Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LUẬT HÌNH SỰ VỀ HÌNH PHẠT TIỀN 1. Khái niệm, mục đích và ý nghĩa của hình phạt tiền 1. Khái niệm hình phạt tiền Tội phạm có nhiều loại khác nhau, mỗi loại tội phạm khi xảy ra trong thực tế lại có tính chất và mức độ nguy hiểm nhất định cho xã hội, do đó đòi hỏi nhà làm luật phải quy định nhiều loại hình phạt khác nhau để xử lí cho phù hợp, vừa đảm bảo tính nghiêm minh của pháp luật vừa thể hiện chính sách nhân đạo của nhà nước. Do vậy, BLHS Việt Nam quy định nhiều loại hình phạt khác nhau phù hợp với từng loại tội phạm và hành vi phạm tội.
Để hiểu rõ hơn khái niệm, mục đích và ý nghĩa của hình phạt tiền, trước tiên cần phải làm rõ khái niệm, mục đích và ý nghĩa của hình phạt nói chung Các văn bản pháp Luật hình sự trước năm 1985 chưa có một khái niệm pháp lí về hình phạt, xong các công trình nghiên cứu của các nhà luật học, các cơ sở đào tạo luật có rất nhiều quan điểm về khái niệm hình phạt. Tác giả xin viện dẫn một vài quan điểm sau đây: “Hình phạt là biện pháp cưỡng chế do Tòa án quyết định trong bản án với người có lỗi trong việc thực hiện tội phạm và được thể hiện ở việc tước đoạt hoặc hạn chế các quyền và lợi ích do pháp luật quy định đối với người bị kết án” [56, tr. “Hình phạt là biện pháp cưỡng chế Nhà nước do Tòa án áp dụng đối với người thực hiện tội phạm theo quy định của Luật Hình sự, tước bỏ hoặc hạn chế quyền và lợi ích nhất định của người bị kết án nhằm mục đích giáo dục cải tạo người phạm tội nhằm ngăn ngừa họ phạm tội mới” [23, tr. 23] “Hình phạt là biện pháp cưỡng chế Nhà nước được Luật Hình sự quy định và do Tòa án áp dụng có nội dung tước bỏ hoặc hạn chế quyền và lợi ích 8 của người phạm tội, nhằm trừng trị, giáo dục họ cũng như nhằm giáo dục người khác tôn trọng pháp luật, đấu tranh chống và phòng ngừa tội phạm” [18, tr.
Tất cả các quan điểm trên đã đều chỉ ra được thuộc tính, nội dung của hình phạt là tước đoạt hoặc hạn chế quyền và lợi ích của người phạm tội, đối tượng áp dụng là người phạm tội, cơ quan có thẩm quyền áp dụng là Tòa án và hình phạt được quy định trong luật, nhưng lại lồng ghép cả mục đích của hình phạt vào trong khái niệm là không cần thiết. Đến tận những năm 1985 thì trong lịch sử lập pháp hình sự Việt Nam, khái niệm về hình phạt lần đầu tiên được quy định tại Điều 23 BLHS năm 1985: “Hình phạt là biện pháp cưỡng chế nghiêm khắc nhất của Nhà nước nhằm tước bỏ hoặc hạn chế quyền, lợi ích của người phạm tội. Hình phạt được quy định trong BLHS và do Tòa án quyết định” [31]. Quan điểm của tác giả cũng thống nhất với khái niệm về hình phạt theo quy định của BLHS năm 1985.
Mặc dù có nhiều quan điểm khác nhau về khái niệm của hình phạt, theo tác giả để có một quan niệm chính xác nhất về hình phạt nó phải phản ánh được nội dung, bản chất và vai trò của hình phạt. Đó là hình phạt phải phản ánh được những đặc trưng thực chất cơ bản bên trong của nó. Nghiên cứu cho thấy, hình phạt dù biểu hiện dưới dạng hình phạt chính hoặc là hình phạt bổ sung, cũng đều có những đặc điểm (dấu hiệu) cơ bản sau: - Là biện pháp cưỡng chế nghiêm khắc của Nhà nước; - Là biện pháp cưỡng chế được quy định trong BLHS; - Là biện pháp cưỡng chế do Tòa án áp dụng; - Chỉ áp dụng đối với cá nhân người phạm tội. Và hình phạt tiền cũng vậy, dù là hình phạt chính hay hình phạt bổ sung cũng phải thể hiện được bốn dấu hiệu cơ bản nêu trên, việc quy định hình phạt tiền trong hệ thống hình phạt có ý nghĩa chính trị - xã hội to lớn, 9 góp phần đa dạng hóa các biện pháp xử lí hình sự trong hoạt động đấu tranh phòng, chống tội phạm, phù hợp với chính sách hình sự của Nhà nước ta cũng như yêu cầu hội nhập quốc tế.
Hình phạt tiền có tên gọi tiếng Pháp là “amende”, tiếng Đức là “Geldstrafe”, tiếng Anh là “Fine” và tiếng Ả Rập là “Diya” và nó thể hiện trong cái gọi là “Fridensgeld” hoặc “argent de la paix”, nghĩa là số tiền nhất định mà người phạm tội phải nộp cho cộng đồng để thiết lập lại hòa bình thông qua quyết định tư pháp của quan tòa [50, tr. Dưới góc độ khoa học Luật Hình sự, trong các giáo trình, các sách báo pháp lí chuyên ngành có nhiều khái niệm khác nhau về hình phạt tiền. Tác giả xin nêu ra một số quan điểm có nói đến khái niệm hình phạt tiền: “Hình phạt tiền là một loại hình phạt được áp dụng với tư cách là hình phạt chính hoặc hình phạt bổ sung, khi hình phạt chính là loại hình phạt khác, do Tòa án quyết định trong những trường hợp do BLHS quy định mà theo đó người bị kết án bị tước một số tiền nhất định tùy theo mức độ nghiêm trọng của tội phạm trên cơ sở xem xét đến tình hình tài sản của người bị kết án và sự biến động của giá cả thị trường” [42, tr. “Phạt tiền là hình phạt không tước tự do, nhẹ hơn hình phạt cải tạo không giam giữ, buộc người bị kết án phải nộp sung công quỹ nhà nước một khoản tiền nhất định” [17, tr.
“Phạt tiền là hình phạt tước của người phạm tội một khoản tiền nhất định sung công quỹ nhà nước” [10, tr. Điểm chung của các khái niệm trên là đều chỉ ra dấu hiệu pháp lí đặc trưng của hình phạt tiền là “tước của người phạm tội một khoản tiền nhất định sung công quỹ nhà nước”. Song các khái niệm nêu trên còn chưa phù hợp với một khái niệm mang tính chất pháp lí. Thuật ngữ “người phạm tội” và “người bị kết án” được sử dụng không nhất quán, tuy đều được dùng để 10 chỉ đối tượng bị áp dụng hình phạt tiền.
Theo quan điểm của tác giả sẽ là chính xác hơn nếu sử dụng thuật ngữ “người bị kết án” thay cho thuật ngữ “người phạm tội” trong các khái niệm về hình phạt tiền. Bởi lẽ, chỉ có người bị kết án mới phải chịu hình phạt, còn người phạm tội chỉ phải chịu hình phạt nếu người bị kết án theo bản án có hiệu lực pháp luật của Tòa án. Do vậy, cần xây dựng một khái niệm ngắn gọn, chỉ ra được các dấu hiệu pháp lí đặc trưng, nội dung và một cách hiểu thống nhất về hình phạt này. Như vậy, từ việc tìm hiểu, phân tích các kết quả nghiên cứu của các tác giả trên, kết hợp với quy định tại Điều 30 BLHS hiện hành, tác giả đưa ra quan điểm của mình về khái niệm hình phạt tiền như sau: “Phạt tiền là hình phạt buộc người bị kết án phải nộp một khoản tiền nhất định sung công quỹ Nhà nước theo quy định của Bộ luật này”.
Đây là khái niệm phản ánh tương đối đầy đủ các dấu hiệu đặc trưng, nội dung pháp lí của hình phạt tiền. Hình phạt tiền là một hình phạt nằm trong hệ thống các hình phạt được quy định trong BLHS, vì vậy mà hình phạt tiền cũng mang đầy đủ những đặc điểm đặc trưng của hình phạt với tư cách là chế tài hình sự, đồng thời cũng có những đặc điểm đặc trưng riêng của nó. Cụ thể: - Hình phạt tiền cũng là một trong những biện pháp cưỡng chế nghiêm khắc của Nhà nước. So với phạt tiền được quy định trong các biện pháp cưỡng chế khác của Nhà nước (Luật Dân sự, Luật Hành chính) thì phạt tiền với tư cách là một hình phạt được quy định trong BLHS mang tính cưỡng chế nghiêm khắc hơn cả.
Bản chất, nội dung và thuộc tính pháp lí của hình phạt tiền thể hiện ở việc nó tước đi của người bị kết án một khoản tiền nhất định, nghĩa là trực tiếp làm hạn chế về mặt lợi ích vật chất của người bị kết án, qua đó giáo dục người phạm tội, ngăn ngừa họ phạm tội mới, đồng thời đấu tranh phòng, chống tội phạm nói chung. Người bị kết án phạt tiền còn phải gánh chịu hậu quả là phải mang án tích trong một khoảng thời gian nhất định. Mức 11 tiền phạt tối thiểu và tối đa trong Luật hình sự cũng cao hơn so với quy định về phạt tiền trong các biện pháp cưỡng chế khác của Nhà nước. - Hình phạt tiền được quy định trong BLHS.
Trong BLHS năm 1999, hình phạt tiền được quy định ở cả phần chung và phần các tội phạm. Phần chung quy định phạm vi áp dụng, nguyên tắc áp dụng hình phạt tiền và các quy định khác có liên quan đến hình phạt tiền, cách thức thi hành hình phạt tiền. Phần các tội phạm quy định phạt tiền với tư cách hình phạt chính hay hình phạt bổ sung với các tội phạm cụ thể. - Hình phạt tiền do Tòa án quyết định đối với người bị kết án theo một trình tự riêng biệt.
Theo quy định thì Tòa án là cơ quan duy nhất có thẩm quyền nhân danh Nhà nước áp dụng hình phạt đối với người bị kết án. Việc áp dụng hình phạt tiền đối với người bị kết án của Tòa án phải tuân thủ nghiêm ngặt các trình tự, thủ tục được quy định trong BLTTHS. - Hình phạt tiền là buộc người bị kết án phải nộp một khoản tiền nhất định sung quỹ nhà nước. Khoản tiền nhất định mà người bị kết án phải nộp là khoản tiền nằm trong giới hạn mức tối thiểu và mức tối đa của điều luật cụ thể quy định.
Người bị kết án chỉ bị áp dụng hình phạt tiền khi mà điều luật cụ thể trong phần các tội phạm của BLHS quy định về tội phạm mà người đó đã thực hiện có quy định phạt tiền là hình phạt chính hoặc là hình phạt bổ sung. Các trường hợp phạm tội mà điều luật đó không quy định phạt tiền thì Tòa án không được áp dụng hình phạt tiền với người bị kết án. Khoản tiền bị tước phải tùy thuộc vào tính chất và mức độ nghiêm trọng của tội phạm, có xét đến tình hình tài sản của người phạm tội, cũng như sự biến động của giá thị trường.