mở đầu cuộc xâm lược của thực dân phương Tây ở Việt Nam, uy hiếp cửa ngõ phía Nam của kinh đô Huế, đe dọa sự tồn vong của triều đình nhà Nguyễn. Ngày 6/6/1884, Triều đình Huế ký vào Hiệp ước Patennôtre gồm 19 điều khoản. Hiệp ước đánh dấu sự công nhận địa vị thống trị của thực dân Pháp tại 15 Việt Nam, đất nước Việt Nam không còn là một quốc gia độc lập, trở thành chế độ quân chủ nửa thuộc địa, phải phụ thuộc vào Pháp, Việt Nam bị người Pháp chia thành 3 Kì (Nam Kì, Trung Kì và Bắc Kì) với các chế độ chính trị, bộ máy hành chính và hệ thống luật pháp khác nhau để dễ cai trị. Về góc độ pháp luật, luật hình sự được áp dụng ở Bắc Kì là Bộ luật Bắc kì 1918; tại Trung Kì là Hoàng Việt hình luật 1933 (trước kia là Bộ luật Gia Long); tại Nam Kì là Hình luật canh cải 1912 hay còn gọi là Bộ hình luật Nam phần thực chất là Bộ luật hình sự của Pháp 1810 đã được sửa đổi một số điều cho phù hợp với điều kiện chính trị, kinh tế, văn hóa xã hội Việt Nam đầu thế kỷ XX.
Nhìn chung, phạt tiền được quy định tại các bộ luật tại ba Kì của nước ta thời bấy giờ, cụ thể như: Trong Hình luật canh cải, “hình phạt bạc” được áp dụng tương xứng với mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội của bị cáo như “Khinh tội”; trong Hoàng Việt hình luật 1933, tại Điều 5 quy định tùy theo tội danh nặng hay nhẹ, chánh hình chia ra làm tội đại hình, tội trừng trị (phạt giam và phạt bạc) và tội vi cảnh (phạt giam và phạt bạc)” 1. Quy định của pháp luật hình sự Việt Nam về hình phạt tiền giai đoạn năm 1945 – 1975 Sau thành công của cuộc Cách mạng tháng 8 năm 1945, Lãnh tụ vĩ đại Hồ Chí Minh đọc bản Tuyên ngôn Độc lập Việt Nam. Với tầm nhìn xa, chỉ sau 11 ngày, kể từ ngày thành lập Nước Việt Nam dân chủ Cộng hòa (ngày 2/9/1945), ngày 13/9/1945, Chủ tịch Chính phủ lâm thời Nước Việt Nam dân chủ Cộng hòa Hồ Chí Minh đã ký ban hành Sắc lệnh số 33c/SL về việc thành lập Tòa án quân sự trong phạm vi cả nước để xét xử tất cả các người nào vi phạm một việc gì có phương hại đến nền độc lập của Nước Việt Nam dân chủ cộng. Trong Sắc lệnh này chưa quy định về HPT.
Ngày 30/11/1945, Chủ tịch chính phủ lâm thời ban hành Sắc lệnh số 68 về việc ấn định thể lệ về việc trưng dụng, trưng thu và trưng tập, có quy định phạt tiền. Nội dung hình phạt quy định với những người không chấp hành lệnh trưng thu, trưng dụng hoặc trưng tập sẽ có thể bị phạt tiền từ một trăm đồng đến hai nghìn đồng đồng thời sẽ bị phạt tù tối thiểu ba ngày và tối đa ba tháng. Tùy từng 16 trường hợp và mức độ vi phạm mà có thể cân nhắc một trong hai hình phạt trên hoặc cho phạm nhân hưởng án treo. Sắc lệnh 68 còn quy định rõ hình phạt đối với người tái phạm: bị phạt tiền mức độ nặng hơn tối thiểu ba nghìn đồng và tối đa hai vạn đồng và bị phạt tù từ hai tháng đến hai năm.
Ngày 16/8/1945, Chủ tịch Chính phủ Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa ban hành Sắc lệnh số 157-SL v/v bắt buộc các thứ thuốc chế bắt buộc các thứ thuốc chế theo cách bào chế thái tây phải có dán một nhãn hiệu, có quy định phạt tiền: “… bị phạt bạc đến một vạn đồng bạc (10.000$) và có thể bị bắt đóng cửa hiệu bào chế…” Sắc lệnh số 223 được ban hành bởi Chủ tịch Chính phủ Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa vào ngày 27/11/1946 quy định phạt tiền đối với tội đưa và nhận hối lộ: Khổ sai từ 5 năm đến 20 năm và phạt tiền gấp đôi đối với tang vật sử dụng để hối lộ, biển thủ công quỹ Giai đoạn năm 1946 – 1954, là một trong những khoảng thời gian trọng đại và khắc nghiệt nhất trong lịch sử Việt Nam. Giai đoạn này được chia làm ba phần: (i) Năm 1946-1950: Cuộc kháng chiến chống Pháp toàn quốc bùng nổ ngày 19-12-1946 và chiến dịch Việt Bắc thu-đông 1947; (ii) Năm 1950-1953: Chiến dịch Biên giới Thu-đông: và (iii) Năm 1953-1954: Cuộc tiến công chiến lược Đông-Xuân, chiến thắng Điện Biên Phủ. Đất nước đang trong điều kiện chiến tranh như thế, nhưng Chính phủ nước ta cũng đã kịp thời ban hành một số sắc lệnh hình sự tương đối lớn, trong đó có một số văn bản quy định liên quan đến phạt tiền, cụ thể như sau: - Ngày 02/3/1948, Chủ tịch Chính phủ Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa ban hành Sắc lệnh 144-SL v/v cấm giết trâu bò, có quy định: “…phạt tiền từ 1. Số thịt bắt được sẽ tịch thu cho bộ đội.
Sắc lệnh 144 cũng nêu rõ quy định với trường hợp tái phạm, có thể bị phạt tiền gấp đôi …Điều này thể hiện rõ tính răn đe người phạm tội không tái phạm. - Ngày 11/11/1948, Chủ tịch Chính phủ ban hành Sắc lệnh số 257B/SL về việc ấn định thể lệ truy tố những vụ phạm pháp về thể lệ mậu dịch giữa vùng tự do và vùng bị địch tạm chiếm, để sửa đổi bổ sung điều 2 Sắc lệnh số 222-SL của 17 chủ tịch Chính phủ ngày 20/8/1948, có quy định: Phạt tù từ ba tháng đến năm năm và phạt tiền tối thiểu là giá tổng số hàng lậu bị bắt giữ. Tùy từng trường hợp có thể cân nhắc áp dụng hình phạt tù hoặc hình phạt tiền. Các văn bản pháp luật quy định về phạt tiền trong giai đoạn từ 1945 – 1954 có nội dung đơn giản, chưa cụ thể và rõ ràng.
Nên sẽ gặp những bất cập trong quá trình thi hành, áp dụng. Sau thắng lợi của chiến dịch Điện Biên Phủ (7-5-1954), kết thúc cuộc kháng chiến trường kỳ, gian khổ của nhân dân ta chống thực dân Pháp xâm lược, miền Bắc nước ta được giải phóng, Nhân dân ta dưới sự lãnh đạo của Trung ương Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh đi lên xây dựng cuộc sống mới Xã hội chủ nghĩa, trong khi đó miền Nam tiến hành cuộc cách mạng dân tộc dân chủ nhằm giải phóng miền Nam khỏi ách thống trị của đế quốc Mỹ. Pháp luật hình sự thời kỳ này vẫn được Nhà nước ta duy trì áp dụng trong suốt quá trình này, đặc biệt phạt tiền trong các văn bản pháp luật hình sự thời kỳ này có sự tiến bộ vượt bậc, từ chỗ đơn giản tiến đến việc quy định chi tiết, minh bạch và cụ thể hơn. Ví dụ 1: Ngày 14 tháng 12 năm 1956, Chủ tịch Nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa đã ban hành Sắc lệnh số 282/SL kèm theo Luật về chế độ báo chí, có quy định phạt tiền tại Điều 13: Trường hợp xuất bản báo khi chưa được chính phủ cấp giấy phép hoặc nếu đã được cấp phép nhưng chưa xin phép và khai báo lại khi có thay đổi về tên báo, tôn chỉ, mục đích.sẽ bị tịch thu ấn phẩm, đình bản vĩnh viễn và bị phạt tiền từ mười vạn đồng (100.000 đ) đến năm mươi vạn đồng (500.000 đ), hoặc người có trách nhiệm bị phạt tù từ một tháng đến một năm, hoặc cả hai hình phạt đó.
Hoặc báo chí không nộp lưu chiểu trước khi phát hành sẽ bị cảnh cáo hoặc tịnh thu ấn phẩm. Ví dụ 2: Ngày 19/4/1957, Chủ tịch Nước ban hành Nghị quyết số 001-SLT Chuẩn y sắc luật số 001/SLt ngày 19 tháng 4 năm 1957 cấm chỉ mọi hành động đầu cơ về kinh tế, sau khi sửa đổi và bổ sung điều 3 của sắc luật như sau: “Bị phạt tiền với mức từ 100.000 đồng (mười vạn) đến một 100.000 đồng và phạt tù từ 1 tháng đến 5 năm. Áp dụng một trong hai hình phạt trên”. Đến ngày 21/10/1970, Ủy ban Thường vụ Quốc Hội ban hành Pháp lệnh số 149/LCT v/v trừng trị các tội xâm phạm tài sản XHCN, cụ thể tại Điều 20, quy 18 định về hình phạt phụ: “….có thể bị phạt tiền từ 50 đồng đến 5.000 đồng hoặc bị tịch thu một phần hay là toàn bộ tài sản tuỳ theo tính chất nghiêm trọng của tội phạm hoặc nguồn thu lợi bất chính” Và ngày 20/10/1970, Ủy ban Thường vụ Quốc Hội ban hành Pháp lệnh số 149/LCT v/v trừng trị các tội xâm phạm tài sản riêng của công dân, cụ thể tại: Điều 16, quy định về hình phạt phụ : “…thể bị phạt tiền từ 50 đồng đến 3.000 đồng hoặc bị tịch thu một phần hay là toàn bộ tài sản” Như vậy, chúng ta thấy mọi hành động xâm phạm tài sản XHCN và tài sản riêng của công dân phải được phát hiện kịp thời và xử lý nghiêm minh, hai pháp lệnh này đánh dấu một bước tiến rất quan trọng trong kỹ thuật lập pháp hình sự ở nước ta.
Đây là lần đầu tiên phạm vi, điều kiện áp dụng phạt tiền được quy định rất cụ thể, chi tiết mặc dù chỉ được quy định phạt tiền là hình phạt phụ. Nhưng sự tiến bộ vượt bậc này đã giúp cho việc thi hành, áp dụng được chính xác, phù hợp với thực tế và có tính răn đe cao đối với người dân cũng như các tổ chức giai đoạn này. Quy định của pháp luật hình sự Việt Nam về hình phạt tiền giai đoạn năm 1975 – 1985 Trong giai đoạn đất nước mới giải phóng 1975-1985 thì nhiệm vụ trọng tâm được Nhà nước chú trọng chủ yếu tập là tái thiết đất nước và củng cố chính quyền cách mạng. Bộ luật hình sự chưa có các văn bản pháp luật cụ thể nên chưa phát huy được vài trò cũng như chưa thể xử lý các tội phạm trong xã hội.
Giai đoạn này pháp luật vẫn duy trì các qui định trước đây. Chủ yếu là áp dụng tiền lệ pháp để xử lý hành vi phạm tội nói chung. Năm 1980 theo hiến pháp của nước CHXHCN VN quy đinh: NN thực hiện quản lý XH theo PL và không ngừng tăng cường pháp chế XHCN Trong hệ thống phát luật, luật hình sự giữ một vai trò quan trọng và là một công cụ đắc lực của Nhà nước giúp bảo vệ thành quả của cách mạng đem lại, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, trật tự an ninh quốc gia, an toàn xã hội, quyền lợi hợp pháp của công dân, đấu tranh chống và phòng ngừa mọi hành vi phạm tội. Vì vậy, BLHS góp phần XD thành công XHCN và BV tổ quốc VN XNCN 19 Pháp lệnh về trừng trị về tội hối lộ được ban hàng ngày 20/05/1981 của UB Thường Vụ QH ban hành.