Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ HÌNH PHẠT BỔ SUNG TRONG LUẬT HÌNH SỰ 1. Khái niệm, đặc điểm và vai trò của hình phạt bổ sung 1. Khái niệm hình phạt bổ sung - Khái niệm hình phạt Trong quá trình đấu tranh phòng ngừa và chống tội phạm, Nhà nước sử dụng nhiều biện pháp khác nhau kể cả các biện pháp mang tính cưỡng chế hình sự. Và hình phạt là biện pháp quan trọng, là một trong những biện pháp cưỡng chế hình sự được nhà nước sử dụng để áp dụng đối với người có lỗi trong việc thực hiện tội phạm.
Tội phạm và hình phạt là những chế định quan trọng nhất trong luật hình sự, có quan hệ gắn bó hữu cơ với nhau. Khi nói đến luật hình sự, dù đề cập nội dung cụ thể nào thì tập trung lại cũng nhằm đi đến vấn đề tội phạm và hình phạt. Luận Khái niệm văn hình phạt, lầnthạc đầu tiênsĩ Luật được học ghi nhận tại Điều 26 BLHS 1999: "Hình phạt là biện pháp cưỡng chế nghiêm khắc nhất của Nhà nước nhằm tước bỏ hoặc hạn chế quyền, lợi ích của người phạm tội. Hình phạt được quy định trong Bộ luật hình sự và do Toà án quyết định” [19].
Mặc dù khái niệm hình phạt đã được ghi nhận trong pháp luật hình sự, tuy nhiên cho đến nay các nhà luật học ở nước ta vẫn đưa ra nhiều khái niệm khác nhau về hình phạt. Chẳng hạn có quan điểm cho rằng: Hình phạt là biện pháp cưỡng chế nghiêm khắc nhất của Nhà nước được áp dụng trong bản án kết tội có hiệu lực pháp luật của Tòa án để tước bỏ hay hạn chế quyền tự do của người bị kết án, theo các quy định của pháp luật hình sự [5, tr. Theo một quan điểm khác: Hình phạt là biện pháp cưỡng chế nghiêm khắc nhất được Bộ luật hình sự quy định do Tòa án nhân danh Nhà nước áp dụng đối với người có lỗi trong việc thực hiện tội phạm và thể hiện ở việc tước đoạt hoặc hạn chế các quyền và lợi ích do pháp luật quy định đối với người bị kết án [38, tr. 6 Nhìn chung, hình phạt là biện pháp cưỡng chế Nhà nước đặc biệt đảm bảo cho Luật hình sự thực hiện được nhiệm vụ đấu tranh phòng ngừa và chống tội phạm, bảo vệ các quan hệ xã hội khỏi sự xâm hại của những hành vi phạm tội.
Nhưng hình phạt không thể ảnh hưởng trực tiếp đến những điều kiện và nguyên nhân làm phát sinh tội phạm. Hình phạt với nội dung là sự hạn chế hoặc tước bỏ một số quyền và lợi ích hợp pháp của người phạm tội, có những tác động nhất định đến người phạm tội cũng như các thành viên khác trong xã hội theo những hướng khác nhau tùy thuộc vào việc hình phạt được quy định và được áp dụng như thế nào. Luật hình sự đòi hỏi những tác động như vậy của hình phạt phải đạt được những kết quả hay mục đích nhất định. Luật hình sự Việt Nam, đã khái quát vấn đề mục đích của hình phạt qua quy định cụ thể tại Điều 27 Bộ luật Hình sự năm 1999 như sau: “Hình phạt không chỉ nhằm trừng trị người phạm tội mà còn giáo dục họ trở thành người có ích cho xã hội, có ý thức tuân theo pháp luật và các quy tắc của cuộc sống xã hội chủ nghĩa, ngăn ngừa họ phạm tội mới.
Hình phạt còn nhằm giáo dục người khácLuận tôn trọng văn thạc pháp luật, sĩ Luật đấu tranh học phòng ngừa và chống tội phạm” [19]. - Khái niệm hình phạt bổ sung Cũng như khái niệm về hình phạt, khái niệm hình phạt bổ sung có nhiều quan niệm khác nhau như PGS. Trần Văn Độ cho rằng: "Hình phạt bổ sung là hình phạt được áp dụng kèm theo hình phạt chính nhằm tăng cường hiệu quả của việc áp dụng hình phạt, đáp ứng mục đích cải tạo, giáo dục người phạm tội, phòng ngừa chung và phòng ngừa riêng" [12, tr. Uông Chu Lưu thì quan niệm: "Hình phạt bổ sung là biện pháp cưỡng chế của nhà nước được quy định trong Bộ luật hình sự, do Tòa án áp dụng đối với người phạm tội, phản ánh sự đánh giá của nhà nước về hành vi phạm tội và người đã thực hiện hành vi đó" [35, tr.
Võ Khánh Vinh lại định nghĩa: "Hình phạt bổ sung là hình phạt được bổ sung thêm vào hình phạt chính và không được tuyên độc lập mà chỉ có thể tuyên kèm theo một hình phạt chính. Tùy theo từng trường hợp cụ thể của vụ án, kèm theo một hình phạt chính, Tòa án có thể tuyên một hoặc vài hình phạt bổ sung" [37, tr. 7 Như vậy, có thể nhìn nhận rằng căn cứ vào cách thức áp dụng hình phạt, căn cứ vào đặc điểm, hình thức của hình phạt ta có thể xác định được HPBS. Tuy nhiên, cũng cần phải thấy rằng ngoài việc xem xét khái niệm, đặc điểm, đặc trưng chung của hình phạt như đã nêu trên cũng cần phải làm rõ được tính chất, vai trò riêng biệt của HPBS, bởi vì sự hiện diện của HPBS trong hệ thống hình phạt là do vị trí,vai trò và cách thức tác động của nó quyết định.
Trong khoa học LHS hiện đại, đa số các nhà khoa học pháp lý đều cho rằng hệ thống hình phạt là một chỉnh thể gồm nhiều loại hình phạt được quy định trong LHS và được sắp xếp theo trình tự nhất định. Các hình phạt, do có cùng vai trò, chức năng, nhiệm vụ và mục đích chung, nên chúng liên kết chặt chẽ với nhau trong hệ thống hình phạt. Tuy vậy, mỗi loại hình phạt lại có những đặc điểm, nội dung, phạm vi điều chỉnh, điều kiện áp dụng riêng biệt. Chính sự khác nhau này làm cho hệ thống hình phạt có tính đa dạng, bảo đảm khả năng phân hóa và cá thể hóa hình phạt và suy cho cùng là đảm bảo thực hiện được hiệu quả của chính sách hình sự (CSHS) của nhà nước trong từng giai đoạn Luận phát triển của đất nước.
văn thạc sĩ Luật học - Phân biệt hình phạt bổ sung với các hình thức trách nhiệm hình sự khác Trên cơ sở phân tích bản chất, đặc điểm, vai trò của các hình thức trách nhiệm hình sự khác, có thể thấy rằng các hình thức trách nhiệm hình sự khác cũng là những biện pháp cưỡng chế của nhà Nước được quy định trong BLHS do Tòa án áp dụng đối với chính người đã thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội nhằm phòng ngừa những tội phạm trong tương lai mà họ có thể phạm vì tình trạng nhân thân của họ. Bộ luật hình sự Việt Nam hiện hành quy định 06 hình thức trách nhiệm hình sự khác được gọi là các biện pháp tư pháp như: Tịch thu vật, tiền trực tiếp liên quan đến tội phạm; trả lại tài sản, sửa chữa hoặc bồi thường thiệt hại; buộc công khai xin lỗi; bắt buộc chữa bệnh; giáo dục tại xã, phường, thị trấn; đưa vào trường giáo dưỡng. Tuy nhiên, BLHS năm 2015 đã sửa đổi, bổ sung, đối với người phạm tội chỉ quy định 03 hình thức gồm: tịch thu vật, tiền trực tiếp liên quan đến tội phạm; trả lại tài sản, sửa chữa hoặc bồi thường thiệt hại; buộc công khai xin lỗi; bắt buộc chữa 8 bệnh; còn đối với pháp nhân phạm tội có 04 hình thức: Tịch thu vật, tiền trực tiếp liên quan đến tội phạm; trả lại tài sản, sửa chữa hoặc bồi thường thiệt hại; buộc công khai xin lỗi; khôi phục lại tình trạng ban đầu; thực hiện một số biện pháp nhằm khắc phục, ngăn chặn hậu quả tiếp tục xảy ra [4, tr. Qua so sánh, đối chiếu giữa HPBS với hình thức trách nhiệm hình sự khác, bản thân nhận thấy giữa chúng có những đặc điểm chung cơ bản sau: - Đây là những biện pháp cưỡng chế hình sự được quy định trong BLHS, khi áp dụng HPBS hay áp dụng các hình thức trách nhiệm hình sự khác đều phải tuân thủ các nguyên tắc của BLHS.
- Các hình thức trách nhiệm hình sự khác cũng là các biện pháp cưỡng chế của nhà nước (khác với các biện pháp trợ giúp xã hội chỉ được áp dụng với sự đồng ý của đương sự) được áp dụng cho chính cá nhân người có hành vi nguy hiểm cho xã hội. - Giống với HPBS, các hình thức trách nhiệm hình sự khác do Tòa án áp dụng với chính Luận cá nhân cụvăn thạc thể thực sĩ Luật hiện hành vi nguy học hiểm cho xã hội theo trình tự, thủ tục chặt chẽ do Bộ luật tố tụng hình sự (BLTTHS) quy định. Tuy nhiên, giữa HPBS và các hình thức trách nhiệm hình sự khác cũng có những điểm khác nhau cơ bản. Sự khác nhau giữa các biện pháp này có thể nhận thấy như sau: - Khác nhau về cơ sở pháp lý cho việc áp dụng: Chẳng hạn việc áp dụng HPBS là hành vi nguy hiểm cho xã hội được LHS quy định là tội phạm, còn cơ sở pháp lý cho việc áp dụng các hình thức trách nhiệm hình sự khác là bao quát hơn, nó có thể là hành vi nguy hiểm cho xã hội được LHS quy định là tội phạm, hoặc không phải là tội phạm.
- Khác nhau về đối tượng áp dụng: HPBS chỉ có thể được áp dụng với người đã thực hiện một tội phạm được quy định trong LHS. Trong khi đó các hình thức trách nhiệm hình sự khác có thể được áp dụng với người đã thực hiện một tội phạm được quy định trong LHS và phải hoặc không phải chịu TNHS và hình phạt, nhưng nó cũng có thể được áp dụng với người đã thực hiện hành vi khách quan nguy hiểm 9 cho xã hội nhưng không đủ yếu tố cấu thành tội phạm và người đó không phải chịu TNHS. - Khác nhau về cách thức áp dụng: HPBS không được áp dụng độc lập đối với mỗi tội phạm cụ thể mà chỉ được áp dụng bổ sung cho HPC và không được áp dụng với tất cả các tội phạm được quy định trong LHS; HPBS được quy định dưới dạng bắt buộc áp dụng hoặc tùy nghi. Tòa án có thể áp dụng một hoặc nhiều HPBS kèm theo HPC.
Còn các hình thức trách nhiệm hình sự khác lại không được quy định cho từng tội phạm trong điều luật về tội phạm cụ thể, nó có thể được áp dụng bên cạnh HPC và (hoặc) HPBS, nhưng cũng có thể được áp dụng độc lập, không phụ thuộc vào hình phạt. Một người có thể phải chịu nhiều biện pháp cưỡng chế hình sự khác. - Khác nhau về mục đích của việc áp dụng: HPBS có mục đích giáo dục, cải tạo người phạm tội và phòng ngừa tội phạm. Trong khi đó các hình thức trách nhiệm hình sự khác có mục đích là nhằm phòng ngừa tội phạm [35, tr.