Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LUẬT VỀ ÁP DỤNG HÌNH PHẠT TIỀN 1. Khái niệm, đặc điểm và ý nghĩa của áp dụng hình phạt tiền 1. Khái niệm áp dụng hình phạt tiền Trong các sách báo pháp lý của Việt Nam, khái niệm áp dụng hình phạt tiền được đề cập đến trong nhiều tác phẩm với nội dung có những điểm khác nhau nhất định. Đa số các nhà nghiên cứu coi áp dụng hình phạt tiền chỉ là một trong các hình thức thực hiện pháp luật, song có nhà nghiên cứu lại coi áp dụng hình phạt tiền đồng nghĩa với thực hiện pháp luật, tức là bao gồm tất cả các hình thức thực hiện pháp luật [19] [59].
Trên cơ sở tìm hiểu các quan niệm khác nhau về áp dụng hình phạt tiền, có thể đồng tình với quan niệm của đa số các tác giả coi áp dụng hình phạt tiền là một trong các hình thức thực hiện pháp luật và đó là hình thức thực hiện pháp luật có sự can thiệp của Nhà nước. Chúng tôi cho rằng nên xây dựng khái niệm áp dụng theo hướng đề cập đến tất cả các đặc điểm của nó. Theo hướng này, có thể định nghĩa về áp dụng hình phạt tiền như sau: Áp dụng hình phạt tiền là hoạt động có tính tổ chức, quyền lực Nhà nước, do Tòa án tiến hành nhằm cá biệt hoá các quy phạm pháp luật hiện hành về hình phạt tiền vào những trường hợp cụ thể, đối với các cá nhân và pháp nhân thương mại phạm tội. Đặc điểm áp dụng hình phạt tiền Từ định nghĩa áp dụng hình phạt tiền ta thấy, áp dụng hình phạt tiền có các đặc điểm sau: Thứ nhất, áp dụng hình phạt tiền là hoạt động có tính tổ chức, quyền lực Nhà nước.
Nếu quan niệm thực hiện pháp luật có bốn hình thức thì chỉ có duy nhất áp dụng áp dụng hình phạt tiền là hình thức luôn luôn thể hiện tính tổ chức, quyền lực Nhà nước. Điều đó được thể hiện qua chủ thể tiến hành, trình tự, thủ tục tiến hành hoạt động áp dụng hình phạt tiền và kết quả của quá trình áp dụng hình phạt tiền. Cụ thể: Hoạt động áp dụng hình phạt tiền chỉ do các cơ quan, tổ chức hoặc cá nhân có thẩm quyền theo quy định của pháp luật tiến hành và mỗi chủ thể đó cũng chỉ được phép áp dụng hình phạt tiền trong một phạm vi nhất định theo quy định của pháp luật. Chẳng hạn, trong hệ thống các cơ quan, tổ chức Nhà nước thì chỉ Toà án mới có quyền xét xử để định tội và định hình phạt cho người hoặc pháp nhân thương mại phạm tội.
Chủ thể tiến hành áp dụng hình phạt tiền là thẩm phán. Trong quá trình áp dụng hình phạt tiền, chủ thể có thẩm quyền áp dụng nhân danh Nhà nước, sử dụng quyền lực Nhà nước để xét xử, ra các bản án có giá trị bắt buộc phải chấp hành đối với các bị cáo và những người có liên quan. Các mệnh lệnh, quyết định này luôn thể hiện ý chí đơn phương của chủ thể có thẩm quyền áp dụng mà không phụ thuộc vào ý chí của chủ thể là đối tượng áp dụng. Tuy nhiên, cần lưu ý rằng, ý chí đơn phương của chủ thể có thẩm quyền không thể là ý chí cá nhân, tuỳ tiện của người áp dụng mà phải là ý chí được xây dựng trên cơ sở pháp luật, căn cứ vào pháp luật và phù hợp với pháp luật.
Các mệnh lệnh, quyết định áp dụng hình phạt tiền được Nhà nước bảo đảm thực hiện bằng các biện pháp mang tính quyền lực Nhà nước. Thông thường, sau khi ban hành ra các mệnh lệnh, quyết định áp dụng hình phạt tiền, các chủ thể có thẩm quyền sẽ công bố công khai cho đối tượng áp dụng để họ biết mà thực hiện. Áp dụng hình phạt tiền là hoạt động có tính tổ chức rất cao vì nó vừa là hình thức thực hiện pháp luật vừa là hình thức Nhà nước tổ chức cho các chủ thể thực hiện các quy định của pháp luật. Vì thế, hoạt động này phải được tiến hành theo những điều kiện, trình tự, thủ tục rất chặt chẽ do pháp luật quy định.
Nói chung, các quyết định do các chủ thể có thẩm quyền ban hành ra trong quá trình áp dụng hình phạt tiền có ảnh hưởng rất lớn đến lợi ích của người được áp dụng, nó có thể tước bỏ của người ta lợi ích rất lớn bắt người ta phải gánh chịu những hậu quả rất nặng nề chính là bản án hình sự. Do vậy, để đảm bảo tính đúng đắn, chính xác của quá trình áp dụng hình phạt tiền, hoạt động này không thể được tiến hành một cách tuỳ tiện mà phải theo những trình tự, thủ tục và trên cơ sở những điều kiện rất chặt chẽ do pháp luật quy định. Thứ hai, áp dụng hình phạt tiền là hoạt động điều chỉnh cá biệt, cụ thể đối với các quan hệ xã hội hay là hoạt động nhằm cá biệt hoá các quy phạm pháp luật hiện hành vào những trường hợp cụ thể, đối với các cá nhân cụ thể. Các quy phạm pháp luật là những quy tắc xử sự chung nên không chỉ rõ chủ thể cụ thể và trường hợp cụ thể cần áp dụng.
Khi một quy phạm nào đó được áp dụng vào việc giải quyết một vụ việc thực tế của một chủ thể cụ thể thì có nghĩa là quy phạm đó đã được cá biệt hoá vào trường hợp của chủ thể đó. Tuy nhiên, cần lưu ý rằng, các quy phạm được áp dụng vào việc giải quyết các vụ việc thực tế, cụ thể hay được cá biệt hoá phải là các quy phạm pháp luật hiện hành hay các quy phạm đang còn hiệu lực pháp lý. Vì vậy, khi tiến hành áp dụng hình phạt tiền, chủ thể có thẩm quyền không thể lựa chọn và áp dụng các quy phạm pháp luật đã hết hiệu lực. Các đặc điểm trên làm cho áp dụng hình phạt tiền khác hoàn toàn với các hình thức thực hiện pháp luật khác, bởi lẽ, chủ thể của các hình thức tuân theo, thi hành, sử dụng pháp luật có thể là bất kỳ tổ chức, cá nhân nào trong xã hội; trong khi đó, chủ thể tiến hành áp dụng hình phạt tiền chỉ có thể là chủ thể có thẩm quyền theo quy định của pháp luật.
Thứ ba, áp dụng hình phạt tiền là hoạt động phải tuân theo những hình thức và thủ tục chặt chẽ do pháp luật quy định. Khi tuân theo, thi hành hoặc sử dụng pháp luật, chủ thể có thể không cần đưa ra một quyết định pháp lý nào và cũng có thể không bị bắt buộc phải theo những trình tự, thủ tục nhất định. Còn khi áp dụng pháp luật hình phạt tiền, chủ thể có thẩm quyền luôn bị bắt buộc phải tiến hành theo những điều kiện, trình tự, thủ tục chặt chẽ do pháp luật quy định và bao giờ cũng phải đưa ra một quyết định áp dụng hình phạt tiền để giải quyết vụ việc mà mình thụ lý. Có thể nói, áp dụng hình phạt tiền bao hàm cả ba hình thức trên bởi lẽ, trong quá trình áp dụng hình phạt tiền, chủ thể có thẩm quyền cũng có thể bị cấm thực hiện những hành vi nhất định và họ phải tuân theo pháp luật, họ cũng phải thực hiện những nghĩa vụ pháp lý nhất định, tức là phải thi hành pháp luật, đồng thời có những quyền hạn nhất định tức là có thể sử dụng pháp luật.
Nếu xem xét một cách chi tiết, cụ thể trong thực tế cuộc sống thì sẽ có vô vàn trường hợp cần áp dụng pháp luật, bởi lẽ, pháp luật được ban hành để điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong nhiều lĩnh vực của đời sống, từ dân sự, hình sự đến hôn nhân và gia đình, tài chính, đất đai… Song nếu khái quát lại để xem xét về mặt lý luận thì có thể thấy, hoạt động áp dụng hình phạt tiền được tiến hành trong các trường hợp sau: Khi quyền và nghĩa vụ pháp lý của chủ thể không mặc nhiên phát sinh, thay đổi hoặc chấm dứt. Xem xét nội dung các quy định cụ thể của pháp luật, ta thấy, mặc dù trong nhiều quy phạm pháp luật đã quy định rõ quyền và nghĩa vụ pháp lý cho các chủ thể, song các chủ thể không thể tự mình thực hiện được các quyền và nghĩa vụ đó mà cần phải có sự can thiệp của Nhà nước thông qua hoạt động của các cơ quan, tổ chức hoặc cá nhân có thẩm quyền. Khi cần áp dụng các biện pháp cưỡng chế Nhà nước đối với các chủ thể vi phạm pháp luật. Để bảo đảm cho pháp luật được thực hiện một cách nghiêm chỉnh và tự giác bởi mọi chủ thể trong xã hội, nhiều quy phạm pháp luật đã quy định các biện pháp cưỡng chế Nhà nước cần áp dụng với người vi phạm trong phần chế tài của nó.
Việc áp dụng một biện pháp cưỡng chế Nhà nước cụ thể với một chủ thể cụ thể là bắt họ phải gánh chịu những hậu quả pháp lý bất lợi hay những sự thiệt hại nhất định về tài sản, về nhân thân, về tự do… Vì thế, để đảm bảo công bằng xã hội, chỉ có các chủ thể có thẩm quyền mới có thể áp dụng và hoạt động áp dụng của họ phải được tiến hành theo những điều kiện, trình tự, thủ tục chặt chẽ do pháp luật quy định. Ý nghĩa của áp dụng hình phạt tiền - Áp dụng hình phạt tiền là một hoạt động có tính chất chuyển tải quy định về hình phạt tiền vào trong thực tiễn, nếu không có hoạt động áp dụng thì nó không thể chuyển tải trong thực tiễn mà chỉ dừng lại ở các quy phạm trên giấy, không có giá trị thực tiễn. Trong hệ thống hình phạt, phạt tiền là hình phạt vừa được quy định là HPC, vừa được quy định là HPBS. Như vậy, nếu coi hệ thống hình phạt được cấu thành từ hai hệ nhỏ: hệ các HPC và hệ các HPBS thì hình phạt tiền có mặt ở cả hai hệ đó.
Việc áp dụng hình phạt tiền cho phép Tòa án áp dụng có hiệu quả hơn đối với một số tội phạm trong lĩnh vực nhất định, giúp cho việc cá thể hóa trách nhiệm hình sự và hình phạt đối với người phạm tội, tránh việc lạm dụng hình phạt tước tự do, đồng thời có thể sung quỹ Nhà nước một khoản tiền nhất định. Tuy nhiên, quy định về hình phạt tiền chỉ có thể phát huy vai trò của mình một cách đầy đủ khi chúng được các chủ thể có thẩm quyền áp dụng trong việc xử lý các hành vi phạm tội tương ứng. Thiếu hoạt động này, quy định về hình phạt tiền chỉ đơn giản là những quy định thiếu sức sống.