cho cây bút này. Chúng ta có một Nguyễn Thi đậm ân tình với mảnh đất Nam Bộ và nơi đây đã trở thành bối cảnh cho rất nhiều sáng tác của ông. Sự xuất hiện nhiều đề tài trong một giai đoạn văn học không chỉ cho thấy sự phong 13 phú, sinh động của hiện thực cuộc sống rất mà còn phản ánh sự bao quát của văn học với xã hội, sự nắm bắt, nhận thức của nhà văn trước thực tế đời sống.
Như vậy có thể thấy, sự xuất hiện một đề tài trong sáng tác văn học được bắt nguồn từ nhiều yếu tố: hiện thực cuộc sống có vai trò khách quan, sự lựa chọn của nhà văn, sở trường sáng tác và nhận thức xã hội đóng vai trò chủ quan trong việc làm xuất hiện một đề tài trong một giai đoạn văn học nói chung và trong sáng tác của người nghệ sĩ nói riêng. Đề tài chiến tranh trong văn học Việt Nam giai đoạn từ 1945 đến nay 1. Đề tài chiến tranh trong văn học Việt Nam giai đoạn 1945 - 1975 Văn học Việt nam viết nhiều về chiến tranh bắt đầu từ 1945 đến nay. Tuy nhiên, ở mỗi giai đoạn (1945 – 1975 và sau 1975 đến nay) đề tài chiến tranh lại được thể hiện một cách khác nhau.
Sau cuộc cách mạng tháng Tám thành công, đất nước ta đã phải đối mặt với cuộc kháng chiến chống Pháp gian khổ ( 1946 -1954). Ngày 19/12/1946, Hồ Chí Minh ra "Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến". Từ đây, lịch sử dân tộc chính thức bước vào cuộc kháng chiến chống Pháp. “Đề cương văn hoá Việt Nam” (1943) thể hiện sự chỉ đạo của Đảng đã hướng văn học tập trung phản ánh chân thực, sinh động cuộc kháng chiến vệ quốc vĩ đại của dân tộc.
Từ 1945, văn học phát triển trong một bối cảnh lịch sử có những khác biệt so với giai đoạn trước. Sự lãnh đạo của Đảng với đường lối văn nghệ xuyên suốt đã tạo nên một dòng chảy văn học thống nhất sau năm 1945. Đặc biệt phải kể đến cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ kéo dài từ 1946 đến 1975 đã tác động mạnh mẽ, sâu sắc tới toàn bộ đời sống vật chất, tinh thần của dân tộc. Văn học không nằm ngoài sự tác động đó nên đã hình thành những đặc điểm riêng của một nền văn học tồn tại và phát triển trong chiến tranh gian khổ, ác liệt.
Với nhiệm vụ phản ánh chân thật, sinh động và hùng hồn cuộc kháng chiến vệ quốc vĩ đại của dân tộc, văn học Việt Nam giai đoạn 1945 – 1975 đã viết về chiến tranh như một điều tất yếu.