CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. MỘT SỐ KHÁI NIỆM CƠ BẢN 1. Phát triển thể chất Phát triển thể chất ở người là quá trình tăng trưởng của các cơ, xương, sự thay đổi của giọng nói, sự tăng trưởng của lông ở nách và vùng mu.
Toàn bộ cơ thể được cấu tạo từ các tế bào, sự nhân lên của các tế bào giúp cơ thể tăng trưởng về kích thước. Phát triển thể chất bao gồm sự tăng trưởng về mặt thể chất và sự phát triển của quá trình vận động toàn thể (như đi bộ) và tinh vi (như vận động của các ngón tay) nhằm kiểm soát cơ thể. Tập quán dinh dưỡng Sự phát triển của trẻ phụ thuộc vào nhiều yếu tố, trong đó có vai trò quan trọng của gia đình và cộng đồng về chăm sóc dinh dưỡng. Quá trình chăm sóc dinh dưỡng được bắt đầu ngay từ khi người mẹ mang thai, giai đoạn cho bú và trong các giai đoạn tiếp theo.
Việc chăm sóc dinh dưỡng cho trẻ phụ thuộc vào nhiều yếu tố: số lượng, chất lượng chất dinh dưỡng và cách thức sử dụng, cung cấp nguồn dinh dưỡng đó (còn gọi là tập quán dinh dưỡng). Tập quán dinh dưỡng của người Việt Nam rất đa dạng, phụ thuộc vào từng vùng sinh thái, từng tộc người. Suy dinh dưỡng Suy dinh dưỡng là một trạng thái nghèo dinh dưỡng liên quan tới việc hấp thụ không đủ hoặc quá nhiều thức ăn, hấp thụ không đúng loại thức ăn và phản ứng của cơ thể với hàng loạt các lây nhiễm dẫn tới hấp thụ không tốt hoặc không có khả năng sử dụng các chất dinh dưỡng một cách hợp lý để duy trì sức khỏe. Về mặt lâm sàng, SDD được đặc trưng bởi sự hấp thụ thừa hoặc thiếu protein, năng lượng và các vi chất như vitamin và hậu quả là sự xuất hiện của các bệnh lây nhiễm và rối loạn [143].
3 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Theo ước tính của WHO (2002) trên thế giới có khoảng 150 triệu trẻ tương đương 26,7% tổng số trẻ dưới 5 tuổi bị SDD thể nhẹ cân, 182 triệu trẻ bị SDD thể còi. Trên 2/3 trẻ bị SDD trên thế giới tập trung ở Châu Á (đặc biệt là Nam Á) và 25,6% nằm ở Châu Phi. Ở Việt Nam, tỷ lệ SDD trẻ em đã giảm nhiều, năm 1985 là 51,5% giảm xuống còn 28,4% vào năm 2003 [1]. Mặc dù SDD có thể do những nguyên nhân khác nhau gây nên nhưng các loại SDD đều có ảnh hưởng giống nhau đến sức khỏe.
Mức độ hậu quả từ nhẹ đến nặng phụ thuộc vào chất dinh dưỡng nào và thời gian kéo dài của vấn đề này [59]. Nguyên nhân chính của SDD là do nghèo và hoàn cảnh kinh tế gia đình khó khăn, một bộ phận dân số (nhất là những người sống ở nông thôn hay vùng sâu, vùng xa) vẫn chưa đủ ăn. SDD là một trong những yếu tố nguy cơ có liên quan đến (hay nguyên nhân dẫn đến) các bệnh như tiêu chảy, nhiễm trùng, sốt rét, bệnh đường hô hấp, v. So với trẻ em phát triển bình thường, trẻ em SDD thường có chiều cao thấp hơn tiềm năng tăng trưởng, thể lực kém và trí thông minh suy giảm.
Do đó, SDD là một vấn nạn y tế cộng đồng, một phần vì những ảnh hưởng xấu đến sức khỏe, nhưng một phần tác hại đến tương lai và phát triển của một dân tộc. Các kích thước nhân trắc thường dùng trong đánh giá tình trạng dinh dưỡng trẻ em Chiều cao theo tuổi (chiều cao/tuổi), cân nặng theo tuổi (cân nặng/tuổi) và cân nặng theo chiều cao (cân nặng/chiều cao) là 3 chỉ số nhân trắc bắt nguồn từ các kích thước cân nặng và chiều cao đứng thường được sử dụng trong đánh giá tình trạng SDD. Mặc dù những chỉ số này có liên quan tới nhau nhưng mỗi chỉ số lại có một ý nghĩa đặc trưng về phương diện quá trình hoặc hậu quả của sự tăng trưởng không trọn vẹn. Hơn nữa, các bất thường về tình trạng thể chất dựa trên cơ sở của những chỉ số này cũng khác nhau ở các quần thể.
Trong một quần thể bình thường, tỷ lệ các cá thể có chiều cao/tuổi thấp thường cao hơn tỷ lệ các cá thể có cân nặng/chiều cao thấp. Nếu một cá thể có ít nhất một trong 3 chỉ số nhân trắc trên ở mức thấp so với giá trị của quần thể chuẩn thì cá thể đó rơi vào trạng thái SDD. 4 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Cân nặng theo tuổi tiện dụng cho việc nhận định tình trạng dinh dưỡng nói chung, nhưng không phân biệt được tình trạng thiếu dinh dưỡng mới gần đây hay đã kéo dài từ lâu. Tuy vậy, theo dõi cân nặng là việc tương đối dễ thực hiện ở cộng đồng hơn cả, nên tỷ lệ thiếu cân theo tuổi vẫn được sử dụng thông dụng như là tỷ lệ chung của thiếu dinh dưỡng (thể nhẹ cân) và được ứng dụng để theo dõi tăng trưởng thông qua biểu đồ.
Nhìn chung, trên phạm vi toàn cầu, sự dao động của chỉ số cân nặng theo tuổi thấp và sự phân bố theo lớp tuổi của nó tương tự như ở chiều cao theo tuổi. Chiều cao theo tuổi phản ánh tiền sử dinh dưỡng; chiều cao theo tuổi thấp phản ánh sự chậm tăng trưởng do điều kiện dinh dưỡng không hợp lý và sức khoẻ kém. Đây là một chỉ số tốt để đánh giá sự cải thiện điều kiện kinh tế - xã hội. Chiều cao theo tuổi thấp, trẻ bị SDD thể còi, có nghĩa là trẻ đã bị thiếu dinh dưỡng từ trước và đã diễn ra trong thời kỳ dài.
Thường ở các nước đang phát triển tỷ lệ thấp còi tăng nhanh ở trẻ sau 3 tháng tuổi, đến 3 tuổi tỷ lệ này ổn định, sau đó chiều cao đứng trung bình đi song song với chiều cao đứng của quần thể tham khảo. Cân nặng theo chiều cao đánh giá tình trạng dinh dưỡng hiện tại; cân nặng theo chiều cao đứng thấp phản ánh SDD thời kỳ hiện tại (thể gày còm), trẻ thiếu ăn, làm cho ngừng lên cân hoặc tụt cân nên bị còm. Ở các nước nghèo, nếu không khan hiếm thực phẩm, tỷ lệ này thường dưới 5%; nếu từ 10-14% là cao và trên 15% là rất cao. Thường tỷ lệ này cao nhất ở 2 tuổi [41].
Tuy nhiên, để kiểm soát sự tăng trưởng của trẻ em nói chung thì việc chỉ sử dụng chỉ số cân nặng theo tuổi là không đủ. Vì vậy, người ta thường sử dụng thêm các chỉ số khối cơ thể (BMI) theo tuổi, vòng cánh tay trái duỗi (VCTTD), vòng đầu và bề dày lớp mỡ dưới da (BDLMDD) tại một số điểm trên cơ thể. BMI theo tuổi: chỉ số này được dùng để bổ sung cho chỉ số chiều cao/tuổi trong việc đánh giá mức độ gầy (BMI/tuổi thấp), thừa cân và béo phì (BMI/tuổi cao) cùng với còi (chiều cao/tuổi thấp) ở trẻ em trong độ tuổi đi học và người trưởng thành. Sử dụng riêng chỉ số cân nặng/tuổi chỉ có thể đánh giá sự tăng trưởng của trẻ trong giai đoạn trước 10 tuổi, bởi vì sau 10 tuổi thì chỉ số cân nặng/tuổi 5 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com không phân biệt được chiều cao đứng và cân nặng trong giai đoạn này khi có nhiều trẻ đang trải qua đỉnh tăng trưởng do dậy thì và nhiều trẻ có biểu hiện thừa cân nhưng thực tế là do chúng chỉ cao lên đơn thuần [121].
Vòng cánh tay trái duỗi: Vòng cánh tay trái duỗi (VCTTD) dựa trên một ngưỡng duy nhất cho trẻ dưới 5 tuổi đã được sử dụng trong nhiều năm trước với tư cách là một kích thước thay thế để đánh giá tình trạng của trẻ trong các cuộc khủng hoảng đói và tị nạn, đồng thời cũng là một công cụ sàng lọc trong các tình huống không khẩn cấp. Tuy vậy, gần đây có nhiều câu hỏi đặt ra về việc liệu VCTTD có độc lập với tuổi và giới tính hay không. Sau khi xem xét các bằng chứng khoa học về việc sử dụng và giải thích VCTTD, Hội đồng chuyên gia của WHO đã đề xuất dữ liệu tham chiếu VCTTD theo tuổi sử dụng cho trẻ dưới 5 tuổi. Tuy nhiên trong một số phạm vi, khó có thể xác định được tuổi của trẻ, vì vậy VCTTD theo chiều cao đứng có thể được dùng là chỉ số thay thế hợp lý.
Thước đo Quaker được WHO cải tiến là một công cụ đơn giản trong việc hiệu chỉnh ngưỡng VCTTD theo chiều cao đứng [142]. Bề dày lớp mỡ dưới da: Chỉ số BDLMDD tại các điểm trên cơ thể ban đầu được sử dụng để đánh giá tình trạng béo phì ở người trưởng thành. Tuy nhiên, nghiên cứu mới đây của WHO cho thấy: các chỉ số về lớp mỡ dưới da tại vị trí dưới mỏm bả và cơ tam đầu cánh tay là những chỉ số tiện dụng trong đánh giá tình trạng dinh dưỡng của trẻ dưới 5 tuổi. Vì vậy, các chỉ số về BDLMDD là các chỉ số bổ sung hữu ích trong việc đánh giá mức độ béo phì của trẻ [148].
Vòng đầu (được xác định bằng cách đo chu vi đầu qua hai điểm ở chẩm và trán (op-f)) thường được sử dụng trong lâm sàng để đánh giá các thiểu năng liên quan tới thần kinh hoặc tới quá trình phát triển của trẻ. Kích thước vòng đầu quá nhỏ hoặc quá lớn đều cảnh báo các nguy cơ về sức khỏe. Nghiên cứu của Malina và cộng sự cho rằng chỉ số vòng đầu ít có giá trị trong đánh giá tình trạng dinh dưỡng của người lớn và trẻ em (ngoại trừ trẻ sơ sinh) [115]. 6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.
SỰ PHÁT TRIỂN HÌNH THÁI CƠ THỂ TRẺ EM QUA TÌNH TRẠNG SUY DINH DƯỠNG 1. Tình hình suy dinh dưỡng trên thế giới 1. Suy dinh dưỡng thể nhẹ cân và thể còi Hội nghị lần thứ 35 của Ủy ban thường trực về dinh dưỡng của Liên Hiệp Quốc cho biết: trong năm 2007, có đến 1.000 trẻ em dưới 5 tuổi bị SDD thiếu cân (chiếm 21,2%) và 2.000 em bị SDD thể còi (chiếm 33,9%). Theo phân bố của loại SDD thể còi ở các quốc gia đang phát triển, dữ liệu mới nhất của WHO chia mức độ còi thành: mức thấp (< 20%), trung bình (20-29%), cao (30-39%) và rất cao (≥ 40%).
Kết quả cho thấy tỷ lệ thể còi rất cao xuất hiện ở nhiều quốc gia thuộc khu vực Châu Phi cận Sahara, Trung Nam Châu Á và Đông Nam Á. Đa số các nước ở khu vực Mỹ La Tinh và Caribê có tỷ lệ thể còi ở mức thấp hoặc trung bình [118]. Theo WHO, các khuynh hướng của SDD thể còi từ năm 1980 đến năm 2020 cho thấy tỷ lệ SDD thể còi tổng số ở các quốc gia đang phát triển sẽ tiếp tục giảm từ 29,8% (năm 2000) xuống còn 16,3% (năm 2020).