Nghiên cứu đặc điểm hình thái cơ thể trẻ em dân tộc Thái, H'Mông, Dao ở tỉnh Yên Bái

Luận án tiến sĩ nghiên cứu hus nghiên cứu một số đặc điểm hình thái cơ thể trẻ em người dân tộc thái hmông dao ở tỉnh yên bái, phát triển phương pháp mới, đánh giá hiệu quả ứng

Trường đại học

Trường Đại Học Y Hà Nội

Chuyên ngành

Dinh dưỡng

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận án
174
1
0

Phí lưu trữ

45 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

LỜI CẢM ƠN

MỤC LỤC

NHỮNG CHỮ VIẾT TẮT DÙNG TRONG LUẬN ÁN

DANH MỤC CÁC BẢNG

DANH MỤC CÁC HÌNH

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1.1. MỘT SỐ KHÁI NIỆM CƠ BẢN

1.1.1. Phát triển thể chất

1.1.2. Tập quán dinh dưỡng

1.1.3. Suy dinh dưỡng

1.1.4. Các kích thước nhân trắc thường dùng trong đánh giá tình trạng dinh dưỡng trẻ em

2. CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG, ĐỊA BÀN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1. ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU

2.2. ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU

2.3. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.3.1. Phương pháp nhân trắc học

2.3.2. Phương pháp xã hội học

2.3.3. Phương pháp xử lý số liệu

2.3.4. Một số hạn chế trong nghiên cứu

3. CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ BÀN LUẬN

3.1. THÔNG TIN CHUNG VỀ ĐỐI TƯỢNG ĐIỀU TRA

3.1.1. Tình trạng kinh tế các hộ gia đình

3.1.2. Tình trạng học vấn của các bà mẹ đang nuôi con dưới 5 tuổi

3.2. MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM HÌNH THÁI CƠ THỂ TRẺ EM NGƯỜI THÁI, HMÔNG VÀ DAO

3.2.1. Vòng cánh tay trái duỗi

3.2.2. Vòng ngực bình thường

3.2.3. Vòng bụng qua rốn

3.2.4. Bề dày lớp mỡ dưới da tại điểm I15

3.2.5. Bề dày lớp mỡ dưới da tại điểm E6

3.2.6. Bề dày lớp mỡ dưới da tại điểm G15

3.2.7. Bề dày lớp mỡ dưới da tại điểm A8

3.2.8. Sự tương quan giữa các kích thước nhân trắc của trẻ em người Thái, Hmông và Dao

3.2.9. Tình hình suy dinh dưỡng của trẻ em người Thái, Hmông và Dao

3.3. HIỆN TRẠNG VỀ TẬP QUÁN SINH ĐẺ, CHĂM SÓC TRẺ, HÀNH VI CỦA BÀ MẸ VÀ TRẺ EM NGƯỜI THÁI, HMÔNG VÀ DAO

3.3.1. Ở nhóm trẻ dưới 5 tuổi

3.3.2. Ở nhóm trẻ 8-10 tuổi

3.4. MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN ĐẾN ĐẶC ĐIỂM KÍCH THƯỚC HÌNH THÁI CƠ THỂ THÔNG QUA TÌNH TRẠNG SUY DINH DƯỠNG CỦA TRẺ EM

3.4.1. Nhóm trẻ dưới 5 tuổi

3.4.2. Nhóm trẻ 8-10 tuổi

KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ

CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN

TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Tóm tắt

I. Tổng quan về nghiên cứu hình thái cơ thể trẻ em dân tộc Thái H Mông Dao tại Yên Bái

Nghiên cứu hình thái cơ thể trẻ em là một lĩnh vực quan trọng trong y học và dinh dưỡng. Đặc biệt, tại tỉnh Yên Bái, nơi có sự đa dạng về văn hóa và dân tộc, việc tìm hiểu về hình thái cơ thể của trẻ em dân tộc Thái, H'Mông và Dao trở nên cần thiết. Những nghiên cứu này không chỉ giúp xác định các đặc điểm sinh lý mà còn phản ánh tình trạng dinh dưỡng và sức khỏe của trẻ em trong cộng đồng. Việc hiểu rõ về hình thái cơ thể sẽ hỗ trợ trong việc xây dựng các chương trình can thiệp dinh dưỡng và chăm sóc sức khỏe phù hợp.

1.1. Đặc điểm hình thái cơ thể trẻ em dân tộc Thái

Trẻ em dân tộc Thái có những đặc điểm hình thái cơ thể riêng biệt, bao gồm chiều cao, cân nặng và các chỉ số nhân trắc khác. Nghiên cứu cho thấy rằng trẻ em Thái thường có chiều cao và cân nặng thấp hơn so với tiêu chuẩn quốc gia. Điều này có thể liên quan đến chế độ dinh dưỡng và tập quán sinh hoạt của cộng đồng.

1.2. Đặc điểm hình thái cơ thể trẻ em dân tộc H Mông

Trẻ em dân tộc H'Mông cũng có những đặc điểm hình thái cơ thể đặc trưng. Nghiên cứu cho thấy rằng trẻ em H'Mông thường có vòng cánh tay trái duỗi và vòng đầu nhỏ hơn so với trẻ em dân tộc khác. Những yếu tố văn hóa và điều kiện sống có thể ảnh hưởng đến sự phát triển thể chất của trẻ.

1.3. Đặc điểm hình thái cơ thể trẻ em dân tộc Dao

Trẻ em dân tộc Dao có những đặc điểm hình thái cơ thể khác biệt, với tỷ lệ suy dinh dưỡng cao hơn. Nghiên cứu cho thấy rằng trẻ em Dao thường gặp khó khăn trong việc đạt được các chỉ số nhân trắc tiêu chuẩn, điều này có thể do chế độ dinh dưỡng không đầy đủ và các yếu tố xã hội khác.

II. Vấn đề suy dinh dưỡng ở trẻ em dân tộc Thái H Mông Dao tại Yên Bái

Suy dinh dưỡng là một vấn đề nghiêm trọng ảnh hưởng đến sự phát triển của trẻ em, đặc biệt là ở các dân tộc thiểu số. Tại Yên Bái, tỷ lệ suy dinh dưỡng ở trẻ em dân tộc Thái, H'Mông và Dao vẫn còn cao. Theo số liệu từ Viện Dinh dưỡng, tỷ lệ suy dinh dưỡng ở trẻ em dưới 5 tuổi tại Yên Bái là 26,7%, cao hơn mức trung bình quốc gia. Điều này cho thấy cần có những biện pháp can thiệp kịp thời để cải thiện tình trạng dinh dưỡng cho trẻ em.

2.1. Tình trạng suy dinh dưỡng ở trẻ em dân tộc Thái

Trẻ em dân tộc Thái thường gặp phải tình trạng suy dinh dưỡng thể nhẹ cân và còi cọc. Các nghiên cứu cho thấy rằng chế độ ăn uống không đủ chất dinh dưỡng và sự thiếu hụt kiến thức về dinh dưỡng là những nguyên nhân chính dẫn đến tình trạng này.

2.2. Tình trạng suy dinh dưỡng ở trẻ em dân tộc H Mông

Tình trạng suy dinh dưỡng ở trẻ em H'Mông cũng đáng lo ngại, với tỷ lệ còi cọc cao. Các yếu tố như điều kiện sống, thói quen ăn uống và sự thiếu hụt dịch vụ y tế đã góp phần làm gia tăng tình trạng này.

2.3. Tình trạng suy dinh dưỡng ở trẻ em dân tộc Dao

Trẻ em dân tộc Dao có tỷ lệ suy dinh dưỡng cao, đặc biệt là ở nhóm trẻ dưới 5 tuổi. Nghiên cứu cho thấy rằng sự nghèo đói và thiếu hụt kiến thức về dinh dưỡng là những yếu tố chính ảnh hưởng đến sự phát triển thể chất của trẻ.

III. Phương pháp nghiên cứu hình thái cơ thể trẻ em dân tộc Thái H Mông Dao

Phương pháp nghiên cứu hình thái cơ thể trẻ em bao gồm các kỹ thuật nhân trắc học và khảo sát dinh dưỡng. Các chỉ số như chiều cao, cân nặng, vòng cánh tay trái duỗi và bề dày lớp mỡ dưới da được sử dụng để đánh giá tình trạng dinh dưỡng của trẻ. Nghiên cứu cũng áp dụng các phương pháp xã hội học để thu thập thông tin về tập quán dinh dưỡng và chăm sóc trẻ em trong cộng đồng.

3.1. Phương pháp nhân trắc học

Phương pháp nhân trắc học được sử dụng để đo lường các chỉ số cơ thể của trẻ em, bao gồm chiều cao, cân nặng và các kích thước khác. Những chỉ số này giúp đánh giá tình trạng dinh dưỡng và sự phát triển thể chất của trẻ.

3.2. Phương pháp khảo sát dinh dưỡng

Khảo sát dinh dưỡng được thực hiện để thu thập thông tin về chế độ ăn uống và thói quen dinh dưỡng của trẻ em. Phương pháp này giúp xác định các yếu tố ảnh hưởng đến tình trạng dinh dưỡng của trẻ.

3.3. Phương pháp xã hội học

Phương pháp xã hội học được áp dụng để tìm hiểu về tập quán chăm sóc trẻ em và các yếu tố văn hóa ảnh hưởng đến sự phát triển của trẻ. Nghiên cứu này giúp cung cấp cái nhìn tổng quan về bối cảnh xã hội của trẻ em dân tộc thiểu số.

IV. Kết quả nghiên cứu hình thái cơ thể trẻ em dân tộc Thái H Mông Dao

Kết quả nghiên cứu cho thấy rằng trẻ em dân tộc Thái, H'Mông và Dao có những đặc điểm hình thái cơ thể khác nhau. Tỷ lệ suy dinh dưỡng ở trẻ em vẫn còn cao, đặc biệt là ở nhóm trẻ dưới 5 tuổi. Các chỉ số nhân trắc cho thấy sự phát triển thể chất của trẻ em chưa đạt tiêu chuẩn. Những kết quả này cho thấy cần có các biện pháp can thiệp kịp thời để cải thiện tình trạng dinh dưỡng và sức khỏe cho trẻ em.

4.1. Kết quả hình thái cơ thể trẻ em dân tộc Thái

Kết quả cho thấy trẻ em dân tộc Thái có chiều cao và cân nặng thấp hơn so với tiêu chuẩn. Tình trạng suy dinh dưỡng thể nhẹ cân và còi cọc phổ biến trong cộng đồng.

4.2. Kết quả hình thái cơ thể trẻ em dân tộc H Mông

Trẻ em H'Mông có vòng cánh tay trái duỗi và vòng đầu nhỏ hơn so với trẻ em dân tộc khác. Tình trạng suy dinh dưỡng ở trẻ em H'Mông cũng đáng lo ngại.

4.3. Kết quả hình thái cơ thể trẻ em dân tộc Dao

Trẻ em dân tộc Dao có tỷ lệ suy dinh dưỡng cao, đặc biệt là ở nhóm trẻ dưới 5 tuổi. Các chỉ số nhân trắc cho thấy sự phát triển thể chất của trẻ chưa đạt yêu cầu.

V. Kết luận và khuyến nghị về nghiên cứu hình thái cơ thể trẻ em dân tộc Thái H Mông Dao

Nghiên cứu hình thái cơ thể trẻ em dân tộc Thái, H'Mông và Dao tại Yên Bái đã chỉ ra những vấn đề nghiêm trọng về tình trạng dinh dưỡng và sức khỏe của trẻ em. Cần có các biện pháp can thiệp kịp thời để cải thiện tình trạng này. Các chương trình giáo dục dinh dưỡng và chăm sóc sức khỏe cần được triển khai để nâng cao nhận thức của cộng đồng về tầm quan trọng của dinh dưỡng đối với sự phát triển của trẻ em.

5.1. Khuyến nghị về can thiệp dinh dưỡng

Cần triển khai các chương trình can thiệp dinh dưỡng nhằm cải thiện chế độ ăn uống cho trẻ em. Các biện pháp này nên tập trung vào việc cung cấp thực phẩm giàu dinh dưỡng và giáo dục cộng đồng về dinh dưỡng.

5.2. Khuyến nghị về chăm sóc sức khỏe

Cần nâng cao chất lượng dịch vụ chăm sóc sức khỏe cho trẻ em, đặc biệt là ở các vùng sâu, vùng xa. Các chương trình tiêm chủng và phòng bệnh cần được đẩy mạnh để bảo vệ sức khỏe cho trẻ em.

5.3. Khuyến nghị về nghiên cứu tiếp theo

Cần tiếp tục nghiên cứu để theo dõi tình trạng dinh dưỡng và sức khỏe của trẻ em dân tộc Thái, H'Mông và Dao. Các nghiên cứu này sẽ giúp cung cấp thông tin cần thiết để xây dựng các chính sách và chương trình can thiệp hiệu quả.

19/07/2025
Luận án tiến sĩ hus nghiên cứu một số đặc điểm hình thái cơ thể trẻ em người dân tộc thái hmông dao ở tỉnh yên bái và các yếu tố liên quan

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. MỘT SỐ KHÁI NIỆM CƠ BẢN 1. Phát triển thể chất Phát triển thể chất ở người là quá trình tăng trưởng của các cơ, xương, sự thay đổi của giọng nói, sự tăng trưởng của lông ở nách và vùng mu.

Toàn bộ cơ thể được cấu tạo từ các tế bào, sự nhân lên của các tế bào giúp cơ thể tăng trưởng về kích thước. Phát triển thể chất bao gồm sự tăng trưởng về mặt thể chất và sự phát triển của quá trình vận động toàn thể (như đi bộ) và tinh vi (như vận động của các ngón tay) nhằm kiểm soát cơ thể. Tập quán dinh dưỡng Sự phát triển của trẻ phụ thuộc vào nhiều yếu tố, trong đó có vai trò quan trọng của gia đình và cộng đồng về chăm sóc dinh dưỡng. Quá trình chăm sóc dinh dưỡng được bắt đầu ngay từ khi người mẹ mang thai, giai đoạn cho bú và trong các giai đoạn tiếp theo.

Việc chăm sóc dinh dưỡng cho trẻ phụ thuộc vào nhiều yếu tố: số lượng, chất lượng chất dinh dưỡng và cách thức sử dụng, cung cấp nguồn dinh dưỡng đó (còn gọi là tập quán dinh dưỡng). Tập quán dinh dưỡng của người Việt Nam rất đa dạng, phụ thuộc vào từng vùng sinh thái, từng tộc người. Suy dinh dưỡng Suy dinh dưỡng là một trạng thái nghèo dinh dưỡng liên quan tới việc hấp thụ không đủ hoặc quá nhiều thức ăn, hấp thụ không đúng loại thức ăn và phản ứng của cơ thể với hàng loạt các lây nhiễm dẫn tới hấp thụ không tốt hoặc không có khả năng sử dụng các chất dinh dưỡng một cách hợp lý để duy trì sức khỏe. Về mặt lâm sàng, SDD được đặc trưng bởi sự hấp thụ thừa hoặc thiếu protein, năng lượng và các vi chất như vitamin và hậu quả là sự xuất hiện của các bệnh lây nhiễm và rối loạn [143].

3 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Theo ước tính của WHO (2002) trên thế giới có khoảng 150 triệu trẻ tương đương 26,7% tổng số trẻ dưới 5 tuổi bị SDD thể nhẹ cân, 182 triệu trẻ bị SDD thể còi. Trên 2/3 trẻ bị SDD trên thế giới tập trung ở Châu Á (đặc biệt là Nam Á) và 25,6% nằm ở Châu Phi. Ở Việt Nam, tỷ lệ SDD trẻ em đã giảm nhiều, năm 1985 là 51,5% giảm xuống còn 28,4% vào năm 2003 [1]. Mặc dù SDD có thể do những nguyên nhân khác nhau gây nên nhưng các loại SDD đều có ảnh hưởng giống nhau đến sức khỏe.

Mức độ hậu quả từ nhẹ đến nặng phụ thuộc vào chất dinh dưỡng nào và thời gian kéo dài của vấn đề này [59]. Nguyên nhân chính của SDD là do nghèo và hoàn cảnh kinh tế gia đình khó khăn, một bộ phận dân số (nhất là những người sống ở nông thôn hay vùng sâu, vùng xa) vẫn chưa đủ ăn. SDD là một trong những yếu tố nguy cơ có liên quan đến (hay nguyên nhân dẫn đến) các bệnh như tiêu chảy, nhiễm trùng, sốt rét, bệnh đường hô hấp, v. So với trẻ em phát triển bình thường, trẻ em SDD thường có chiều cao thấp hơn tiềm năng tăng trưởng, thể lực kém và trí thông minh suy giảm.

Do đó, SDD là một vấn nạn y tế cộng đồng, một phần vì những ảnh hưởng xấu đến sức khỏe, nhưng một phần tác hại đến tương lai và phát triển của một dân tộc. Các kích thước nhân trắc thường dùng trong đánh giá tình trạng dinh dưỡng trẻ em Chiều cao theo tuổi (chiều cao/tuổi), cân nặng theo tuổi (cân nặng/tuổi) và cân nặng theo chiều cao (cân nặng/chiều cao) là 3 chỉ số nhân trắc bắt nguồn từ các kích thước cân nặng và chiều cao đứng thường được sử dụng trong đánh giá tình trạng SDD. Mặc dù những chỉ số này có liên quan tới nhau nhưng mỗi chỉ số lại có một ý nghĩa đặc trưng về phương diện quá trình hoặc hậu quả của sự tăng trưởng không trọn vẹn. Hơn nữa, các bất thường về tình trạng thể chất dựa trên cơ sở của những chỉ số này cũng khác nhau ở các quần thể.

Trong một quần thể bình thường, tỷ lệ các cá thể có chiều cao/tuổi thấp thường cao hơn tỷ lệ các cá thể có cân nặng/chiều cao thấp. Nếu một cá thể có ít nhất một trong 3 chỉ số nhân trắc trên ở mức thấp so với giá trị của quần thể chuẩn thì cá thể đó rơi vào trạng thái SDD. 4 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Cân nặng theo tuổi tiện dụng cho việc nhận định tình trạng dinh dưỡng nói chung, nhưng không phân biệt được tình trạng thiếu dinh dưỡng mới gần đây hay đã kéo dài từ lâu. Tuy vậy, theo dõi cân nặng là việc tương đối dễ thực hiện ở cộng đồng hơn cả, nên tỷ lệ thiếu cân theo tuổi vẫn được sử dụng thông dụng như là tỷ lệ chung của thiếu dinh dưỡng (thể nhẹ cân) và được ứng dụng để theo dõi tăng trưởng thông qua biểu đồ.

Nhìn chung, trên phạm vi toàn cầu, sự dao động của chỉ số cân nặng theo tuổi thấp và sự phân bố theo lớp tuổi của nó tương tự như ở chiều cao theo tuổi. Chiều cao theo tuổi phản ánh tiền sử dinh dưỡng; chiều cao theo tuổi thấp phản ánh sự chậm tăng trưởng do điều kiện dinh dưỡng không hợp lý và sức khoẻ kém. Đây là một chỉ số tốt để đánh giá sự cải thiện điều kiện kinh tế - xã hội. Chiều cao theo tuổi thấp, trẻ bị SDD thể còi, có nghĩa là trẻ đã bị thiếu dinh dưỡng từ trước và đã diễn ra trong thời kỳ dài.

Thường ở các nước đang phát triển tỷ lệ thấp còi tăng nhanh ở trẻ sau 3 tháng tuổi, đến 3 tuổi tỷ lệ này ổn định, sau đó chiều cao đứng trung bình đi song song với chiều cao đứng của quần thể tham khảo. Cân nặng theo chiều cao đánh giá tình trạng dinh dưỡng hiện tại; cân nặng theo chiều cao đứng thấp phản ánh SDD thời kỳ hiện tại (thể gày còm), trẻ thiếu ăn, làm cho ngừng lên cân hoặc tụt cân nên bị còm. Ở các nước nghèo, nếu không khan hiếm thực phẩm, tỷ lệ này thường dưới 5%; nếu từ 10-14% là cao và trên 15% là rất cao. Thường tỷ lệ này cao nhất ở 2 tuổi [41].

Tuy nhiên, để kiểm soát sự tăng trưởng của trẻ em nói chung thì việc chỉ sử dụng chỉ số cân nặng theo tuổi là không đủ. Vì vậy, người ta thường sử dụng thêm các chỉ số khối cơ thể (BMI) theo tuổi, vòng cánh tay trái duỗi (VCTTD), vòng đầu và bề dày lớp mỡ dưới da (BDLMDD) tại một số điểm trên cơ thể. BMI theo tuổi: chỉ số này được dùng để bổ sung cho chỉ số chiều cao/tuổi trong việc đánh giá mức độ gầy (BMI/tuổi thấp), thừa cân và béo phì (BMI/tuổi cao) cùng với còi (chiều cao/tuổi thấp) ở trẻ em trong độ tuổi đi học và người trưởng thành. Sử dụng riêng chỉ số cân nặng/tuổi chỉ có thể đánh giá sự tăng trưởng của trẻ trong giai đoạn trước 10 tuổi, bởi vì sau 10 tuổi thì chỉ số cân nặng/tuổi 5 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com không phân biệt được chiều cao đứng và cân nặng trong giai đoạn này khi có nhiều trẻ đang trải qua đỉnh tăng trưởng do dậy thì và nhiều trẻ có biểu hiện thừa cân nhưng thực tế là do chúng chỉ cao lên đơn thuần [121].

Vòng cánh tay trái duỗi: Vòng cánh tay trái duỗi (VCTTD) dựa trên một ngưỡng duy nhất cho trẻ dưới 5 tuổi đã được sử dụng trong nhiều năm trước với tư cách là một kích thước thay thế để đánh giá tình trạng của trẻ trong các cuộc khủng hoảng đói và tị nạn, đồng thời cũng là một công cụ sàng lọc trong các tình huống không khẩn cấp. Tuy vậy, gần đây có nhiều câu hỏi đặt ra về việc liệu VCTTD có độc lập với tuổi và giới tính hay không. Sau khi xem xét các bằng chứng khoa học về việc sử dụng và giải thích VCTTD, Hội đồng chuyên gia của WHO đã đề xuất dữ liệu tham chiếu VCTTD theo tuổi sử dụng cho trẻ dưới 5 tuổi. Tuy nhiên trong một số phạm vi, khó có thể xác định được tuổi của trẻ, vì vậy VCTTD theo chiều cao đứng có thể được dùng là chỉ số thay thế hợp lý.

Thước đo Quaker được WHO cải tiến là một công cụ đơn giản trong việc hiệu chỉnh ngưỡng VCTTD theo chiều cao đứng [142]. Bề dày lớp mỡ dưới da: Chỉ số BDLMDD tại các điểm trên cơ thể ban đầu được sử dụng để đánh giá tình trạng béo phì ở người trưởng thành. Tuy nhiên, nghiên cứu mới đây của WHO cho thấy: các chỉ số về lớp mỡ dưới da tại vị trí dưới mỏm bả và cơ tam đầu cánh tay là những chỉ số tiện dụng trong đánh giá tình trạng dinh dưỡng của trẻ dưới 5 tuổi. Vì vậy, các chỉ số về BDLMDD là các chỉ số bổ sung hữu ích trong việc đánh giá mức độ béo phì của trẻ [148].

Vòng đầu (được xác định bằng cách đo chu vi đầu qua hai điểm ở chẩm và trán (op-f)) thường được sử dụng trong lâm sàng để đánh giá các thiểu năng liên quan tới thần kinh hoặc tới quá trình phát triển của trẻ. Kích thước vòng đầu quá nhỏ hoặc quá lớn đều cảnh báo các nguy cơ về sức khỏe. Nghiên cứu của Malina và cộng sự cho rằng chỉ số vòng đầu ít có giá trị trong đánh giá tình trạng dinh dưỡng của người lớn và trẻ em (ngoại trừ trẻ sơ sinh) [115]. 6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.

SỰ PHÁT TRIỂN HÌNH THÁI CƠ THỂ TRẺ EM QUA TÌNH TRẠNG SUY DINH DƯỠNG 1. Tình hình suy dinh dưỡng trên thế giới 1. Suy dinh dưỡng thể nhẹ cân và thể còi Hội nghị lần thứ 35 của Ủy ban thường trực về dinh dưỡng của Liên Hiệp Quốc cho biết: trong năm 2007, có đến 1.000 trẻ em dưới 5 tuổi bị SDD thiếu cân (chiếm 21,2%) và 2.000 em bị SDD thể còi (chiếm 33,9%). Theo phân bố của loại SDD thể còi ở các quốc gia đang phát triển, dữ liệu mới nhất của WHO chia mức độ còi thành: mức thấp (< 20%), trung bình (20-29%), cao (30-39%) và rất cao (≥ 40%).

Kết quả cho thấy tỷ lệ thể còi rất cao xuất hiện ở nhiều quốc gia thuộc khu vực Châu Phi cận Sahara, Trung Nam Châu Á và Đông Nam Á. Đa số các nước ở khu vực Mỹ La Tinh và Caribê có tỷ lệ thể còi ở mức thấp hoặc trung bình [118]. Theo WHO, các khuynh hướng của SDD thể còi từ năm 1980 đến năm 2020 cho thấy tỷ lệ SDD thể còi tổng số ở các quốc gia đang phát triển sẽ tiếp tục giảm từ 29,8% (năm 2000) xuống còn 16,3% (năm 2020).

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ